Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP phát triển nhà tp HCM chi nhánh hà nội

- Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức tín dụng mà người sử dụng vốn phải
có tài sản hoặc người bảo lãnh đứng ra, bảo đảm chịu trách nhiệm và bồi
thường cho ngân hàng trong trường hợp người vay không trả được nợ.
- Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng hoàn toàn dựa trên
quan hệ và sự tin tưởng lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng, không có gì
cam kết người đi vay sẽ trả nợ, do vậy tín dụng không có đảm bảo thường chỉ
được cấp cho một số đối tượng đặc biệt hoặc trong một số trường hợp.
• Tín dụng xét theo xuất xứ của tín dụng:
- Tín dụng gian tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung gian tài
chính, một ngân hàng thương mại khác.
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức mà tín dụng được cấp trực tiếp giữa ngân
hàng và người đi vạy, không qua một tổ chức trung gian nào khác.
Ngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì tín dụng càng đóng một
vai trò quan trọng trong việc lưu thông, điều chuyển vốn trong thị trường tài
chính.
1.1.2.3. Hoạt động đầu tư tài chính
Trên thị trường tài chính, các ngân hàng thương mại đóng vai trò là những
trung gian tài chính, hoạt động rất năng động và đa dạng. Ngoài nghiệp vụ tín
dụng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng, còn một khoản
mục khác được đánh giá là nguồn quan trọng thứ hai, đồng thời có liên quan và
hỗ trợ, bổ sung cho khả năng sinh lời của các nghiệp vụ cho vây, đó là khoản
mục chứng khoán. Ngân hàng tham gia vào thị trường chứng khoán dưới nhiều
hình thức, thực hiện hoạt động đầu tư tài chính với mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận, nâng cao khả năng thanh toán và đa dạng hóa tài sản, hoạt động kinh
doanh nhằm phân tán rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại tiến hành nghiệp vụ đầu tư tài chính dưới 2 hình
thức cơ bản: đầu tư chứng khoán và liên doanh liên kết.
- Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán: Trên thị trường chứng khoán có rất nhiều
chủ thể tham gia, trong đó ngân hàng thương mại với vai trò trung gian tài
chính hay chủ thể phát hành là một chủ thể hết sức quan trọng. Ngoài ra, ngân
5
hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư chứng khoán với tư cách là một nhà đầu
tư chuyên nghiệp, mua đi bán lại các chứng khoán để kiếm lời.
Trong nghiệp vụ đầu tư chứng khoán, ngân hàng thương mại thường đầu tư
vốn vào 2 loại chứng khoán chủ yếu có kỳ hạn dài là chứng khoán do chính
phủ hay chính quyền địa phương phát hành và chứng khoán do các công ty, xí
nghiệp phát hành.
Đầu tư vào chứng khoán do Nhà nước phát hành thường thu được lợi nhuận
thấp, song hầu như không có rủi ro, do Nhà nước luôn có nguồn đảm bảo khả
năng thanh toán lớn nhất là thuế và quyền lực phát hành, đồng thời có tính
thanh khoản cao. Trong khi đó, chứng khoán do các công ty phát hành thường
cho lợi nhuận cao hơn, nhưng mức độ an toàn thì thấp hơn. Các ngân hàng
thường giữ loại chứng khoán công ty này để hưởng thu nhập hàng năm.
- Liên kết liên doanh: Trên thị trường tài chính, khi thực hiện nghiệp vụ tài
chính, các ngân hàng thương mại ngoài việc đầu tư chứng khoán bằng cách
mua trái phiếu, cổ phiếu do các công ty và chính phủ phát hành, còn có thể
thực hiện các mục tiêu chung của mình thông qua hình thức liên doanh liên kết
vốn với các xí nghiệp, công ty.
Các công ty, xí nghiệp lớn khi mới thành lập thường phát hành cổ phiếu để
kêu gọi vốn, và trước hết là từ những cổ đông sáng lập. Với tư cách là một
thành viên hùn vốn, ngân hàng thương mại có thể đứng ra mua cổ phiếu cho
chính mình, trở thành thành viên sáng lập hay góp vốn kinh doanh. Cùng với
hoạt động đó, ngân hàng có thể cử người tham gia vào ban quản trị.
1.1.2.4. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống, trong điều kiện cạnh tranh
gay gắt, các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng và ngày càng chú trọng vào các
dịch vụ tiện ích nhằm thu hút khách hàng. Trong đó, dịch vụ thanh toán và
ngân quỹ là những lĩnh vực dịch vụ ngày càng được các ngân hàng chú trọng
phát triển cả về quy mô, số lượng và chất lượng.
*) Dịch vụ thanh toán
Thông qua hệ thống thanh toán của ngân hàng, khách hàng đã có thêm một
phương tiện giao dịch nhanh gọn và an toàn. Ngân hàng đã không ngừng cải
6
tiến đưa ra ngày càng nhiều hình thức thanh toán thuận tiện cho khách hàng
như séc, thư tín dụng, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi và thanh toán qua thẻ…
- Séc là tờ lệch trả tiền vô điều kiện của chủ tài khoản ký phát, ra lệnh cho
ngân hàng trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người
được chỉ thị có tên ghi trên séc hoặc người cầm séc.
- Thư tín dụng được dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán
đòi phải có đủ tiền để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền đã giao theo hợp
đồng hoặc đơn đặt hàng đã ký.
- Ủy nhiệm thu: là giấy đòi tiền do người thụ hưởng lập gửi cho ngân hàng
để nhờ ngân hàng thu hộ tiền hàng hóa dịch vụ đã cung ứng.
- Ủy nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng trích
tiền từ tài khoản của mình chi trả cho người thụ hưởng.
- Thẻ thanh toán: là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do ngân
hàng phát hành phục vụ cho khách hàng chủ yếu trong lĩnh vức thanh toán phi
mậu dịch. Khách hàng có thể thanh toán qua thẻ, rút tiền tại máy, giao dịch…
Không chỉ dừng lại ở những dịch vụ thanh toán trong nước, ngày nay ngân
hàng đã mở rộng liên kết với các ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu
thanh toán nước ngoài của khách hàng. Các phương tiện thanh toán cũng bao
gồm thương phiếu, séc, thẻ thanh toán và phương tiện thanh toán chủ yếu
thông qua thanh toán tín dụng chứng từ, nhờ thu, mở tài khoản và phương thức
chuyển tiền…
*) Dịch vụ ngân quỹ
Dịch vụ ngân quỹ của ngân hàng bao gồm dịch vụ thu tiền và dịch vụ phát
tiền. Dịch vụ này đảm bảo tính thanh khoản và sự lưu thông tiền trong ngân
quỹ của ngân hàng.
Dịch vụ thu tiền được thực hiện trên cơ sở khách hàng nộp tiền vào ngân
hàng, thông thường là khách hàng đến gửi tiền, trả nợ tiền vay, lãi vay hoặc
nộp tiền nhờ ngân hàng thanh toán…
Dịch vụ phát tiền tương ứng với việc lĩnh tiền của khách hàng. Thông
thường khách hàng đến lĩnh tiền trong trường họp rút vốn tiền gửi, lĩnh lãi tiền
gửi, nhận tiền vay, rút tiền mặt chi tiêu…
7
1.1.2.5. Các hoạt động khác
Bên cạnh những hoạt động chính như huy động vốn và tín dụng thì ngân
hàng còn cung cấp cho khách hàng một số dịch vụ khác đi kèm nhằm đa dạng
hóa các hoạt động của mình và đáp ứng được mọi yêu cầu cần thiết của khách
hàng. Có rất nhiều dịch vụ được ngân hàng cung cấp như:
- Dịch vụ ủy thác: là dịch vụ quản lý tài sản được thực hiện dưới nhiều hình
thức và cách sắp xếp khác nhau. Dịch vụ ủy thác có thể được chia thành 3 lĩnh
vực chính: việc ấn định tài sản, việc điều hành dịch vụ ủy thác, giám hộ tài sản
và hoạt động của các cơ quan đại diện.
- Dịch vụ tư vấn: là việc ngân hàng cung cấp cho khách hàng những lời khuyên
tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về lĩnh vực mà khách hàng yêu cầu. Qua
đó họ xây dựng được những phương án kinh doanh tối ưu, có những quyết
định đúng, kịp thời trong đầu tư, sản xuất từ đó giảm thiểu được rủi ro và đạt
được lợi nhuận tối đa.
- Dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo quản ký gửi, nghiệp vụ ngân hàng trên thị
trường chứng khoán đây là những hoạt động phức tạp và đòi hỏi cần chuyên
sâu vì vậy các ngân hàng thường lập các công ty con hoạt động chủ yếu trong
lĩnh vực này.
1.1.3. Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, nó chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản,
tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động chứa đừng nhiều rủi ro nhất.
Theo Luật các tổ chức tín dụng Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt
Nam điều 49 ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, các nhân
dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác,
bảo lãnh cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng
Nhà nước”.
Như vậy tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và ngân
hàng trong đó ngân hàng nhượng quyền sử dụng vốn cho người đi vay trên
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định.
Các hình thức cấp tín dụng truyền thống được ngân hàng cung cấp:
8
1.1.3.1. Hoạt động chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại, là một giấy nợ phát sinh
trong quan hệ thương mại, dùng để xác nhận cho người cầm nó một trái quyền
ngắn hạn về tiền đối với người thụ lệnh khi giấy nợ đến hạn.
Thương phiếu là giấy tờ có giá, là chứng chỉ công nhận quyền hạn về tìa
sản nhất định cho người sở hữu hợp pháp thương phiếu. Có khả năng chuyển
nhượng dễ dàng, có tính đảm bảo cao khả năng thanh toán của thương phiếu
tương đối chắc chắn.
Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân
hàng, trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những thương phiếu
chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng để nhận về một khoản tiền bằng mệnh
giá trừ đi lợi tức và hoa hồng phí.
Số tiền ngân hàng cho khách hàng:
T = M – [ M*i*t +H1 +H2 ]
Trong đó: M: Mệnh giá của thương phiếu
i: Lãi suất chiết khấu
t: Thời hạn chiết khấu
H1: Hoa hồng phí phụ thuộc theo thời gian
H2: Hoa hồng cố định
Ngân hàng chỉ chấp nhận chiết khấu các thương phiếu:
- Còn thời hạn thanh toán theo quy định của ngân hàng Nhà nước
- Phải hợp lệ về mặt hình thức và nội dung.
- Đối với hối phiếu phải có chữ ký chấp nhận của người
- Khách hàng phải chuyển nhượng quyền sở hữu cho ngân hàng dưới hình
thức ký hậu.
Đến thời hạn thanh toán thương phiếu ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ của
người có trách nhiệm thanh toán thương phiếu. Nếu người này không thanh
toán ngân hàng sẽ có 2 cách xử lý:
- Thu hồi tiền từ người xin chiết khấu, trả lại thương phiếu cho họ đòi nợ.
- Tiến hành thủ tục tố tụng để truy đòi số nợ.
Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu cũng có nhiều ưu điểm:
9
- Chiết khấu là nghiệp vụ ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ là khá chắc chắn.
- Là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức đối với ngân hàng.
- Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn chiết
khấu thường ngắn dưới 90 ngày và ngân hàng có thể dễ dàng xin tái chiết khấu
thương phiếu ở ngân hàng Trung ương.
- Tiền của khách hàng khi chiết khấu thường được chuyển vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng bởi vậy nó tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng.
Bên cạnh đó ngân hàng vẫn có thể gặp rủi ro trong nghiệp vụ chiết khấu
khi:
- Ngân hàng chiết khấu các thương phiếu giả mạo.
- Người chịu trách nhiệm thanh toán mất khả năng thanh toán trước khi
thương phiếu đến hạn.
1.1.3.2. Hoạt động cho vay
Đây được coi là hoạt động mạnh nhất, đa dạng nhất trong các nghiệp vụ tín
dụng được ngân hàng cung cấp. Với nhiều hình thức cho vay đa dạng phù hợp
với mọi đối tượng khách hàng.
*) Cho vay thấu chi
Thấu chi là loại tín dụng mà qua đó ngân hàng cho phép người vay được
chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và
trong khoảng thời gian xác định. Hạn mức này được gọi là hạn mức thấu chi.
Trong quá trình hoạt động khách hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi…
vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (vẫn nằm trong hạn mức thấu chi). Khi khách
hàng có tiền nhập về tài khoản ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Số tiền lãi mà khách hàng phải trả:
= lãi suất thấu chi * thời gian thấu chi * số tiền thấu chi
Ưu điểm của hình thức này
- Đây là hình thức vay tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá
trình thanh toán, chủ động, nhanh và kịp thời.
- Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt thủ tục đơn giản không gây
phiền hà nhiều cho khách hàng.
Bên cạnh đó nhược điểm của hình thức cấp tín dụng này:
10
- Ngân hàng luôn phải dự trữ vốn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
khi họ còn hạn mức.
- Đây là hình thức cấp tín dụng không có đảm bảo, ngân hàng cũng không
kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng vì vậy rủi ro tín
dụng đối với khoản vay là rất lớn.
Vì vậy ngân hàng chỉ cấp tín dụng theo hình thức này với những khách
hàng quen thuộc, có uy tín và ngân hàng có ý muốn giúp đỡ.
*) Cho vay trực tiếp từng lần
Là hình thức cho vay tưong đối phổ biến đối với các khách hàng không có
nhu cầu vay vốn thường xuyên, khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ
yếu, khi có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất thì mới vay vốn ngân hàng.
Mỗi lần vay khách hàng phải trình ngân hàng phương án sự dụng vốn, ngân
hàng sẽ xem xét có quyết định cho vay hay không. Theo từng kỳ hạn nợ trong
hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Lãi suất cho hình thức tín dụng này có
thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối
đơn giản, tuy nhiên mỗi lần xin vay khách hàng phải làm đơn và trình phương
án vay vì vậy ngân hàng dễ dàng có thể kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay
của khách và hạn chế rủi ro cho khoản tín dụng.
*) Cho vay theo hạn mức
Là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng
hạn mức tín dụng. Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối
đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở nhu cầu vốn và
nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh
doanh, tốc độ luẩn chuyển vốn tín dụng nhanh.
Ngân hàng không xác định trước kỳ hạn nợ và thời hạn tín dụng, khi khách
hàng có thu nhập ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo tính chủ động trong quản lý
ngân quỹ của khách hàng. Tuy nhiên ngân hàng khó có thể kiểm soát được
hiệu quả sử dụng vốn vay của khách hàng. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn
đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm sút. Vì
11
vậy hình thức cấp tín dụng này chỉ cấp cho các khách hàng có tín nhiệm với
ngân hàng trong quan hệ tín dụng, vay vốn và trả nợ sòng phẳng.
*) Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. Doanh nghiệp
khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ
thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Người vay cam kết mọi khoản thu bán hàng
đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi trả thanh toán cho nhà cung
cấp và lúc này các khoản phải thu, hàng hóa trong kho trở thành vật đảm bảo
cho khoản vay.
Rủi ro chỉ đến với ngân hàng khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc
tiêu thụ và khi đó kéo theo khó khăn trong việc thu hồi vốn của ngân hàng.
*) Cho vay trả góp
Là hình thức tín dụng, thoe đó ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm
nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Đây là hình thức tín dụng tài
trợ nhắm khuyến khích tiêu thụ hàng hóa. Thường áp dụng đối với khoản vay
trung và dài hạn tài trợ cho tài sản cố định, cho hàng hóa lâu bền.
Cho vay trả góp thường có rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng
chính hàng hóa mua trả góp đó. Rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường
là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
*) Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho
vay thông qua các nhóm sản xuất, hội Nông dân, hội Cựu chiến binh, hội Phụ
nữ… Tổ chức trung gian này đứng ra tín chấp cho các thành viên vay vốn hoặc
bảo lãnh cho các thành viên. Điều này tạo thuận tiền cho những người vay khi
họ không có hoặc không đủ tài sản thế chấp.
Ngân hàng có thể nhờ các tổ chức trung gian này thực hiện vài khâu trong
quá trình cho vay như thu nợ hay phát tiền… Cho vay qua trung gian tài chính
thường áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ. Cho vay qua trung
gian nhằm giảm bớt rủi ro, cho phí cho ngân hàng. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ
nhiều yếu điểm như nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của mình để tăng lãi
suất cho vay, giữ tiền của các thành viên khác sử dụng cho mục đích của mình.
12
1.1.3.3. Hoạt động cho thuê tài chính
Là hình thức tín dụng trung và dài hạn. Ngân hàng mua tài sản về cho
khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ giá trị của tài
sản cho thuê cộng lãi. Hết hạn thuê khách hàng có thể mua lại tài sản đó. Theo
phương thức này người thuê được sử dụng tài sản mà mình cần trên cơ sở đi
thuê, không phải bỏ vốn mua mà chỉ phải chi tiền thuê tài sản hàng kỳ cho
ngân hàng.
Đối với ngân hàng cũng giống như một khoản vay thông thường ngân hàng
xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau một thời hạn nhất định. Khách
hàng phải trả gốc và lãi dưới hình thức tiền thuê hàng kỳ. Ngân hàng cũng đối
đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh không hiệu quả, không trả tiền thuê
đầy đủ và đúng hạn. Tuy nhiên thuê có nhiều điểm khác so với vay. Tài sản
cho thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng.
Tài sản vốn dưới hình thức tín dụng cho thuê tài chính đối với bên thuê mặc
dù giá thường đắt hơn song có nhiều điểm thuận lợi:
- Nó cho phép bên thuê được nhận một khoản tài trợ là 100% các khoản
đầu tư và tiết kiệm được việc sử dụng vốn tự có của mình.
- Nó không đè nặng lên bảng tổng kết tài sản và nó cho phép duy trì hay ít
ra không làm năng thêm năng lực đi vay.
- Nhờ việc đi thuê doanh nghiệp có khả năng đổi mới thường xuyên hơn về
tài sản, tránh lạc hậu, thỏa mãn các cơ hội kinh doanh.
Ngân hàng phải có trách nhiệm cung cấp đúgn các tài sản àm khách hàng
cần và đảm bảo về chất lượng tài sản đó. Nó thường là tài sản đặc chủng, khó
bán, nếu khách hàng không thuê nữa ngân hàng khó có thể thu hồi được chi
phí. Đây là tài sản đi thuê do đó nhiều doanh nghiệp sử dụng không giữ gìn và
bảo tu cẩn thận làm hư hỏng tài sản của ngân hàng vì vậy để giảm thiểu rủi ro
trong bất cứ trường hợp nào ngân hàng cũng cần giữ quyền sở hữu đối với tài
sản cho thuê, thường xuyên kiểm tra và ngân hàng có quyền thu hồi nếu thấy
người thuê không thực hiện đúng hợp đồng.
13
1.1.3.4. Hoạt động bảo lãnh
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo
lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng
khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín. Ngân hàng không phải xuất
tiền ngay khi bảo lãnh, mà chỉ phải xuất tiền khi khách hàng không thực hiện
được cam kết. Bảo lãnh được coi như tài sản ngoại bảng và khi ngân hàng
đứng ra trả nợ thay cho khách hàng thì khoản chi trả này được xếp vào tài sản
xấu trong nội bảng cấu thành nợ quá hạn. Vì vậy bảo lãnh cũng chứa đựng các
rủi ro như một khoản cho vay và đòi hỏi ngân hàng phân tích khách hàng như
khi cho vay.
Bảo lãnh ngân hàng là một mối liên kết trách nhiệm về tài chính giúp san sẻ
rủi ro cho khách hàng. Bảo lãnh góp phần giảm bớt thiệt hại tài chính cho bên
thứ ba khi tổn thất xảy ra.
Có rất nhiều các hình thức bảo lãnh được ngân hàng cung cấp nhưng chủ
yếu bao gồm:
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu
tư về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu có vi phạm các
quy định trong hợp đồng dự thầu.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn
thất hộ khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam
kết, gây tổn thất cho bên thứ ba.
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước: là cam kết của ngân hàng sẽ
hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua nếu bên cung cấp không hoàn trả.
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay: là cam kết của ngân hàng đối với
người cho vay về việc trả gốc và lãi thay nếu khách hàng của ngân hàng không
trả được.
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh
toán tiền theo hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của
ngân hàng không thanh toán đủ…
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét