Lập báo cáo về giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ sản xuất đợc
trong kì nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc điều hành, quản lý hoạt động
SX của doanh nghiệp.
I
I
I
I
G
G
I
I
Á
Á
T
T
H
H
À
À
N
N
H
H
S
S
Ả
Ả
N
N
P
P
H
H
Ẩ
Ẩ
M
M
.
.
2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác,sản phẩm ,
lao vụ đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng
giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi cho sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí
tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trinh sản xuất, tiêu thụ phải được bồi
hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh
trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm
phải phản ánh được giá trị thực tế của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất,
tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí
lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá
trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ ,
không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
2.2. Phân loại giá thành.
Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản xuất là một phạm trù kinh tế, phản
ánh mức hao phí lao động sản xuất ra sản phẩm hoặc hoàn thành sản phẩm dịch vụ.
Hạ thấp chi phí sản xuất là điều kiện quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Xét về
bản chất, giá thành sản xuất là lượng hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm
hoặc dịch vụ hoàn thành được bằng tiền.
Giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách
quan của giá thành sản phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị
của những tư liệu sản xuất và sự hao phí lao động sống trong quá trình thực hiện
sản phẩm dịch vụ. Tính chủ quan của giá thành thể hiện ở chỗ: việc tính toán đo
lường hao phí lao động và việc phân bổ các hao phí lao động được thể hiện bằng
tiền cho các đối tượng. Việc tính toán này có chính xác hay còn phụ thuộc còn phụ
thuộc rất nhiều vào người làm công tác kế toán ở doanh nghiệp.
Trên góc độ quản lý doanh nghiệp, giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác của doanh nghiệp. Mức hạ giá thành
phản ánh tình hình tiết kiệm các loại vật tư, tiền vốn và tiết kiệm hao phí lao động
của doanh nghiệp.
Trên góc độ kinh tế, giá thành là thước đo chi phí và khả năng tạo ra lợi
nhuận của doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện giá bán không đổi, hạ
giá thành sẽ tăng lợi nhuận và ngược lại.
Để nghiên cứu giá thành được tốt, trước hết phải nghiên cứu đánh giá được
kết cấu giá thành sản phẩm dịch vụ. Kết cấu giá thành sản phẩm là tỷ trọng các
khoản mục giá thành so với tổng giá thành sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm, mỗi
ngành nghề khác nhau có những đặc điểm khác nhau nên kết cấu giá thành cũng
khác nhau. Do đó, trong quá trình quản lý và phân tích tính giá thành phải căn cứ
vào đặc điểm của từng ngành cụ thể để đánh giá công việc. Để phục vụ cho công
tác kế toán cũng như công tác quản lý tính giá thành sản phẩm dịch vụ, cần phải
nghiên cứu các loại giá thành sản phẩm dịch vụ. Thông thường người ta phân loại
giá thành sản phẩm dịch vụ như sau:
2.2.1. Phân loại theo thời điểm tính giá và nguồn số liệu để tính giá thành.
Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch được xác đinh trước khi bước vào
kinh doanh trên cở sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức , các dự toán chi
phí của kì kế hoạch.
Giá thành định mức : Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành đinh mức
cũng được xác định trước khi bắt đầu vào sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với
giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và
không biến đổi trong suốt cả kì kế hoạch, giá thành định mức được xác định trên
cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại các thời điểm nhất định trong kì kế
hoạch ( thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp
với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực hiện kế
hoạch giá thành.
Giá thành thực tế : giá thành thực tế là chỉ tiêu xác định sau khi kết thúc quá
trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình
sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí , xác định
được các nguyên nhân vượt ( hụt ) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó ,
điều chỉnh kế hoạch hoặc hoạch định mức chi phí cho phù hợp.
2.2.2.Phân theo phạm vi phát sinh chi phí.
Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản
xuất và giá thành tiêu thụ.
Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh
tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất , chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng sản xuất .
Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ ):
là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau:
Giá thành Giá thành Chi phí Chi phí
toàn bộ = sản xuất + quản lý + bán hàng
của SP của SP DN
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh
doanh ( lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán
hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại
này chỉ còn mang tính học thuật, nghiên cứu.
I
I
I
I
I
I
.
.
Đ
Đ
Ố
Ố
I
I
T
T
Ư
Ư
Ợ
Ợ
N
N
G
G
V
V
À
À
P
P
H
H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
G
P
P
H
H
Á
Á
P
P
T
T
Í
Í
N
N
H
H
G
G
I
I
Á
Á
T
T
H
H
À
À
N
N
H
H
S
S
Ả
Ả
N
N
P
P
H
H
Ẩ
Ẩ
M
M.
3.1. Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi
phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị , việc hạch
toán quá trình sản xuất có thể phân thành 2 giai đoạn là giai đoạn xác định đối tư-
ợng tập hợp chi phí và xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất
xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định thành phẩm , bán thành
phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng
đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền
sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm.
Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính
giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm qui trình công
nghệ sản xuất( giản đơn hay phức tạp) , vào loại hình sản xuất( đơn chiếc , hàng
loạt), vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh( cao hay thấp) v.v…
3.2. Xác định phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng
tính giá thành sản phẩm. Về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao gồm các ph-
ương pháp sau:
Phương pháp trực tiếp ( còn gọi là phương pháp giản đơn): Phương pháp
này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số l-
ượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà
máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác( quặng , than, gỗ…) Đối tượng hạch
toán chi phí ở các doanh nghiêp này là từng loại sản phẩm, dịch vụ. Giá thành sản
phẩm cộng (+) hoặc trừ (-) số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kì so
với cuối kì chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành.
Tổng giá thành Chi phí SX chi phí SX Chi phí SX
sản xuất của = dở dang + phát sinh đã - dở dang cuối kì
sản phẩm đầu kì tập hợp được đã đánh giá được
Phương pháp tổng cộng chi phí: áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình
sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công
nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận chi tiết sản phẩm hoặc giai
đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất. Giá thành sản phẩm đợc xác định bằng cách
cộng chi phí sản xuất của các bộ phận , chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất
của các giai đoạn , bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm:
Tổng giá thànhSX = Tổng cộng chi phí SX
của sản phẩm, lao vụ đã tập hợp trong kỳ
Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng chủ yếu trong các doanh
nghiệp khai thác, dệt , nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc…
Phương pháp hệ số : Được áp dụng trong những doanh nghiêp mà trong
cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao
động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập
hơp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trinh sản
xuất. Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số qui đổi các loại
sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó , dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành
các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại
sản phẩm:
Giá thành đơn vị Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm
sản phẩm gốc Tổng số sản phẩm gốc( kể cả qui đổi)
=
Giá thành đơn vị = Giá thành đơn vị * Hệ số qui đổi
sản phẩm từng loại sản phẩm gốc sản phẩm từng loại
Tổng giá thành Giá trị SP Tổng chi phí Giá trị
sản xuất của các = dở dang + SX phát - sản phẩm DD
loại sản phẩm đầu kỳ sinh trong kì cuối kì
Phương pháp tỷ lệ : Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm
có quy cách , phẩm chất khác nhau như : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế
tạo( dụng cụ , phụ tùng…) v.v… để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường
tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ
giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch( hoặc định mức), kế
toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm cùng loại.
Giá thành thực tế đơn = Giá thành kế hoạch (hoặc định mức) * tỷ lệ chi
vị sản phẩm từng loại đơn vị sản phẩm từng loại phí
Tỷ lệ Tổng giá thành thực tế của các loại sản phẩm
chi phí x 100
Tổng giá thành kế hoạch của các loại sản phẩm
=
Phưhơng pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: Đối với các doanh nghiệp mà
trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu đợc còn có thể
thu được những sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường rượu, bia, mì ăn
liền…), để tính giá trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra
khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể được xác định
theo nhiều phương pháp nh giá có thể sử dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch ,
giá nguyên liệu ban đầu…
Tổng Giá trị Tổng chi phí Giá trị Giá trị
giá thành = sản phẩm + sản xuất - sản phẩm - sản phẩm
sản phẩm chính DD phát sinh phụ thu hồi dở dang
chính đầu kỳ trong kỳ ớc tính cuối kỳ
Phương pháp liên hợp : Là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp
có tổ chức sản xuất , tính chất qui trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi
hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh
nghiệp hoá chất , dệt kim, đóng giầy, may mặc… Trên thực tế , kế toán có thể kết
hợp các phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ ,
hệ số với loại trừ sản phẩm phụ …
3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh
nghiệp chủ yếu.
Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần
lựa chọn và áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với đặc điểm tổ
chức sản xuất , đặc điểm qui trình công nghệ cũng như đối tợng hạch toán chi phí.
Sau đây là phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại hình
doanh nghiệp chủ yếu:
3.3.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn.
Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất
một hoặc một số ít mặt hàng với khối lượng lớn , chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm
dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than,
quặng , hải sản…; các doanh nghiệp sản xuất động lực ( điện, nước, hơi nước, khí
nén , khí đốt…) Do số lượng mặt hàng ít nên đối tợng hạch toán chi phí sản xuất đ-
ược tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hành sản xuất được mở một sổ (hoặc thẻ)
hạch toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thường được tiến hành vào
cuối tháng theo phương pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phương pháp liên hợp.
PHIẾU TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
Tên sản phẩm…. Tháng … năm…Đơn vị :…
Khoản mục chi phí
CPSXD
D ĐK
CPSX
PSTK
CPSX
ĐCK
Tổng
giá thành
Giá
thành
đơn vị
1. Ng. vật liệu trực tiếp
2. Nhân công trực tiếp
3. Sản xuất chung
Cộng
3.3.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng.
Đối với các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng, đối t-
ượng hạch toán chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng cụ thể. Đối tượng tính giá
thành sản phẩm là sản phẩm của từng đơn đặt hàng. Phương pháp tính giá thành
tuỳ theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phơng pháp thích
hợp như phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi
phí hay phương pháp liên hợp v.v…
Đặc điểm của việc hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ
chi phí sản xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, không kể số l-
ượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay
phức tạp. Đối với các chi phí trực tiếp( nguyên vật liệu, nhân công) phát sinh trong
kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho đơn đặt
hàng đó theo các chứng từ gốc( hay bảng phân bổ chi phí). Đối với chi phí sản xuất
chung , sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp( giờ
công sản xuất, nhân công trực tiếp…)
Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt
hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo. Đối
với những đơn đặt hàng đến kì báo cáo cho hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập
hợp theo đơn đó đều coi là sản phẩm dở dang cuối kì chuyển kỳ sau. Đối với
những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí tập hợp được theo đơn đó chính
là tổng giá thành sản phẩm của đơn và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng
giá thành sản phẩm của đơn chia cho số lượng sản phẩm trong đơn.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu công tác quản lý
cần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặt
hàng chỉ mới hoàn thành một phần , việc xác định sản phẩm dở dang của đơn vị đó
có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành
của đơn.
Tổng giá thànhSX = Tổng chi phí SX Vật liệu trả lại kho
theo đơn đặt hàng tập hợp theo -và phế liệu thu hồi
hoá đơn được nhập kho
3.3.3. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất- kinh doanh phụ.
Hoạt động SX kinh doanh phụ là hoạt động SX kinh doanh mà D N tiến hành
thêm ngoài nhiệm vụ SX kinh doanh chính được giao hoặc đã đăng ký SX kinh
doanh khi thành lập DN. Hoạt động kinh doanh phụ cũng tạo ra sản phẩm , lao vụ
để tiêu thụ. Hoạt động kinh doanh phụ cũng có quá trình kinh doanh như SX kinh
doanh chính nên kế toán kinh doanh phụ cũng tiến hành trình tự kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành SX của sản phẩm như hoạt động kinh doanh
chính và cũng sử dụng các tài khoản kế toán cấp 1 cùng với hoạt động SX kinh
doanh chính( mở tài khoản chi tiết). Sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh
phụ được sử dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất- kinh doanh chính, phần còn lại có
thể cung cấp ra bên ngoài. Phương pháp tính giá thành sản phẩm , lao vụ của sản
xuất kinh doanh phụ tuỳ thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ
phận sản xuất phụ trong doanh nghiệp, cụ thể là:
Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất, kinh
doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể.
Chi phí sản xuất sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động sản xuất
kinh doanh phụ. Giá thành sản phẩm , lao vụ của từng bộ phận được tính theo từng
phương pháp trực tiếp .
Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất kinh
doanh phụ.
Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và giữa
chúng có sự phục vụ lẫn nhau thì có thể áp dụng một trong các phương pháp khác
tính giá thành sau đây:
Phương pháp đại số .
Là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản
phẩm , lao vụ của sản xuất -kinh doanh phụ phục vụ các đối tượng.
Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu :
Theo phương pháp này trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận
sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng.
Tiếp theo, xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ
phận khác theo giá thành đơn vị mới.
Giá Tổng chi Giá trị lao vụ Giá trị lao vụ
thành phí ban đầu + của từng bộ phận - phục vụ
đơn sản xuất phụ khác cho bộ phận sx phụ khác.
vị =
mới Sản lượng ban đầu - Sản lượng phục vụ bộ phận sản xuất phụ khác
và sản lượng tiêu dùng nội bộ (nếu có)
Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch:
Trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá
thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phục vụ giữa
các phân xưởng sản xuất - kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho
các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới.
3.3.4. Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức.
Trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động , vật tư hiện hành và dự
toán về chi phí sản xuất chung, kế toán sẽ xác định giá thành định mức của từng
loại sản phẩm. Đồng thời, hạch toán riêng các thay đổi, các chênh lệch so với định
mức phát sinh trong quá trình sản xuât sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực
tế phát sinh trong kỳ thành ba loại: Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định
mức và chênh lệch so với định mức. Từ đó, tiến hành xác định giá thành thực tế
của sản phẩm bằng cách.
Giá thành thực = Giá thành định +(-) Chênh lệch do +(-) Chênh lệch so
tế sản phẩm mức sản phẩm thay đổi định mức với định mức
Việc tính toán giá thành định mức được tiến hành trên cơ sở định mức tiên tiến
hiện hành ngày đầu kì ( thường là đầu tháng) .Tuỳ theo tính chất quy trình công
nghệ sản xuất sản phẩm và đặc điểm sản phẩm mà áp dụng các phương pháp tính
giá thành định mức khác nhau (theo sản phẩm hoàn thành, theo chi tiết , theo bộ
phận sản phẩm rồi tổng hợp lại…) Việc thay đổi định mức được tiến hành vào
ngày đầu tháng để thuận lợi cho việc thực hiện định mức cũng như việc kiểm tra
thi hành định mức. Trường hợp thay đổi định mức diễn ra vào ngày giữa tháng thì
đầu tháng sau mới phải điều chỉnh giá thành định mức. Những khoản chi phí phát
sinh ngoài phạm vi định mức và dự toán qui định được gọi là chênh lệch so với
định mức hay thoát ly định mức.
3.3.5 . Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục .
Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục là doanh nghiệp
có quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm bao gồm nhiều bước (giai đoạn ) nối tiếp
nhau theo một trình tự nhất định , mỗi bước tạo ra một loại bán thành phẩm và bán
thành phẩm của từng bước trước là đối tượng hay nguyên liệu chế biến của bước
sau. Trong những doanh nghiệp này, phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
nhất là hạch toán theo bước chế biến ( giai đoạn công nghệ) .Theo phương pháp
này, chi phí sản xuất phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn
đó. Riêng với chi phí sản xuất chung sau khi được tập hợp theo phân xưởng sẽ đ-
ược phân bổ cho các bước theo tiêu thức phù hợp.
Tuỳ theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý, chi
phí sản xuất có thể tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và theo phương án
không có bán thành phẩm. Phương pháp tính giá thành thường là phương pháp
trực tiếp kết hợp phương pháp tổng cộng chi phí hay hệ số (hoặc tỷ lệ).
3.3.5.1. Tính giá thành phân bước theo phơng án hạch toán có bán thành phẩm.
Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu
cầu hạch toán nội bộ cao hoặc bán thành phẩm bán ra ngoài. Đặc điểm của phương
án hạch toán này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá
trị bán thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính theo giá
thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục cho đến bước cuối cùng tính
ra giá thành thành phẩm nên còn gọi là kết chuyển tuần tự.(Mỗi công đoạn sản
phẩm đều được tính giá thành theo phương pháp giản đơn trên cơ sở số liệu về chi
phí SX tập hợp được ở những tài khoản kế toán chi tiết trong từng công đoạn. Bán
thành phẩm công đoạn trước kết chuyển sang công đoạn sau tuần tự đến giai đoạn
cuối cùng, Nếu kết chuyển từ công đoạn nọ sang công đoạn kia là bán thành phẩm(
gọi là kết chuyển tuần tự tổng hợp) thì đến công đoạn thành phẩm phải hoàn
nguyên chi phíaSX cấu thành bán thành phẩm ở các công đoạn mới tính giá thành
SX của thành phẩm theo khoản mục giá thành. Nếu kết chuyển bán thành phẩm từ
công đoạn nọ sang công đoạn kia theo các khoản mục chi phí cấu thành giá ( gọi là
kết chuyển tuần tự từng khoản mục ) thì đến công đoạn cuối tính ngay được giá
thành SX của thành phẩm theo khoản mục.
Công đoạn 1 Công đoạn 2 Công đoạn hoàn thành
Chi phí NVL trực
tiếp
Trị giá vốn bán
thành phẩm công
đoạn 1 chuyển sang
Trị giá vốn bán
thành phẩm công
đoạn 2 chuyển sang
Chi phí chế biến
công đoạn 1
Tổng giá thành và
giá thành đơn vị
BTP côn
g
đoạn 1
Chi phí chế biến
ở công đoạn 2
Tổng giá thành và
giá thành đơn vị
BTP công đoạn 2
Tổng giá thành và
giá thành đơn vị
thành phẩm
Chi phí chế biến
ở công đoạn 2
+ + +
3.3.5.2. Tính giá thành phân bước theo phương án không có bán thành phẩm.
Trong những doanh nghiệp mà yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ không cao
hoặc bán thành phẩm chế biến ở từng bước không bán ra ngoài thì chi phí chế biến
phát sinh trong các giai đoạn công nghệ được tính nhập vào giá thành thành phẩm
một cách đồng thời, song song nên còn được gọi là kết chuyển song song. Theo
phương án này, kế toán không cần tính đến giá thành bán thành phẩm hoàn thành
trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng
hợp chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn
công nghệ .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét