Có người khi còn bé chứng kiến bạo lực xảy ra giữa bố mẹ rồi cho sự
hành hung vợ là chuyện bình thường trong mọi hôn nhân.
Ngoài ra một trong những nguyên nhân của sự gia tăng bạo lực là do
vấn đề này còn chưa được các địa phương quan tâm. Họ nghĩ rằng đó là
chuyện riêng của mỗi nhà, không thuộc chức năng, nhiệm vụ giải quyết của
chính quyền. Có những cán bộ tư pháp đã hồn nhiên nói với cán bộ phụ nữ
rằng, xung đột gia đình là điều bình thường, chồng có tát vợ một đôi cái
cũng không sao. Xung đột gia đình chỉ nên tự giải quyết trong gia đình, và
chín bỏ làm mười cho gia đình trong ấm ngoài êm. Chỉ những người không
biết suy nghĩ mới đi trình báo chính quyền.
Hậu quả sự bạo hành
Nạn nhân của bạo hành sẽ mang những thương tích về thể chất cũng
như giao động về tinh thần.
Trên người có nhiều vết bầm, vết sẹo trên da, những gẫy xương, thương
tích trong miệng, dưới cơ quan sinh dục. Có nạn nhân bị hư thai, sanh non
hoặc mang thai ngoài ý muốn sau khi bị hành hiếp hay đau yếu lặt vặt như
nhức đầu, đau mình, rối loạn tiêu hóa.
Về tinh thần, họ trở nên hoảng sợ, thiếu tự tin, thụ động, buồn rầu, lo
nghĩ. Nhiều khi họ tự trách mình đã gây ra những lỗi lầm với chồng cho nên
mới có chuyện. Nhiều người nói là cái đau về thể xác thì có thể chịu đựng
được nhưng cái đau tinh thần thì quá mãnh liệt, họ không kham nổi nên đôi
khi đưa đến tìm quên trong rượu chè, hút xách. Họ thường là thân chủ trung
thành của phòng cấp cứu hay bác sĩ gia đình.
Ngoài ra bạo hanh trong gia đinh còn để lại hậu quả của nó với những
đứa trẻ được sinh ra trong gia đình có bạo hành.
Ảnh hưởng của bạo hành lên sức khoẻ, tinh thần và nhân cách của trẻ
Bạo hành trước hết ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất của trẻ
hoặc nguy hại hơn, khiến trẻ có thể bị nguy hiểm đến tính mạng, trẻ không thể
phát triển về thể chất một cách bình thường. Bạo hành chẳng khác nào những
5
chỉ dẫn sai, khắc dấu ấn rất tiêu cực lên sự phát triển của não. Vì thế, đứa trẻ
khi trưởng thành mất cân đối cả về thể lý lẫn tâm lý. Hậu quả về thể lý xảy ra
ngay nhưng lại dễ chữa lành. Còn những hậu quả tâm lý thường để lại những
vết khắc lâu dài, thậm trí suốt cuộc đời của trẻ.
B>Trong những năm gần đây, tình trạng tội
phạm trẻ tuổi vị thành niên có chiều hướng gia tăng.
Chúng không còn đơn giản là bồng bột thiếu suy nghĩ
mà có sự tính toán, chuẩn bị hết sức kỹ càng, thậm chí
còn lập các băng nhóm hoạt động liều lĩnh.
Và không ít trong số những tội phạm trẻ đó đều có tuổi thơ và hoàn
cảnh gia đình éo le, chịu sự bạo hành dai dẳng từ người cha hoặc mẹ.
Yếu tố gia đình luôn quan trọng và tác động mạnh đến nhận thức và hành vi
phạm tội của tội phạm trẻ, các em sẽ có bản tính hung hãn, tự kỷ nếu thường
xuyên phải chịu những trận đòn roi của mẹ hoặc cảnh cha say rượu tan hoang
cửa nhà.Ví dụ như trường hợp của Nguyễn Minh V (18 tuổi) quê ở Phú Thọ
mới lên Hà Nội học nghề sửa chữa điện tử được 3 tháng đã bỏ học, tập hợp
đám bạn cùng dãy trọ lập băng nhóm chuyên trấn lột, chặn đường hăm dọa
các em học sinh để cướp tiền và đồ trang sức. Khi bị tố cáo và bị bắt V vẫn
nhâng nháo cứng đầu và trở nên lỳ lợm hằn học với tất cả mọi người.
Tìm hiểu về quê quán gia đình của V các cán bộ điều tra mới hiểu rõ
phần nào hoản cảnh của tên tội phạm. Gia đình V chỉ có hai anh em và V là
anh cả, bố mẹ ly dị mỗi người một ngả bỏ mặc hai anh em sống chung với gia
đình người chú giầu có.
Ông chú tính tình cộc cằn luôn nhiếc móc đay nghiến hai anh em V “ăn
hại” và thường xuyên xử phạt bằng đòn roi dù chỉ là đi chơi quá giờ hay trong
nhà mất mát thứ gì nhưng không rõ nguyên do. Càng bị đánh đau V càng trở
nên chai lỳ, thô bạo và thù hận với mọi người xung quanh, tốt nghiệp cấp 3
6
xong được hai tuần V quyết dứt áo lên Hà Nội để tìm đường “trả thù” người
chú cay nghiệt
Đó là với V, còn hoàn cảnh của Thu Huệ (quê Thái Bình) từ bé đã sống
trong cảnh thiếu thốn do mẹ chỉ gánh rau bán chợ, còn cha là công nhân cầu
đường nghỉ mất sức sớm nhưng thường xuyên nhậu nhẹt rồi về nhà đánh chửi
mẹ con cô đến tàn bạo. Tận mắt chứng kiến những cảnh đòn roi hung hãn của
người cha, Huệ từ một cô bé trong trẻo đã trở thành cô gái u uất, ít tiếp xúc
với mọi người.
Huệ mất niềm tin vào cuộc sống và đã nhiều lần tự cắt tay, tự tử hành
hạ bản thân. Để rồi khi gặp tên ma cô lừa đảo ngon ngọt dụ dỗ cô đi đến miền
đất hứa là thành phố để làm ăn và thoát khỏi cảnh khổ nhục này. Huệ khăn
gói bỏ nhà đi để rồi nhanh chóng bị tiêm nhiễm rượu chè, ma túy và có thai ở
tuổi vị thành niên rồi trở thành gái mại dâm. Huệ mắc vào đường dây buôn
ma túy và trở thành mắt xích chuyển hàng do không thoát khỏi ảo vọng do ma
túy đem lại.
Khi bị bắt Huệ chỉ còn biết khóc nấc lên nghẹn lời bởi thương người
mẹ lam lũ ở quê chỉ có mình cô là con, và mất đi niềm hy vọng cuối cùng bởi
bản án nghiêm khắc 30 năm tù giam dành cho Huệ khi mới chớm bước sang
tuổi 22.
Hầu hết người phạm tội thuộc lứa tuổi vị thành niên thường sinh ra và lớn lên
trong điều kiện thiếu sự quan tâm chăm sóc chu đáo từ phía gia đình hoặc
chịu sự tác động tiêu cực từ môi trường xung quanh. Một gia đình luôn có
những xung đột, những màn bạo hành thô bạo, chửi bới xỉ vả nhau hoặc sự
lạnh nhạt giữa bố mẹ cũng làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý phát triển của các
em.
Ngay bản thân những người lớn trong gia đình không có quan điểm
giáo dục thống nhất như: Bố nghiêm khắc thường xuyên đánh đòn, còn mẹ lại
chỉ trích nhiếc móc suốt ngày cũng là nguyên nhân rối loạn tâm lý của trẻ vị
thành niên. Biện pháp giáo dục bằng đánh đập thô bạo không phải là biện
7
pháp tốt, thậm chí đây là nguyên do dẫn đến các trạng thái tâm lý phản ứng
tiêu cực, hung hăng, liều lĩnh của các em.
Kiềm chế các em bằng kỷ luật hà khắc hay sự vô tâm của cha mẹ lại
đẩy các em tới chỗ tách biệt thụ động với bên ngoài và khi gặp được sự gợi ý
từ những kẻ xấu các em dễ bị hư hỏng, phạm tội
Thực trạng bạo hành trong gia đình ở Việt Nam và trên thế giới
Các kết quả khảo sát cho thấy, trong số các vụ bạo hành gia đình thì có
đến 97% là nam giới đánh phụ nữ. Những phụ nữ này không chỉ tập trung ở
tầng lớp lao động chân tay, công nhân, nông dân mà còn có cả ở tầng lớp trí
thức. Theo nghiên cứu của các dự án chống bạo hành trong gia đình mà gần
đây nhất là dự án do tổ chức NOVIB (Hà Lan) tài trợ thì bạo hành không chỉ
là chửi mắng, đánh đập mà được phân làm 3 dạng: thể xác, tinh thần và tình
dục.
Trong số các dạng kể trên, bạo hành thể xác dễ được công an hay các tổ
chức địa phương can thiệp vì có những biểu hiện mà người ngoài cuộc dễ
nhận thấy do dùng sức mạnh gây đau đớn, thương tích, bức tử Thế nhưng
bạo hành về tinh thần và tình dục được xem là tinh vi vì người ngoài cuộc khó
nhận biết cũng như đương sự khó nói.
hầu hết bạo hành tinh thần xảy ra ở các gia đình trí thức, thành thị nhiều hơn
nông thôn. Trong số đàn ông bạo hành thì có đến 1/3 là những người có địa
vị, được kính trọng và nghề nghiệp đàng hoàng. Trình độ học vấn các gia đình
càng cao bao nhiêu thì mức độ bạo hành tinh thần càng nhiều bấy nhiêu.
Riêng đối với bạo hành về tình dục trong thực tế xảy ra khá nhiều nhưng vẫn
còn bị ẩn giấu như một tảng băng chìm và không phải lúc nào cũng bị lên án.
Phần lớn nạn nhân cố chịu đựng, chỉ khi nào đến giai đoạn giáp ranh với việc
ly hôn đối tượng mới lên tiếng, tố cáo.
Từ tháng 10/1998 đến nay, Văn phòng hỗ trợ gia đình của Trung tâm
Tư vấn Tâm lý giáo dục và Tình yêu – hôn nhân – gia đình đã tiếp nhận 1.287
trường hợp bị bạo hành. Trong số này, có 666 trường hợp bạo hành thể xác,
8
585 trường hợp bạo hành tinh thần và 35 trường hợp bạo hành tình dục. Phần
lớn đối tượng bị bạo hành là phụ nữ trong độ tuổi 30-40. Thực tế, những
trường hợp này còn rất nhiều vì chỉ một số ít đối tượng là tìm đến các trung
tâm hoặc chính quyền địa phương. Để khắc phục tình trạng này, không chỉ
bằng cách nâng cao trình độ nhận thức của mọi người, quy định pháp luật cụ
thể (xử phạt hành chính, phạt tiền vẫn chưa là cách giải quyết triệt để) mà cần
một hướng giải quyết nhiệt tâm của chính quyền địa phương, cơ quan chức
năng khi ngăn chặn, xử lý ngay từ đầu những trường hợp có chiều hướng phát
sinh thay vì để sự việc xảy ra, chuyển sang yếu tố tội phạm rồi mới giải quyết.
Về một khía cạnh nào đó cho thấy, chống bạo hành trong gia đình đồng
nghĩa với việc phòng chống tội phạm.
Tại Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới (CSAGA)
hàng năm tư vấn cho rất nhiều phụ nữ là nạn nhân của bạo hành trong gia
đình. Cuộc sống hiện tại của nhiều chị em đang phải chịu nhiều nỗi đau về thể
xác và tinh thần vì vậy mà họ mang nặng tâm lý tự ti, sống thu mình. Từ tâm
thế đó họ thấy mình lạc lõng và cô đơn khi không được sự ủng hộ giúp đỡ của
người thân và những người xung quanh. Có một số người lại nghĩ rằng, bị
đánh đập là điều bình thường, là lỗi tại mình. Sự cam chịu của họ dần dần tiếp
tay cho sự tái phạm của chồng
Chị Sen (Thái Bình) bộc bạch, chồng chị là người học thức, có địa vị
trong xã hội. Song đám cưới ngọt ngào ngày nào nhanh chóng phai mờ khi
chị Sen phải sống trong sự tủi nhục và "tù đày". Chồng chị bắt chị nghỉ làm lo
chuyện gia đình, anh không cho chị đi đâu ngoài việc đi chợ mua thức ăn.
Vốn là một người phụ nữ cam chịu, chị Sen không hề than vãn một lời,
nín nhịn trước những trận đòn vô cớ của chồng để mong có một cuộc sống gia
đình bình yên và không muốn ông xã phải mang tiếng bạo ngược mà ảnh
hưởng địa vị.
Suốt 19 năm chị cam chịu cuộc sống mất quyền làm người. Chị đau
đớn nói: “Trong một lần cáu giận ở cơ quan, anh về nhà mắng mỏ vợ, mình
9
cãi lại. Anh nổi khùng đã khóa cổng và lôi tôi vào trong nhà đánh đập”. Trận
đòn dã man của chồng đã khiến đầu chị bị vỡ chảy bê bết máu, đuôi mắt bị
rách và gãy cột sống.
Một nghiên cứu đầu tiên mang tính toàn cầu về vấn đề bạo hành với
phụ nữ trong gia đình vừa mới công bố, những người phụ nữ sống trong các
nước có nền kinh tế phát triển và trong các vùng nông thôn truyền thống ở các
nước đang phát triển ngày càng bị bạn tình của mình lạm dụng tình dục và
bạo hành về thể chất nhiều hơn.
Nghiên cứu do Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Viện y học lâm sàng và
Vệ sinh (trường Đại học London) và tổ chức y tế toàn cầu PATH phối hợp
thực hiện với khoảng 24,000 phụ nữ từ 10 quốc gia khác nhau tham gia phỏng
vấn. Phát hiện cho thấy, với những phụ nữ đã từng bị bạo hành tình dục và thể
chất bởi bạn tình, chất lượng sức khoẻ của họ chỉ bằng một nửa so với những
người phụ nữ khác. Và dù hiện tượng bạo lực đã chấm dứt thì những ảnh
hưởng sau đó của nó đến sức khoẻ vẫn còn dai dẳng rất lâu.
Lần đầu tiên, nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp phù hợp để đo
tình trạng bạo lực ở nhiều nước khác nhau, vì thế các nhà nghiên cứu có thể
so sánh tình trạng này một cách hợp lý giữa nước này với nước khác. Bà
Mary Robinson, nguyên Cố vấn về Nhân quyền của Liên hợp quốc cho biết:
“Nếu chúng tôi không tiến hành nghiên cứu này, chúng tôi thực sự không thể
biết vấn đề bạo hành do bạn tình gây ra đã lan rộng và trở nên trầm trọng như
thế nào”. Thật không may, vấn đề này lại rất phổ biến và đang trở thành một
trong những nguy cơ trầm trọng nhất ảnh hưởng đến sức khỏe của người phụ
nữ.
Những nước tham gia vào nghiên cứu bao gồm: Brazil, Ethiopia, Nhật
Bản, Namibia, Peru, Samoa, Serbia and Montenegro, Thái Lan, Bangladesh
và Tanzania. Còn khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu không tham gia nghiên cứu này
vì trước đó, tại đây đã có một cuộc nghiên cứu thử nghiệm.
10
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Nhật Bản có khoảng 15% phụ nữ hiện
đang là nạn nhân của bạo hành trong gia đình, trong khi tỉ lệ này ở Ethiopia là
71%. Còn trong nghiên cứu thử nghiệm, con số này ở Mỹ và Thụy Điển là
20%, ở Canada và Anh là 23%.
Theo nhà nghiên cứu Lori Heise của tổ chức PATH, mặc dù nguy cơ bị
bạo hành trong gia đình của người phụ nữ tương đối giống nhau ở nhiều
nước, song phụ nữ tại các nước phát triển ít cảm thấy bị tổn thương và không
đau đớn do bị bạo hành bằng những người phụ nữ ở các nước đang phát triển.
Nghiên cứu cũng thống kê về tỉ lệ những người phụ nữ vừa mới bị bạn
tình bạo hành trong năm vừa rồi, kết quả là 4% ở Nhật, Serbia và Montenegro
so với khoảng từ 30% đến 54% tại Bangladesh, Ethiopia, Peru và Tanzania.
Với những con số trên, các nhà nghiên cứu đã đưa nhận định “có rất
nhiều cách để giải thích cho tỉ lệ phụ nữ bị bạo hành giữa các nước. Có thể đó
là vì ở những nước công nghiệp hoá ít có hiện tượng bạo hành hơn, song cũng
nên cân nhắc giả thuyết rằng những người phụ nữ ở các nước giàu có dễ có
khả năng thoát khỏi những mối quan hệ ràng buộc hơn những người phụ nữ ở
các nước đang phát triển. Tuy nhiên, thực tế cho thấy dù là ở nước có tỉ lệ bạo
hành cao hay thấp thì những tổn thương và ảnh hưởng đến sức khoẻ nạn nhân
cũng đều giống nhau. Dấu vết do bạo lực trong gia đình đã không chỉ còn
dừng lại ở những tổn thương trên thân thế. Nạn nhân ngày càng bị đau đớn,
choáng váng cả về thể chất và về sức khoẻ tâm thần. Rất nhiều phụ nữ bị bạo
hành gia đình nghĩ đến việc tự tử, tìm mọi cách để tự tử, và theo thống kê, số
người bị sảy thai hay bị ép buộc phá thai cũng tăng lên đáng kể.
Kết quả, theo bác sĩ Claudia Garcia-Moreno của WHO - điều phối viên
cho nghiên cứu này: “Nhìn chung, một người phụ nữ đã từng bị bạo hành sẽ
phải chịu những tác động trực tiếp đến sức khoẻ cao hơn từ 1,5 đến 3 lần so
với những người chưa từng bị lạm dụng”.
Sau những phát hiện trên, các nhà nghiên cứu hiện đang nghĩ đến việc
làm thế nào để có thể liên kết được các khu vực với nhau và cùng hành động
11
bảo vệ những nạn nhân của bạo hành trong gia đình. “Dù bạn là phụ nữ theo
chủ nghĩa nào, bạn ở Sao Paolo hay Belgrade, ở nông thôn ở Ethiopia hay
Bangladesh, thì cũng sẽ luôn có một hội liên hiệp hành động về vấn đề bạo
lực và sức khoẻ phụ nữ ở đó để bảo vệ bạn”, bà Garcia-Moreno nói thêm.
Nghiên cứu này được coi như một bước ngoặt trong lĩnh vực hoạt động bảo
vệ quyền và sức khoẻ của phụ nữ trên thế giới. Hi vọng rằng những phát hiện
trong nghiên cứu trên sẽ giúp cho các nhà hoạt động xã hội có được thêm các
bằng chứng về tình trạng bạo hành với phụ nữ và đồng thời thôi thúc chính
phủ các nước không chỉ chú ý đến vấn đề này, mà còn bắt tay vào hành động
để ngăn chặn nó, góp phần nâng cao chất lượng sức khoẻ phụ nữ toàn cầu.
C>NGHIÊN CỨU VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.> Sự tuyệt đối hóa bạo lực giới một chiều: đúng là bạo lực giới nói
chung và bạo lực giới trong gia đình nói riêng phần lớn là do nam giới gây ra
với phụ nữ. Nhưng cần nhận thấy rằng cũng còn có bạo lực của phụ nữ đối
với nam giới. Nghiên cứu cho thấy có khoảng 9-10% trường hợp nạn nhân
của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm chính là những bà vợ. Nhiều
công trình nghiên cứu xã hội học trên thế giới cũng cho thấy đôi khi bạo lực
giới trong gia đình là gần ngang nhau giữa nam và nữ.
Từ ý trên đây, có thể thấy dường như có sự thiên vị giới trong nghiên
cứu bạo lực gia đình. Mà sự thiên vị giới ở đây là chỉ thấy bạo lực giới một
chiều. Cần lưu ý rằng phụ nữ không chỉ là nạn nhân của bạo lực gia đình mà
còn là thủ phạm của bạo lực gia đình; ngay cả khi họ bị chồng sử dụng bạo
lực (vì không ít trường hợp vợ bị chồng đánh do nói nhiều, do cằn nhằn vô lý
hoặc ghen tuông vô cớ ).
Vì thế, rất cần có cái nhìn toàn diện, khách quan hơn trong nghiên cứu
hoặc công bố về những thông tin liên quan đến bạo lực giới trong gia đình.
2.> Chỉ đề cập bạo lực giữa vợ chồng với nhau, mà thường ít nói đến
hoặc bỏ qua hành vi bạo lực giữa các thành viên khác trong gia đình. Đó là
bạo lực của người lớn với trẻ em (cha mẹ bạo lực con cái, ông bà bạo lực
12
cháu, anh chị bạo lực với nhau), bạo lực giữa các thành viên lớn tuổi (anh chị
em, mẹ chồng nàng dâu, em chồng chị dâu ) hay bạo lực ngược (con cái bạo
lực cha mẹ, cháu ngược đãi ông bà). Sự khiếm khuyết này trong nghiên cứu
không chỉ làm nghèo đi nội dung của nghiên cứu bạo lực gia đình mà còn
khiến cộng đồng, xã hội nhận thức sai lệch, không đầy đủ về bạo lực gia đình
do thiếu thông tin.
3>. Phương pháp nghiên cứu, điều tra: những năm gần đây, ở nước ta
phương pháp điều tra xã hội học phổ biến đến mức không ít người quan niệm
“phi xã hội học bất thành nghiên cứu khoa học”. Tuy nhiên, điều này dường
như dẫn đến sự lạm dụng phương pháp điều tra xã hội học, nhất là với những
nghiên cứu do những người nghiên cứu thiếu kinh nghiệm, không nắm vững
các phương pháp điều tra, nghiên cứu trong khoa học xã hội.
Trong một nghiên cứu gần đây tại tám tỉnh, thành phố trong cả nước do
Vụ Các vấn đề xã hội (Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội) phối hợp với
Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED)
nghiên cứu tại sáu tỉnh, thành phố (Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Quảng
Ngãi, Đồng Tháp, Trà Vinh: với 900 bảng hỏi và 110 phỏng vấn sâu, 54 thảo
luận nhóm) và Viện Nghiên cứu người cao tuổi nghiên cứu tại hai tỉnh (Lào
Cai, Sơn La: với 400 đại diện hộ gia đình, 22 thảo luận nhóm và 15 phỏng
vấn sâu), nhưng do cung cấp thông tin từ một quan chức như thế nào đó nên
một số báo chí công bố không đúng khi nói về điều tra này với “2.000 phụ nữ
được phỏng vấn” (báo Phụ Nữ TP.HCM, số 66 ngày 29-8-2006). Việc công
bố thông tin như vậy dẫn đến sự hiểu lầm về qui mô nghiên cứu và giới tính
của người được nghiên cứu, mà chỉ người thực hiện nghiên cứu này mới nhận
thấy sự sai lầm đáng tiếc này.
4.> Chỉ nghiên cứu nhóm đặc thù và khái quát vội vã Báo Lao Động số
226 ngày 17-8-2006 có đưa tựa khá giật mình: “91% số phụ nữ bị bạo hành”.
Đọc tin này, độc giả trong nước và đặc biệt là người nước ngoài sẽ cho rằng
cứ 100 phụ nữ VN thì có 91 người bị chồng bạo hành. Trên thực tế, đó là tỉ lệ
13
rút ra từ số liệu thống kê trong vòng ba năm với 1.226 lượt phụ nữ đến Trung
tâm Tư vấn chăm sóc sức khỏe thuộc dự án “Cải thiện chăm sóc sức khỏe cho
nạn nhân bị bạo hành giới”. Điều này có nghĩa là chỉ có những phụ nữ bị bạo
lực gia đình mới đến trung tâm tư vấn này. Nói cách khác, 91% đó chỉ là
trong số những phụ nữ đã bị bạo lực gia đình, chứ không phải 91% phụ nữ
VN bị bạo lực gia đình.
Mới đây, đánh giá của một tổ chức phi chính phủ theo đơn đặt hàng của
một tổ chức quốc tế với chủ đề “Nghiên cứu những nhu cầu và ưu tiên cho
chương trình phòng chống bạo lực giới tại PT và BT”. Địa bàn nghiên cứu
bao gồm 16 xã thuộc hai huyện của hai tỉnh này, nhưng đơn vị thực hiện đánh
giá này chỉ phỏng vấn 44 người (trong đó 21 là cán bộ, công chức cấp xã,
huyện) và 12 thảo luận nhóm (trong đó chỉ có bốn thảo luận nhóm người
dân).
Như vậy, bình quân mỗi xã phỏng vấn chưa được ba người, và mỗi xã
bình quân chỉ có 0,7 thảo luận nhóm mà thôi. Với dung lượng mẫu quá ít trên
nhiều điểm nghiên cứu như vậy, thông tin không thể đại diện được cho các
cộng đồng nghiên cứu, đó là chưa nói đến gần một nửa số người được phỏng
vấn sâu và 2/3 trong số người thảo luận nhóm lại là cán bộ các ban ngành,
đoàn thể - những người được xem là “giới tinh hoa” - có hiểu biết, quan niệm
và nhu cầu khác xa với người dân nông thôn đa số học vấn thấp, nhất là
những người nghèo.
Với kết quả này, chương trình can thiệp sẽ không đạt hiệu quả như
mong đợi: phòng chống bạo lực gia đình trong các cộng đồng nông thôn, vì
tiếng nói của người dân bị lấn át, chìm đi dưới những nhận định của tầng lớp
“tinh hoa” ở địa phương.
Do chỉ nghiên cứu các nhóm đặc thù, nhưng khi công bố kết quả thì
không rõ vì thiếu hiểu biết hay do chủ ý mà những người thực hiện lại không
nói rõ đối tượng nghiên cứu là ai, tạo nên sự sai sót đáng tiếc.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét