• Đối với nhà đầu tư:
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư,
CTCK có vai trò làm giảm chi phí giao dịch. Đối với hàng hoá thông thường mua
bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí. Nhưng đối với CK là loại hàng hoá có độ
rủi ro cao nên nhà đầu tư phải mất rất nhiều thời gian công sức để sưu tầm, nghiên
cứu trước khi quyết định đầu tư. Với CTCK có trình độ chuyên môn cao và uy tín
nghề nghiệp sẽ giúp nhà đầu tư sử dụng vốn một cách có hiệu quả.
• Đối với TTCK:
- Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả của chứng khoán do thị
trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng người mua và người
bán phải thông qua CTCK. Các CTCK góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua
đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, CTCK định giá cho các cổ phiếu khi phát hành lần
đầu ra công chúng. CTCK còn góp phần bảo vệ khách hàng trong việc định giá các
loại cổ phiếu.
- Góp phần tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính. Các CTCK giúp các nhà
đầu tư giao dịch chứng khoán dễ dàng hơn. Trên thị trường cấp I CTCK làm đại lý
bảo lãnh phát hành và bán những cổ phiếu mới niêm yết trên thị trường chứng
khoán, đảm bảo tài sản của các chủ đầu tư. Trên thị trường cấp II, các CTCK giúp
các nhà đầu tư bán chứng khoán và dễ dàng chuyển cổ phiếu thành tiền mặt. Những
hoạt động đó làm tăng tính thanh khoản của thị trường tài chính.
• Đối với cơ quan quản lý thị trường: CTCK giúp các cơ quan quản lý thị
trường giám sát và công khai hoá và thông tin về tài sản tài chính.
b.Chức năng
• Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt :huy động vốn linh hoạt giữa người
có tiền nhàn rỗi và người sử dụng vốn. CTCK huy động vốn giúp các doanh nghiệp
5
có vốn để kinh doanh đồng thời giúp cho người đầu tư sinh lời khi đem tiền sử
dụng hợp lý.
• Cung cấp giá cả: Thông qua hệ thống khớp giá khớp lệnh, các CTCK cung
cấp kịp thời sự thay đổi về giá cả qua từng phút giúp nhà đầu tư có thể đưa ra quyết
định về giá, lượng một cách hợp lý.
• Tạo tính thanh khoản cho hoạt động thị trường: CTCK giúp chuyển từ
CK sang tiền mặt hoặc từ tiền mặt sang CK một cách dễ dàng. CTCK là tác nhân
quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng.
Nhờ những CTCK mà vốn được sử dụng một cách có hiệu quả hơn.
1.1.2,Điều kiện thành lập và nguyên tắc hoạt động của công ty CK:
1.1.2.1,Điều kiện thành lập:
Theo điều 62,luật chứng khoán, điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động
của công ty CK bao gồm:
-Điều kiện về cơ sở vật chất: Có trụ sở; có trang bị, thiết bị phục vụ hoạt động
kinh doanh chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư
vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng điều kiện về trang bị, thiết bị
-Điều kiện về vốn:
CTCK phải có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định.Vốn pháp định
được quy định cho từng loại hình thức nghiệp vụ
a. Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
b. Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
c. Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
d. Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
6
-Điều kiện về nhân sự: Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực
hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán quy định tại khoản 1 Điều 60 và khoản 1
Điều 61 của Luật này phải có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán
Sau khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện,các nhà thành lập phải lập hồ sơ xin cấp
phép gửi lên UBCKNN, theo điều 63, luật CK,hồ sơ bao gồm:
• Giấy đề nghị cấp Giấy phép thành lập và hoạt động của công ty chứng
khoán, công ty quản lý quỹ.
• Bản thuyết minh về cơ sở vật chất, kỹ thuật bảo đảm thực hiện các nghiệp
vụ kinh doanh chứng khoán.
• Xác nhận của ngân hàng về mức vốn pháp định gửi tại tài khoản phong toả
mở tại ngân hàng.
• Danh sách dự kiến Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và các nhân viên thực
hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán kèm theo bản sao Chứng chỉ hành
nghề chứng khoán.
• Danh sách cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập kèm theo bản sao Giấy
chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu đối với cá nhân và Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh đối với pháp nhân.
• Bản sao báo cáo tài chính năm gần nhất có xác nhận của tổ chức kiểm toán
độc lập của cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là pháp nhân tham gia
góp vốn từ mười phần trăm trở lên vốn điều lệ đã góp của tổ chức đề nghị
cấp giấy phép.
• Dự thảo Điều lệ công ty.
7
• Dự kiến phương án hoạt động kinh doanh trong ba năm đầu phù hợp với
nghiệp vụ kinh doanh đề nghị cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ,
quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình quản lý rủi ro.
1.1.2.2,Nguyên tắc hoạt động của công ty CK:
Công ty chứng khoán hoạt động theo hai nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm
nguyên tắc mang tính chất đạo đức và nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
a. Nhóm nguyên tắc đạo đức :
• Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng vì lợi
ích của khách hàng.
• Kinh doanh có kĩ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm.
• Ưu tiên thực hiện lệnh khách hàng trước lệnh của công ty.
• Có nghĩa vụ bảo mật thông tin cho khách hàng, không được tiết lộ các thông
tin về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn
bản trừ khi có yêu cầu của các cơ quan quản lý nhà nước.
• Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin đầy đủ cho khách
hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có thể phải gánh chịu,
đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu tư mà họ tư
vấn.
• Công ty không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thù
lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình.
• Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián. Đặc biệt các công ty chứng
khoán không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng
khoán cho chính mình, gây thiệt hại cho nhà đầu tư.
8
• Không được tiến hành các giao dịch gây hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản
chất của chứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách
hàng.
b. Nhóm nguyên tắc tài chính :
• Công ty Chứng khoán cần phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và
nguyên tắc hoạch toán, báo cáo theo các quy định của UBCK Nhà nước.
Đảm bảo nguồn tài chính trong cam kết kinh doanh chứng khoán với khách
hàng.
• Công ty không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh
doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng để phục vụ cho giao dịch của
khách hàng.
• Công ty phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của
mình. Công ty không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế
chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng chấp nhận bằng văn bản
1.1.3,Các nghiệp vụ của công ty CK:
1.1.3.1,Môi giới:
Theo giáo trình Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam (Trường Đại Học KTQD) thì
Môi giới Chứng Khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán, chứng
khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, Công ty Chứng Khoán đại
diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK
hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với KQGD
của mình. Thông qua hoạt động này công ty Chứng Khoán sẽ chuyển đến khách
hàng các sản phẩm dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa các nhà đầu tư với nhau.
9
Thành công của Công ty Chứng Khoán với nghiệp vụ môi giới Chứng Khoán , ở
một mức độ nào đó phụ thuộc vào sự tinh thông cá nhân của lực lượng của những
người môi giới trong Công ty
1.1.3.2,Tự doanh:
Nghiệp vụ tự doanh là việc công ty Chứng Khoán tự tiến hành các giao dịch mua,
bán Chứng Khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
được thực thông qua cơ chế Giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC.
Ở một số nước thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá hoạt động tự
doanh của công ty Chứng Khoán được thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị
trường. Lúc này, công ty Chứng Khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm
giữ một số lượng chứng khoán nhát định của một số loại chứng khoán và thực hiện
mua, bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá. Nghiệp vụ này
được hoạt động song song với nghiệp vụ môi giới, tức vừa phục vụ lệch giao dịch
cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình. Vì vậy, trong quá trình
hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa việc thực hiện lệnh giao dịch cho
khách hàng và lệnh giao dịch cho bản thân công ty . Do đó, UBCK đều yêu cầu
phải tách biệt hai nghiệp vụ này và công ty Chứng Khoán phải ưu tiên thực hiện
lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh của công ty.
1.1.3.3,Bảo lãnh phát hành:
Bảo lãnh phát hành chứng khoán: Là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát
hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần
hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng
khoán còn lại chưa được phân phối hết.
10
Bảo lãnh phát hành là một hoạt động nghiệp vụ rất quan trọng của công ty chứng
khoán. Có thể nói, đây là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu nhập và
cơ sở khách hàng lớn nhất cho công ty chứng khoán. Về bản chất, bảo lãnh phát
hành là việc công ty chứng khoán hỗ trợ cho các đơn vị phát hành huy động vốn
bằng cách bán chứng khoán trên thị trường. Sự hỗ trợ đó giúp đơn vị phát hành
nắm chắc khả năng huy động vốn và có kế hoạch sử dụng vốn huy động. Thông
thường, khi thực hiện bảo lãnh phát hành, công ty chứng khoán sẽ áp dụng một
trong ba hình thức bảo lãnh sau:
Bảo lãnh chắc chắn: Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành nhận
mua toàn bộ số chứng khoán trong đợt phát hành của công ty phát hành, sau đó sẽ
bán ra công chúng, hoặc công ty bảo lãnh phải nhận mua toàn bộ số chứng khoán
còn lại chưa được phân phối hết của đợt phát hành. Giá mua của công ty bảo lãnh
là một giá đã được ấn định, thường là thấp hơn giá thị trường. Giá bán của công ty
bảo lãnh là giá thị trường. Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động tự doanh,
hoạt động cho chính họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro.
Bảo lãnh cố gắng tối đa: Là hình thức bảo lãnh mà công ty bảo lãnh phát hành
hứa sẽ cố gắng đến mức tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công
ty phát hành. Trường hợp không bán hết, số chứng khoán còn lại được trả về cho
công ty phát hành. Người bảo lãnh được hưởng hoa hồng trên số chứng khoán đã
được bán ra.
Bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: Đây là trường hợp áp dụng khi công ty
phát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định để giải quyết một mục tiêu nhất
định. Nếu huy động được đủ số vốn cần thiết đó thì sẽ thực hiện phát hành, nếu
không huy động đủ thì sẽ huỷ bỏ. Cũng có thể, để cho việc chào bán có hiệu quả,
nhẹ nhàng hơn trong trách nhiệm của người bảo lãnh, công ty phát hành yêu cầu
phải phát hành được một số lượng chứng khoán tối thiểu nào đó trong tổng số
11
chứng khoán cần phát hành, nếu đạt được số tối thiểu này thì số còn lại sẽ phát
hành tiếp, nếu không đạt được số tối thiểu đó thì sẽ huỷ bỏ toàn bộ.
Khi thực hiện hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán, các công ty chứng
khoán phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này thường được
quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, chẳng hạn như các quy định về
hạn mức bảo lãnh, nghĩa vụ bình ổn thị trường của các loại chứng khoán nhận bảo
lãnh, tách bạch nghiệp vụ, công khai thông tin, nghĩa vụ liên đới trong các hoạt
động gian lận liên quan đến việc phát hành chứng khoán,.v.v.
Khi UBCK cho phép phát hành Chứng Khoán công ty Chứng Khoán sẽ hoàn
tất thủ tục thực hiện phân phối Chứng Khoán. Sau đây là một số hình thức phân
phối Chứng Khoán chủ yếu :
• Bán rộng rãi ra công chúng .
• Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm , quỹ
hưu trí.
• Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ
với tổ chức phát hành.
• Sau khi phát hành xong tổ chức bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán Chứng
Khoán cho tổ chức phát hành. Số tiền phải thanh toán là giá trị Chứng Khoán
trừ đi chi phí bảo lãnh.
.
1.1.3.4,Tư vấn:
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán: Là việc công ty chứng khoán cung cấp
các thông tin, loại chứng khoán và cách thức, thời điểm mua bán chứng khoán, và
các vấn đề có tính quy luật của hoạt động đầu tư chứng khoán cho người đầu tư.
Nghiệp vụ này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà không yêu cầu
nhiều vốn. Tính trung thực của cá nhân hay công ty tư vấn có tầm quan trọng lớn
Dịch vụ tư vấn đầu tư có thể được công ty chứng khoán cung cấp qua các hình
thức: khuyến cáo, lập báo cáo, tư vấn trực tiếp, thông qua ấn phẩm về chứng khoán.
Tư vấn tài chính doanh nghiệp: Là một phần trong tổng thể các hoạt động tư vấn
của công ty chứng khoán. Với khả năng chuyên môn của mình, công ty chứng
12
khoán hỗ trợ các khách hàng trong việc lập và thực hiện các kế hoạch tài chính
quan trọng nhằm tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp, đảm bảo đầy đủ các nguồn
lực tài chính cần thiết cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp, công ty chứng khoán phải
đáp ứng được các yêu cầu sau:
• Trung thực, tận tụy và vì lợi ích của khách hàng;
• Chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan đến hoạt động tư vấn của
mình đối với doanh nghiệp;
• Có đủ năng lực thực hiện hoạt động tư vấn đã cam kết với khách hàng.
• Không được nhận bất kỳ một lợi ích không chính đáng nào ngoài những lợi
ích đã thỏa thuận với khách hàng theo quy định của pháp luật
Các công ty chứng khoán có thể thu phí hoặc miễn phí khi cung cấp dịch vụ tư
vấn cho khách hàng, tuỳ theo tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động tư vấn.
Theo thông lệ, các công ty chứng khoán chỉ chịu trách nhiệm về những ý kiến tư
vấn của mình, khách hàng phải tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính khi quyết định
thực hiện theo lời tư vấn. Chính vì vậy, các công ty chứng khoán và nhân viên của
mình phải tuân thủ rất nghiêm ngặt những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp
nhằm tránh gây ra những tổn hại về vật chất cho khách hàng, không được phép đưa
ra những cam kết hoặc dụ dỗ khách hàng về kết quả của khoản đầu tư khi thực hiện
những ý kiến tư vấn
1.1.3.5,Quản lý danh mục đầu tư:
Quản lý danh mục đầu tư chính là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của
khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng .Quản
lý danh mục đầu tư được hiểu như một nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng
hợp có kèm theo đầu tư. Khi đó, khách hàng sẽ uỷ thác tiền của mình cho công
ty và công ty sẽ thay mặt khách hàng để quyết định đầu tư theo một chiến lược
hay những thoả thuận giữa công ty và khách hàng về mức lợi nhuận kỳ vọng,
rủi ro có thể chấp nhận.
13
Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát
như sau:
Bước 1: Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: Tức công ty Chứng Khoán
và khách hàng tiếp xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó
đua ra các yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác.
Bước 2: Ký hợp đồng quản lý :Sau khi tìm hiểu và thương lượng , thoả
thuận .Công ty Chứng Khoán và khách hàng sẽ ký hợp đồng quản lý theo các
yêu cầu, nội dung về vốn ,thời gian uỷ thác, mục tiêu đầu tư, quyền và trách
nhiệm của các bên.Phân chia lợi nhuận, rủi ro và chi phí quản lý danh mục
đầu tư.
Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lý công ty Chứng khoán thực hiện
đầu tư vốn uỷ thác của khách hàng theo những nội dung đã ký kết và phải
đảm bảo tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tách biệt tài sản của khách
hàng và của công ty.
Bước 4: Kết thúc hợp đồng quản lý :Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán
các khoản phí quản lý theo hợp đồng đã ký kết và xử các trường hợp đột xuất
sảy ra như công ty Chứng Khoán bị ngừng hoạt động, giải thể hoặc phá sản
1.1.3.6,Các hoạt động khác:
• Hoạt động tín dụng
CTCK cho khách hàng của mình vay tiền để họ mua chứng khoán và thế chấp
bằng chính những chứng khoán mà họ mua đựơc khi khách hàng không trả được nợ
thì CTCK sẽ bán những chứng khoán đó để thu hồi nợ. Giao dịch mua bán với số
tiền vay này được thực hiện trên tài khoản bảo chứng. Quy trình giao dịch không
khác các giao dịch của công ty thực hiện cho khách hàng trên tài khoản giao dịch.
Rủi ro sẽ xảy ra khi chứng khoán được mua từ tiền vay giảm giá. Vì thế, CTCK
khi mở tài khoản cho khách hàng đòi hỏi một tỷ lệ ký quỹ bắt buộc nhất định. Công
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét