Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý xuất khẩu, nhập khẩu qua kiểm tra, giám sát hải quan ở cục hải quan tp. hà nội


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý xuất khẩu, nhập khẩu qua kiểm tra, giám sát hải quan ở cục hải quan tp. hà nội": http://123doc.vn/document/1053931-mot-so-giai-phap-nham-tang-cuong-cong-tac-quan-ly-xuat-khau-nhap-khau-qua-kiem-tra-giam-sat-hai-quan-o-cuc-hai-quan-tp-ha-noi.htm


của nó là những mặt hàng nhập lậu vào trong nớc. Thực trạng của kinh doanh
xuất-nhập khẩu hiện nay đòi hỏi sự can thiệp của nhà nớc một cách có hệ
thống đúng đắn hơn, khoa học và kịp thời hơn.
c. Quản lý nhà n ớc của Việt Nam trong lĩnh vực xuất-nhập khẩu.
Để khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hớng nhập khẩu phục vụ tốt sản xuất
và tiêu dùng, bảo vệ và phát triển sản xuất trong nớc, nâng cao hiệu quả sản
xuất, mở rộng hợp tác kinh tế thơng mại với nớc ngoài góp phần thực hiện
mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nớc, đồng thời để quản lý hoạt động xuất-
nhập khẩu. Nhà nớc ta đã ban hành nhiều văn bản quan trọng: Quyết định
117- HĐBT ngày 16/6/1987 về chính sách, biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu và
quản lý xuất-nhập khẩu; Nghị định 64 - HĐBT ngày 10/6/1989 về chấn chỉnh
và đổi mới cơ chế quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu. Đặc biệt nghị định 114 -
HĐBT ngày 7/4/1992 về quản lý nhà nớc đối với hoạt động xuất-nhập khẩu,
so với các văn bản đã đợc ban hành trớc đó, nghị định này đã đánh dấu bớc
chuyển từ mô hình nhà nớc độc quyền ngoại thơng sang tự do hoá ngoại th-
ơng, từ biện pháp quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ đợc làm cái mà chính phủ cho
phép sang biện pháp quản lý bằng đòn bẩy kinh tế, đợc phép làm những gì mà
chính phủ không cấm. Đến năm 1994, trớc những chuyển biến kinh tế xã hội
trong nớc và quốc tế, chính phủ đã ban hành nghị định 33/cp ngày 19/4/1994
về quản lý nhà nớc với hoạt động xúât nhập khẩu nhằm bổ xung, sửa đổi
những khiếm quyết của nghị định 144-HĐBT cho phù hợp với yêu cầu thực
tiễn và các văn bản hớng đẫn quan trọng khác.
Theo tinh thần cơ bản của nghị định trên, nhà nớc nhà nớc ta đã quản lý
thống nhất mọi hoạt động kinh doanh xuất-nhập khẩu bẳng luật pháp và các
chế độ chính sách có liên quan tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức xuất-
nhập khẩu hoạt động đúng hớng và hiệu quả cao.
ở nớc ta, hoạt động thức xuất-nhập khẩu chịu sự quản lý của nhà nớc có
các hình thức sau:
- Xuất-nhập khẩu hàng hoá (kể cả thiết bị toàn bộ ) với nớc ngoài và với
khu chế xuất, thông qua thơng mại, hợp tác quốc tế và khoa học kỹ thuật, hợp
tác đầu t, viện trợn, vay và trả nợ.
- Tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh hàng
hoá.
- Chuyển giao sở hữu công nghiệp.
- Gia công chế biến hàng hoá và chế biến thành phẩm cho nớc ngoài hoặc
thuê nớc ngoài gia công chế biến.
- Đại lý mua, bán hàng hoá, uỷ thác và nhận uỷ thác xuất-nhập khẩu cho
các doanh nghiệp trong nớc và nớc ngoài.
Ngoài ra, các hàng hoá và dịch vụ xuất-nhập khẩu phi mậu dịch đợc quản lý
theo chế độ riêng:
5
- Vàng bạc, đà quý
- Quả biếu
- Tài sản di chuyển
- Bu phẩm bu điện mang tính thơng mại
- Hàng của ngời Việt mang theo để dùng khi xuất-nhập khẩu.
- Hàng xuất, nhập khẩu giữa các khu chế xuất với nhau và gữa các khu chế
xuất với nớc ngoài.
- Các dịch vụ du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, bu điện, hàng không, đờng sắt,
đờng bộ, đờng thuỷ.
Việc quản lý nhà nớc với các hoạt động xuất-nhập khẩu đựoc thực hiện theo
các nguyên tắc sau :
- Tân thủ luật pháp và các chính sách có liên quan của nhà nớc về sản xuất
lu thông và quản lý thị trờng.
- Tôn trọng các cam kết với nớc ngoài và tập quán thơng mại quốc tế.
- Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và bảo đảm sự
quản lý của nhà nớc.
Nhà nớc khuyến khích và có chính sách hỗ trợ đối với các doanh nghiệp
phát triển và mở rộng thị trờng mới; xuất khẩu những mặt hàng nhà nớc
khuyến khích.
Về tổ chức quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu, nhà nớc qui định : Bộ thơng
mại là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nớc, thống nhất đối với hoạt
động xuất-nhập khẩu; các bộ, các uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ơng có trách nhiệm tham gia với bộ thơng mại quản lý trên các mặt.
- Hớng dẫn và chỉ đạo và thực hiện đúng các chính sách quy định của nhà
nớc về quản lý xuất-nhập khẩu,trong phạm vi ngành và địa phơng.
- Kiến nghị điều chỉnh chính sách, biện pháp quản lý hoạt động xuất khẩu.
d. Các công cụ quản lý nhà n ớc về hoạt động xuất-nhập khẩu ở n ớc ta và
các công cụ quản lý xuất-nhập khẩu đang đ ợc áp dụng là:
- Thủ tục Hải quan
- Thuế xuất-nhập khẩu.
- Hạn ngạch xuất-nhập khẩu.
- Giấy phép xuất-nhập khẩu.
- Quản lý ngoại tệ.
6
Vai trò và tác dụng của mỗi công cụ trên là nh nhau song cùng với mục
đích là quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu. Trong bài viết này, tôi chỉ tập
chung đi vào nghiên cứu việc sử dụng công cụ Hải quan để kiểm tra, giám sát
và quản lý hoạt động xuất-nhập khẩu.
2. Hải quan ra đời trên cơng vị là một tổ chức bộ máy quản lý
của chính phủ.
Ngay từ khi mới khai sinh, nhà nớc rất chú trọng quản lý bằng công cụ Hải
quan. Việc thành lập sở thuế quan và thuế gián thu theo sắc lệnh 27/Sl ngày
10/9/1945 đã xác định vai trò của nhà nớc về thuế quan, xác định vị trí của
ngành Hải quan, một trong những công cụ của nhà nớc cách mạng nhằm bảo
vệ lợi ích, chủ quyền và an ninh đất nớc.
Tại điều 3 pháp lệnh Hải quan Việt Nam quy định chức năng, nhiệm vụ của
ngành Hải quan nh sau: Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn do pháp lệnh
này quy định, Hải quan Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về Hải
quan với hoạt động xuất-nhập khẩu, xuất cảnh nhập cảnh, quá cảnh mợn đ-
ờng Việt Nam, đấu tranh chống buôn lậu hoặc vận chuyền trái phép hàng hoá,
ngoại tệ, tiền Việt Nam qua biên giới. Trong hoạt động của mình, Hải quan
Việt Nam tuân theo pháp luật Việt Nam và điều ớc quốc tế liên quan đến hoạt
động Hải quan mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc công nhận.
Nhà nớc sử dụng công cụ quản lý bằng Hải quan nhằm định ra các chính
sách, luật pháp nhằm điều chỉnh hoạt động xuất-nhập khẩu, xuất nhập cảnh
bảo đảm cho việc phát triển quan hệ kinh tế, văn hoá trong nớc với nớc ngoài,
góp phần tăng cờng sự giao lu và hợp tác quốc tế, bảo vệ chủ quyền an ninh
quốc gia.
Quản lý nhà nớc về Hải quan còn là tổ chức thực hiện về kiểm tra Hải quan
tại biên giới, cửa khẩu và bất cứ nơi nào có hàng hoá xuất-nhập khẩu, phơng
tiện vận tải xuất nhập cảnh, bao gồm nhiều mặt hoạt động, trong đó hai mặt
hoạt động chủ yếu là thu thuế xuất-nhập khẩu và chống buôn lậu qua biên
giới.
Do đó, việc quản lý nhà nớc bằng công cụ Hải quan là vô cùng tất yếu,
chức năng quản lý đó thể hiện ở hai mặt : quản lý bằng chính sách luật pháp
và bằng hoạt động kiểm tra, giám sát. Nhà nớc ta tạo điều kiện thuận lợi đối
với hoạt động xuất-nhập khẩu, xuất nhập cảnh trên cơ sở tuân thủ luật pháp
Việt Nam.
Ngày nay, trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế đất nớc, hoạt động
kinh tế đối ngoại và sự giao lu quốc tế nói chung càng phát triển cả về chiều
sâu và chiều rộng, điều đó đặt ra yêu cầu khách quan phải tăng cờng hơn nữa
quản lý nhà nớc về Hải quan. Đối tợng quản lý càng mở rộng, phức tạp,
phong phú, có trình độ phát triển cao thì công tác quản lý cũng phải tăng c-
ờng tơng xứng mới đáp ứng yêu cầu quản lý.Vai trò và trách nhiệm của ngành
Hải quan do đó rất nặng nề nhng cũng rất vinh dự.
3. Vai trò của Hải quan trong công tác kiểm tra, giám sát hoạt
động xuất-nhập khẩu.
7
Nh trên đã khẳng định, hoạt động xuất-nhập khẩu cũng nằm trong những
đối tợng chịu sự quản lý của nhà nớc về kinh tế. Hoạt động xúât nhập khẩu,
bên cạnh những đóng góp tích cực vào tăng trởng và phát triển kinh tế thì vẫn
còn có nhiều tồn tại ( những khuyết tật, những mặt trái vốn có của nó) mà các
cơ quan chức năng của nhà nớc ( trong đó có Hải quan và thuế vụ, ngành tài
chính, cơ quan quản lý thị trờng ). Những mặt còn tồn tại này đòi hỏi các cơ
quan quản lý, nhất là lực lợng Hải quan phải hiểu rõ để chủ động ngăn ngừa,
hạn chế. Ví nh, do có cạnh trạnh nên dễ dẫn đến tranh mua, tranh bán lộn xộn;
các tệ nạn nh buôn lậu, trốn thuế, hối lộ nhân viên nhà nớc dẫn đến thất thoát
lớn là rất có chiều hớng xảy ra. Vì vậy, Hải quan nói riêng và các cơ quan
quản lý nói chung cần phát huy chức năng kiểm soát thờng xuyên, chặt chẽ
kịp thời đảm bảo việc xuất-nhập khẩu theo đúng pháp luật; và từ diễn biến
thực tế, nhà nớc không ngừng bổ sung, hoàn thiện luật pháp về xuất-nhập
khẩu. Trong cạnh tranh sẽ có những doanh nghiệp xấu để cản trở, phá hoại các
doanh nghiệp khác nhằm thôn tính kẻ yếu. Các cơ quan quản lý phải xem xét
mặt hiệu quả kinh tế xã hội để xây dựng luật pháp, cơ chế quản lý, kiếm soát
điều hành, điều tiết cho nhanh, phù hợp và có hiệu quả.
Công tác xuất-nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nớc ngoài để phát
triển sản xuất thơng mại, từ đó góp phần nâng cao đời sống nhân dân; nhng do
có yếu tố nớc ngoài nên có nhiều nét khác với nội thơng. Nó rất đa dạng, phức
tạp do có giao dịch với các doanh nhân và ngời có quốc tịch khác nhau, trong
một thị trờng rộng lớn, khó kiểm soát; việc mua bán qua trung gian chiếm tỉ
trọng lớn; đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh. Hàng hoá phải vận chuyển
qua biên giới, cửa khẩu của nhiều quốc gia khác nhau và phải tuân thủ tập
quán, những thông lệ quốc tế của các địa phơng, các vùng lãnh thổ khác
nhau
Chính tại những nơi đó, ngoài những chủ thể hàng hoá tuân thủ pháp luật
còn có những chủ thể có những hành vi buôn lậu, trốn thuế với những thủ
đoạn tinh vi. Vì vậy ở nớc ta cũng nh bất kì quốc gia nào, Hải quan có vị trí vô
cùng quan trọng trong lĩnh vực quản lý xuất-nhập khẩu, hàng hoá xuất nhập
cảnh và đặc biệt chống buôn lậu và ngăn chặn việc vận chuyển, buôn bán trái
phép hàng hoá, tiền tệ, tài sản, hàng cấm qua biên giới.
Từ ngày đất nớc thống nhất đến nay, Hải quan Việt Nam và các ngành chức
năng liên quan đã không ngừng lớn mạnh, phát triển góp phần to lớn vào công
cuộc xây dựng kinh tế xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia.
Hải quan là lực lợng gác cửa nền kinh tế đất nớc. Đây là vinh dự và trách
nhiệm rất nặng nề. Trong nền kinh tế thị trờng khi lợi nhuận cao thì buôn lậu
và gian lận thơng mại càng tinh vi, cuộc đấu tranh chống buôn lậu và gian lận
thơng mại càng gian nan và muốn đạt đợc kết quả cao thi phải tiến hành đồng
thời cuộc chiến tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Đó là những công việc
không thể tiến hành trong thời gian ngắn mà phải là một quá trình lâu dài và
liên tục.
Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nớc đối với hoạt động xuất-nhập khẩu,
ngành Hải quan góp phần thu hút các làn gió lành và ngăn chặn các làn gió
8
độc thổi vào nớc ta, tạo thuận lợi nhất cho các hoạt động kinh tế đối ngoại
đảm bảo thực hiện chính sách về nhập khẩu hàng hoá cũng nh chống buôn lậu
và gian lận thơng mại của nhà nớc CHXHCN Việt Nam.
Ngời lính biên phòng của nền kinh tế_ Hải Quan chịu trách nhiệm chính
ở các cửa khẩu, quốc gia, quốc tế nhằm kiểm tra, kiểm soát công khai hàng
hoá, tiền tệ, giữ vững kỉ cơng, phép nớc đối với hoạt động xuất-nhập khẩu,
xuất nhập cảnh và đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, bảo hộ và thúc đẩy sản xuất
trong nớc phát triển, bảo vệ lợi ích ngời tiêu dùng, bảo vệ lợi ích chủ quyền
kinh tế, an ninh quốc gia và an toàn xã hội góp phần chống lại các nguy cơ đối
với đất nớc mà đại hội đảng đã đề ra.
4. nội dung công tác kiểm tra và giám sát Hải quan
4.1. Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc của công tác kiểm tra, giám sát Hải
quan
a.mục đích.
Hải quan tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện chế độ kiểm tra giám sát
Hải quan với các đối tợng kiểm tra Hải quan nhằm :
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nớc về Hải quan đối với hoạt động xuất-
nhập khẩu, xuất-nhập cảnh, quá cảnh, mợn đờng khi qua biên giới Việt Nam.
- Bảo đảm thực hiện chính sách của nhà nớc về phát triển quan hệ kinh tế,
văn hoá với nớc ngoài, góp phần tăng cờng sự giao lu và hợp tác quốc tế, bẩo
vệ sản xuất trong nớc, bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia.
b. Yêu cầu.
- không để lọt các đối tợng kiểm tra Hải quan khi qua biên giới Việt Nam,
theo quy định phải làm thủ tục Hải quan, chịu sự kiểm tra giám sát Hải quan
mà lại không làm thủ tục Hải quan.
- Cần xác định rõ từng đối tợng kiểm tra Hải quan để áp dụng và thực hiện
đúng đắn các chế độ đối với từng loại đối tợng kiểm tra, không để lẫn lộn giữa
hàng hoá này với các hàng hoá loại khác, đối tợng kiểm tra loại này với đối t-
ợng kiểm tra loại khác.
- Phát hiện ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp lệnh hải Hải quan và các
luật lệ khác liên quan đến xuất-nhập khẩu.
- Thủ tục Hải quan phải công khai, nhanh chóng thuận tiện.
c. Nguyên tắc.
- Hàng hoá, hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam, bu kiện, bu phẩm xuất-
nhập khẩu, phơng tiện vận tải xuất nhập cảnh khi làm thủ tục Hải quan phải
chịu sự kiểm tra Hải quan.
9
- Hàng hoá, hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam, bu kiện, bu phẩm đã nhập
nhng cha hoàn thành thủ tục Hải quan hoặc đã hoàn thành thủ tục Hải quan
nhng cha thực xuất đều chịu sự giám sát Hải quan.
- Việc kiểm tra giám sát Hải quan đợc tiến hành với sự có mặt của chủ đối
tợng kiểm tra, giám sát hoặc đại diện hơp pháp tại địa điểm kiểm tra Hải quan
cửa khẩu trừ trờng hợp có yêu cầu tại địa điểm khác đợc Hải quan chấp nhận.
Trong trờng hợp cần thiết (lý do an ninh, vệ sinh môi trờng ) Hải quan có
quyền kiểm tra Hàng vắng chủ với sự có mặt của cơ quan vận tải ( điều 17 -
Pháp lệnh Hải quan ).
- Hàng hoá xuất-nhập khẩu chịu sự kiểm tra, giám sát nếu lu kho phải thực
hiện chế độ niêm phong Hải quan( điều 19-pháp lệnh Hải quan ).
- Các căn cứ để Hải quan kiểm tra hàng hoá xuất-nhập khẩu là :
+ Qui định của nhà nớc về xuất-nhập khẩu.
+ Các giấy tờ cần thiết khác theo qui định pháp luật
+ Đối chiếu với các tờ khai Hải quan, vân đơn và thực tế hàng hoá.
4.2. Thủ tục Hải quan.
4.1.1. khái niệm :
* Thủ tục Hải quan là các công việc mà ngời làm thủ tục Hải quan và nhân
viên Hải quan phải thực hiện theo qui định của pháp luật với các đối tợng làm
thủ tục Hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu; xuất cảnh, nhập cảnh hoặc quá
cảnh.
* Đối tợng làm thủ tục Hải quan :
- Hàng hoá, ngoại hối, kim khí, đá quý, tiền Việt Nam, văn hoá phẩm, tài
liệu, bu phẩm, bu kiện, các đồ vật và tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu; ph-
ơng tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh hoặc quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam
đều phải làm thủ tục Hải quan.
- Ngời làm thủ tục Hải quan là ngời thực hiện thủ tục với cơ quan Hải quan
bao gồm :
+ Ngời sở hữu đối tợng làm thủ tục Hải quan
+ Ngời đợc ủy quyền hợp pháp của ngời sở hữu đối tợng làm thủ tục Hải
quan.
+ Ngời làm dịch vụ thủ tục Hải quan theo quy định của pháp luật.
+ Ngời điều khiển phơng tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh.
- Việc làm thủ tục Hải quan đợc tiến hành tại các cửa khẩu, càng biển, cảng
sông, cảng hàng không dân dụng quốc tế, cửa khẩu biên giới đờng bộ, ga liên
vận đờng sắt quốc tế, bu cục ngoại dịch, bu cụ kiểm quan, các địa điểm làm
10
thủ tục Hải quan khác ngoài cửa khẩu do thủ tớng chính phủ quyết định theo
đề nghị của tổng cục trởng tổng cục Hải quan.
4.2.2. Qui trình thủ tục Hải quan với hàng hoá xuất-nhập khẩu.
Thực hiện nghị định của chính phủ qui định về thủ tục Hải quan số 16/1999
ND-CP. Cục Hải quan thành phố đã tiến hành thủ tục Hải quan đối với hàng
hoá nhập khẩu bao gồm các bớc sau:
a. Khai báo và tiếp nhận hồ sơ Hải quan.
Tất cả các hàng hoá không thuộc diện miễn thủ tục Hải quan thì phải khai
báo cho Hải quan cửa khẩu.
* Ngời khai báo có trách nhiệm :
-Tự kê khai hàng hoá xuất-nhập khẩu theo mẫu tờ khai do cụ Hải quan
phát hành
- Phải khai đầy đủ các mục in sẵn trong tờ khai hàng, phần đành cho chủ
hàng. Đặc biệt phải chính xác đầy đủ tên hàng, mã, số lợng đơn giá, trị giá của
hàng hoá đó. Nếu khai thiếu không chính xác, Hải quan không cho đăng ký tờ
khai.
- Nộp và xuất trình bộ hồ sơ Hải quan, gồm các giấy tờ sau:
+ Tờ khai Hải quan.
+ Hợp đồng thơng mại.
+ Bảng kê chi tiết (PACKING-LIST) đối với hàng không đồng nhất.
+ Hoá đơn thơng mại, vân đơn : với hàng nhập khẩu
+ Các giâý tờ khác.(với các loại hàng khác).
* Nhân viên Hải quan tiếp nhận hồ sơ Hải quan có trách nhiệm :
- Kiểm tra tính hợp lệ và đồng bộ của hồ sơ Hải quan.
- Kiểm tra nội dung tự kê khai và tự tính thuế của ngời khai báo Hải quan.
- Đề xuất phơng pháp kiểm tra thích hợp qua kết quả kiểm tra sơ bộ hồ sơ
Hải quan và các tiêu chí phân luồng kiểm tra
Tờ khai Hải quan và những giấy tờ kèm theo của chủ đối tợng kiểm tra Hải
quan khai báo và nộp Hải quan là cơ sở pháp lý thông qua đó có thể xác định
hành vi vi phạm pháp lệnh Hải quan nếu có, đồng thời là cơ sở để Hải quan
thực hiện các khâu nghiệp vụ tiếp theo.
b. Xuất trình và kiểm tra hàng hoá.
Căn cứ vào bộ hồ sơ đã đợc đăng ký để kiểm hoá. Nguyên tắc qui trình về
kiểm hoá thi hành theo qui chế ban hành kèm theo quyết định 189/TCHQ-
GSQL ngày 7/10/1994. Kiểm tra hàng hoá phải xác định đầy đủ chính xác nội
dung hàng hoá, đặc biệt chính xác về mã hàng hoá khai báo với thực tế số l-
11
ợng, trọng lợng. Sau khi ghi đầy đủ, chính xác kết quả kiểm hoá, chuyển toàn
bộ hồ sơ cho bộ phận tính và thông báo thuế.
* Với ngời làm thủ tục Hải quan
- Xuất trình đầy đủ hàng hoá để cơ quan kiểm tra theo thời gian và địa điểm
quy định.
- Bố trí phơng tiện và công nhân phục vụ việc kiểm tra hàng hoá của cơ
quan Hải quan.
- Có mặt trong thời gian kiểm hoá hàng hóa.
* Đối với cơ quan Hải quan :
- Trong thời gian và tại địa điểm qui định phải tiến hành kiểm tra thực tế
hàng hoá đối với bộ kê khai và tự tính thuế của chủ hàng.
- Căn cứ và quy định của nhà nớc về xuất-nhập khẩu, quá trình chấp hành
pháp luật của ngời làm thủ tục Hải quan, tính chất chủng loại hàng hoá, nguồn
gốc hàng hoá. Hải quan nơi tiến hành kiểm tra quyết định phơng pháp kiểm
tra, kiểm tra toàn bộ; kiểm tra nguyên đai nguyên kiện hoặc kiểm tra một
phần theo qui định của tổng cục trởng tổng cục Hải quan.
- Xác nhận kết quả kiểm tra hàng hoá và tờ khai Hải quan trong đó ghi rõ
phơng pháp kiểm tra hàng hoá, kết quả kiểm tra cụ thể và số sai lệch (nếu có)
giữa tự kê khai của chủ hàng và kiểm tra thực tế của cán bộ Hải quan.
- Trờng hợp ngời làm thủ tục Hải quan không nhất trí kết quả kiểm tra hàng
hoá của cơ quan Hải quan thỉ đợc quyền trng cầu giám định tại các tổ chức
giám định đợc nhà nớc cho phép. Nếu cơ quan Hải quan không nhất trí kết
quả giám định trên thì cơ quan Hải quan đề nghị bộ khoa học công nghệ môi
trờng hoặc bộ quản lý chuyên ngành giải quyết. Kết luận của bộ khoa học,
công nghệ môi trờng hoặc bộ quản lý chuyên ngành là kết luận cuối cùng.
c. Thông báo thuế, thu, nộp thuế.
* Yêu cầu :
- Phải đảm bảo thu đúng, thu đủ thuế.
- Thủ tục tính thuế, ra thông báo thuế và thu thuế phải nhanh, thuận tiện, rõ
ràng chính xác.
* Với cán bộ nhân viên Hải quan làm ở bộ phận này phải :
- Nắm vững qui trình nghiệp vụ Hải quan, qui trình nghiệp vụ tính thuế.
- Nắm chắc luật thuế xuất khẩu, thuế GTGT, thuế TTĐB, chính sách phụ thu
và tỉ giá chuyển đổi hàng ngày và các văn bản chuyển đổi.
- Có kiến thức về kế toán thuế, phân loại hàng hoá theo hồ sơ, về trị giá Hải
quan ( trị giá GATT/WTO), xuất xứ hàng hàng hoá (C/O).
12
- Nắm vững phơng pháp chuyển đổi.
* Nội dung :
Việc tính thuế, thông báo thuế, thu thuế thực hiện theo qui định của luật
thuế xuất-nhập khẩu và các thuế khác có liên quan.
- Căn cứ vào kết quả kiểm tra, căn cứ và số lợng, trọng lợng của từng loại
hàng hoá ghi nhận trên tờ khai nhân viên tính thuế tiến hành tính thuế cho
từng tờ khai. Phải tính thuế cho từng nhóm hàng, từng mặt hàng và số thuế
phải nộp ghi cả bằng số và bằng chữ trên tờ khai. đối với hàng khai trị giá
bằng ngoại tệ phải chuyển sang đồng Việt Nam để tính thuế, phải ghi rõ tỉ giá
quy định đổi sang ngoại tệ.
- Sau khi kết toán số thuế, cần thông báo cho chủ hàng biết bằng văn bản và
yêu cầu chủ hàng ký nhận.
- Trong thời gian qui định của pháp luật, ngời sở hữu đối tợng làm thủ tục
Hải quan có nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các loại thuế
khác liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu (nếu có ) theo qui định.
- Ngoài ra chủ hàng phải làm nghĩa vụ khác hay nộp lệ phí Hải quan trong
một số trờng hợp pháp luật quy định.
d. Giải phóng hàng :
- Đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu không có thế, hàng đợc miễn thuế,
hàng có thuế suất bằng 0, hàng gia công, hàng đặc biệt khác sẽ đợc giải phóng
ngay sau khi có kết luận về kết quả kiểm tra của cơ quan Hải quan.
- Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện có thuế đợc giải phóng
hàng sau khi đã nộp thuế, hàng có thời hạn, án hạn thuế đợc giải phóng hàng
sau khi đã nhận thông báo thuế.
e. Kiểm tra sau khi giải phóng hàng.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm lu giữ hồ sơ Hải quan của những lô hàng đã
giải phóng trong thời hạn năm năm kể từ ngày giải phóng hàng và có trách
nhiệm xuất trình bộ hồ sơ cùng sổ sách chứng từ có liên quan khi cơ quan Hải
quan yêu cầu.
- Cơ quan Hải quan thông qua việc kiểm tra hồ sơ Hải quan lu tại Hải quan
hoặc qua các nguồn thông tin khác mà phát hiện có sai lệch về số thuế phải
nộp của doanh nghiệp thì đợc phép kiểm tra hồ sơ lu ở doanh nghiệp, cùng các
sổ sách, chứng từ có liên quan đến lô hàng đợc giải phóng.
4.3. Kiểm tra Hải quan:
a. Khái niệm :
Kiểm tra Hải quan là việc cơ quan Hải quan xem xét, xác định tính hợp
pháp, tính chính xác của bộ hồ sơ Hải quan về thực tế hàng hoá, vật phẩm.
Việc kiểm tra Hải quan đợc tiến hành tại các điịa điểm làm thủ tục Hải quan
13
và các địa điểm kiểm tra hàng hoá xuất-nhập khẩu do tổng cục trởng tổng
cục hải quan qui định.
b.Nguyên tắc kiểm tra Hải quan ( gọi tắt là kiểm hoá ).
- Việc kiểm tra chỉ đợc tiến hành sau khi lô hàng đã đợc đăng ký tờ khai.
Kiểm tra bộ hồ sơ hợp pháp, hợp lệ; tuyệt đối không đợc kiểm tra trớc khi
nhận tờ khai.
- Chỉ đợc kiểm hoá ở khu vực cửa khẩu hoặc ở những địa điểm kiểm tra
ngoài cửa khẩu đợc Hải quan tỉnh, thành phố chấp nhận bằng văn bản.
- Hải quan một tỉnh, thành phố không đợc kiểm tra tại địa bàn một tỉnh,
thành phố khác mà ở đó không có tổ chức Hải quan. Trờng hợp đó chủ hàng
phải làm thủ tục Hải quan cho lô hàng ở tỉnh, thành phố sở tại.
* Với nhân viên kiểm hoá :
- Cán bộ nhân viên trực tiếp kiểm hoá thực hiện đúng thời gian đã thống
nhất với chủ hàng. Nhân viên kiểm hoá không đợc thay đổi thời gian kiểm
hoá.
- Việc kiểm hoá phải có ít nhất 2 nhân viên Hải quan thực hiện.
- Chỉ đợc kiểm hoá khi có mặt đại diện chủ hàng.
- Chỉ đợc ghi kết quả kiểm hoá khi đã thực hiện kiểm hoá xong. Tuyệt đối
không đợc ghi kết quả trớc khi kiểm hoá mà chỉ ghi theo hồ sơ.
- Kết quả kiểm hoá phải đợc ghi đầy đủ, cụ thể,chính xác. Những sai lệch
giữa bản kê khai hàng với kiểm tra thực tế lô hàng phải đợc kèm theo biên bản
ghi nhận hoặc biên bản vi phạm để làm cơ sở cho xử lý sau này.
- Chỉ đợc thu các bản lệ phí theo quy định của nhà nớc và hớng dẫn của
tổng cục Hải quan.
- Nhân viên kiểm hóa phải có thái độ trung thực khách quan, khẩn trơng,
đúng đắn lịch sự trong khi kiểm hoá và trong quan hệ với chủ hàng.
c. Yêu cầu.
- Kiểm hoá Hải quan là một khâu nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong quy
định nghiệp vụ kiểm tra, giám sát và quản lý về Hải quan. Công tác kiểm hoá
yêu cầu cần phải bảo đảm đợc đúng tên hàng, số lợng, trọng lợng, chất l-
ợng,xuất xứ hàng hoá xuất-nhập khẩu.
- Kiểm hoá tên hàng, ký hiệu mã hiệu hàng hoá để bảo đảm khớp đúng giữa
tờ khai với thực tế hàng hóa xuất-nhập khẩu, nhằm ngăn chặn gian lận, né
tránh trong khai báo để đợc hởng thuế suất thấp hơn, gây thất thu thuế cho nhà
nớc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét