LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "TLV10(hỗn hợp)": http://123doc.vn/document/561185-tlv10-hon-hop.htm
giữa đường đứt gánh, ai mà không đau khổ. Nhưng, gánh nặng vật chất thì san sẻ được,
nhờ người khác giúp đỡ được, còn gánh tương tư mà nhờ người khác giúp đỡ cũng là điều
hiếm thấy xưa nay. Vì vậy, Kiều mới phải cậy em, mới phải lạy, phải thưa, vì nàng hiểu
nỗi khó khăn, sự tế nhị của gánh nặng này. Rõ ràng, Thúy Vân cũng phải hi sinh tình yêu
của mình để giúp chị. Trong hoàn cảnh bi thương của mình, Thúy Kiều không chỉ trao
duyên mà còn trao cả nỗi đau của mình cho em gái. Tuy nhiên, Thúy Vân vốn là cô gái vô
tư, thơ ngây trong gia đình họ Vương lúc vạ gió tai bay, Thúy Kiều phải giành cho mình
phần hi sinh lớn hơn; không chỉ hi sinh tình yêu mà hi sinh cả cuộc đời để cứu cha, cứu
em.
Trao duyên cho em nhưng nào đã dễ trút đi gánh nặng? Bao nhiêu kỉ niệm ngày xưa của
mối tình đầu, kỉ niệm đẹp đẽ của một thời ào ạt trở về. Những kỉ vật thiêng liêng nàng vẫn
giữ, minh chứng cho tình yêu của nàng với chàng Kim, dễ gì trong phút chốc lại phải trao
sang tay người khác, cho dù người đó chính là em gái mình? Tình yêu đôi lứa vốn có chút
ít ích kỉ bên trong, đó cũng là lẽ thường tình. Chiếc thoa với bức tờ mây, Phím đàn với
mảnh hương nguyền vốn là kỉ vật riêng của Thúy Kiều, kỉ vật ấy có ý nghĩa tượng trưng
cho hạnh phúc của nàng. Bây giờ, những kỉ vật thiêng liêng ấy, nàng phải trao cho em,
không còn là của riêng của nàng nữa mà đã trở thành của chung của cả ba người. Đau xót
làm sao khi buộc phải cắt đứt tình riêng của mình ra thành của chung! Biết vậy nhưng
Thúy Kiều cũng đã trao cho em với tất cả tấm lòng tin cậy của tình ruột thịt, với tất cả sự
thiêng liêng của tình yêu với chàng Kim. Nàng thuyết phục em mới khéo làm sao:
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Trên hết giữa chị với em là tình máu mủ; vì tình máu mủ ai nỡ chối nhau? Vì vậy, suốt từ
đầu đến cuối đoạn thơ không hề thấy lời nói của Thúy Vân. Thúy Kiều như người đang
dốc bầu tâm sự, nàng phải dốc cạn với em mới có thể thanh thản ra đi. Nàng tưởng tượng
đến lúc mình đã chết, oan hồn trở về lẩn quất bên chàng Kim. Khi đó, âm dương cách biệt,
chỉ có chén nước mới giải được mối oan tình. Lời tâm sự sao mà thương!
Cuối đoạn thơ nàng tưởng như mình đang nói với người yêu. Nỗi lòng vẫn ngổn ngang tâm
sự, vẫn còn trăm nghìn điều muốn nói với chàng, vẫn không làm sao kể cho xiết muôn vàn
ái ân giữa nàng với chàng; không giữ được trọn lời thề nguyền với chàng, nàng đành gửi
chàng trăm nghìn lạy. Nàng gọi Kim Trọng là tình quân, nàng xót xa cho duyên phận của
mình tơ duyên ngắn ngủi, nàng tự coi mình là người phụ bạc. Thật đau khổ biết bao: trao
duyên rồi, đã nhờ em trả nghĩa cho chàng Kim rồi mà nỗi buồn thương vẫn chất chứa trong
lòng nàng Kiều. Phải chăng, một lần nữa Nguyễn Du đã thể hiện đúng quy luật tâm lí của
con người: cái gì đong mà lắc thì vơi, nhưng: sầu đong càng lắc càng đầy là như thế! Tình
duyên dẫu có cố tình dứt bỏ vẫn còn vương tơ lòng là như vậy. Cuối đoạn thơ, mặc dù
Kiều đã giãi bày hết nỗi khổ tâm riêng của mình với em, đã nhờ em trả nghĩa cho Kim
Trọng nhưng những đau khổ vì tình duyên tan vỡ trong tâm trí nàng vẫn không nguôi. Vẫn
còn mang nặng nợ tình với Kim Trọng, vẫn biết mình phận bạc, Thúy Kiều vẫn phải thốt
lên đau đớn:
Ôi Kim Lang! Hỡi Kim Lang!
Thôi thôi thiếp dã phụ chàng từ đây!
Phải chăng đây là tiếng thơ kêu xé lòng mà sau này nhà thơ Tố Hữu đã nói thay bao người,
bao thế hệ!
Đoạn thơ, trừ những câu đầu tâm sự với Thúy Vân, trao duyên cho Thúy Vân, còn thực
chất là đoạn độc thoại nội tâm của Thúy Kiều. Với nghệ thuật thể hiện tài tình, Nguyễn Du
giúp người đọc nhìn thấu tâm trạng đau khổ của Thúy Kiều. Càng hiểu nàng bao nhiêu, ta
càng thương nàng bấy nhiêu, cảm phục nàng bấy nhiêu. Bởi vì người ta có thể hi sinh mọi
thứ vì tình yêu, còn nàng thì lại hi sinh tình yêu vì chữ hiếu. Điều đó chẳng đáng cảm phục
lắm sao?
Bai lam 2:
Trao duyên
Đoạn trích chủ yếu thể hiện tâm trạng của Kiều trước và sau khi trao
duyên cho em. Trước cảnh gia đình gặp bao nguy nan, Kiều đã phải quên
thân mà bán mình chuộc cha, đó vừa là sự hi sinh cao cả nhưng cũng đã
đẩy Kiều vào ngõ cụt k lối thoát trước những lời hẹn ước cùng tình quân _
Kim Trọng.
Trong cảnh:"Nỗi riêng riêng những bàng hoàng/
Dầu chong trắng đỉa lệ tràn thấm khăn" Kiều không thể nghĩ ra được điều
gì để giúp nàng thoát khỏi dòng tù túng này. Bất chợt Vân đến: "Thúy
Vân chợt tỉnh giấc xuân/Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han", Vân đến và
như 1 tia sáng lóe lên trong đầu Kiều, nàng đã biết ng có thể giúp nàng
thoát khỏi vòng "cơ trời dâu bể đa đoan này" chỉ có em gái mình mà thôi.
Lúc này Kiều đã lấy lại lí trí của chính mình, nàng đã tự hạ mình với em
"cậy em em có chịu lời/ ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa", từ xưa đến nay có
bao giờ có chuyện chị "lạy" em và còn "thưa" thốt vs em, điều này chứng
tỏ điều Kiều sắp nói sẽ vô cùng hệ trọng, từ "cậy" đã cho thấy sự tin tưởng
hết lòg của Kiều vào em, nó như sự ràng buộc ban đầu mà Kiều dành cho
em. Kiều thuyết phục em nhận lời trao duyên bằng những lí lẽ rất thuyết
phục, nàng kể lại chuyện tình giữa nàng và Trọng, nàng kể chuyện gia
đình, nói ra tình thế của nàng hiện giờ và còn lấy cả tình chị em để bắt Vân
nhận lời: "ngày xuân em hãy còn dài/ xót tình máu mủ thay lời nước non".
Nhưng dù trao duyên cho em thì đó cũng là nhờ em giữ tạm chứ k phải
trao hẳn về em: "chiếc thoa vs bức tờ mây/ duyên này thì giữ, vật này của
chung". Kiều đã làm một việc mà nàng những tưởng rằng sau khi thực
hiện xong nàng có thể "ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây" nhưng đâu
phải đơn giản như thế, tâm lí con ng vô cùng phức tạp, nhiều lúc nó vượt
ra khỏi tầm kiểm soát của bản thân con ng, Kiều cũng lâm vào hoàn cảnh
này. Sau khi trao duyên, kiều bước vào thế giới nội tâm của riêng mình,
lúc này tác giả đã chuyển từ đối thoại sang độc thoại nội tâm để làm nhấn
mạnh tâm trạng của Kiều. Hàng loạt hình ảnh âm u, chết chóc và bi
thương hiện ra trước mắt Kiều đc thể hiện qua các từ ngữ: "mệnh bạc, dạ
đài, thác oan, rưới xin giọt nước, phận bạc như vôi " và hàng lọat câu thơ
khác. Nàng đã làm xong nhiệm vụ vs ng yêu xem như k thất tín và mang
tiếng bội bạc, đáng lẽ phải nhẹ nhõm nhưng đằng này nàng lại dày vò
chính mìh, nàng còn đau khổ hơn cả lúc trước khi trao duyên, đây là lúc
Kiều sống vs chính mình, đối diện vs mình, nàng đối mặt vs sự thật mà
quên cả sự có mặt của Vân, nàng k còn lí trí nữa, lúc này chỉ có trái tim
nàng lên tiếng và thổn thức.
ND đã rất tài tình và tinh tế trong cách miêu tả tâm lí nhân vật, càng làm
nổi bật lên 1 TK tài sắc, nếu nàng k đau khổ thì Kiều k còn là Kiều và ND
cũng k còn là ND nữa rồi.
__________________
bạn nào giúp mình thuyết minh về cách trồng lúa nước ở việt nam .
cám ơn mọi người nhiều nhiều lắm á:
bai lam:
- +Dàn ý :
- Nghề trồng lúa lâu đời, đồng bằmg Sông Hồng, Cửu Long, vựa lúa cả nước.
- Hai vụ lúa
- Nhiều giống lúa
- Nguồn sống loài người
- Nghề trồng lúa là nghề căn bản nhà nông
- Cây lúa -> trồng -> gieo -> cấy -> phát triển -> thu hoạch
- Hạt gạo ăn, làm bánh, xuất khẩu.
- Rơm rạ, chất đốt, chăn nuôi, lộp nhà, làm nấm.
- Cảm nghĩ cây lúa quê em
-Một vài ý tưởng :
Còn nhỏ là cây mạ, lớn lên là cây lúa, bông đâm ra gọi là đòng, hạt lúa non là cốm,
hạt lúa già là thóc; bông lúa gặt về thì phần còn lại ngoài đồng là rạ, đập tách hạt
thóc ra rồi thì phần còn lại của bông lúa là rơm; sau khi xay giã xong thì hạt thóc
chia thành gạo, cám, trấu; gạo gãy gọi là tấm; gạo nấu lên thành cơm, xôi, nấu cho
nhiều nước thành cháo, chế biến thành món quà là bỏng, Cây lúa lại có nhiều
loại: nếp, tẻ, mùa, chiêm Trong số các loại lúa, khi xưa, người Việt dùng lúa nếp
là chính, trong lúa tẻ thì lúa mùa là chính.
-Các câu ca dao , tục ngữ về lúa :
+Người sống về gạo, cá bạo về nước
+Cơm tẻ mẹ ruột
+Đói thì thèm thịt thèm xôi, hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường.
+"Ở Lĩnh Nam có nhiều thóc tẻ, mà ở Giao Chỉ là nhiều nhất. Còn thóc nếp thì ở
An Nam có nếp trắng, nếp vàng, đến hơn mười giống; họ dùng gạo tẻ nấu cơm ăn
và gạo nếp để nấu rượu" (sách Quảng Đông có chép )
+"Về các nguồn lợi thì có thóc gạo là dồi dào và đến rất phì nhiêu. Có hai mùa gặt
vào tháng sáu và tháng một, vì thế giá rẻ tới ba lần so với Tàu". (Vào tk. XVII. A.
de Rhodes viết)
-Có hai vụ lúa chính : vụ chiêm và vụ xuân.
-Lợi ích, công dụng của cây lúa :
Cây lúa đóng vai trò chính, chủ yếu trong việc cung cấp lương thực cho nhân dân
Việt Nam, Nó góp phần làm giàu đất nước qua việc xuất khẩu thu ngoại tệ
Ngày nay, Việt Nam được xem là một trong các nước có sãn lượng lúa xuất khẩu
hàng đầu thế giới.
Song song với hình ảnh con trâu, cây lúa đã đi sâu vào đời sống quần chúng, nhân
dân qua thơ ca, ca dao tục ngữ, văn học, âm nhạc
-Nguồn gốc của cây lúa :ở vùng đầm lầy phía dưới chân núi Hymalaya và phía Bắc
Ấn Độ .
*Mời các bạn tham khảo phần mở bài :
Nước Việt Nam ta có bề dày lịch sử 2000 năm văn hiến, văn hóa lúa nước được
ông cha ta phát triển phổ biến rộng rãi từ rất sớm, buổi đầu dựng nước và duy trì
mãi đến ngày nay, tập trung ở đồng bằng sông hồng và Châu thổ đồng bằng sông
Cửu Long.
Khi nói đến Việt Nam, tra nghĩ ngay đến hình tượng cây lúa nước, nó được xem là
biểu tượng nét đặc trưng của văn hóa, truyền thống của Nước Việt xưa và nay.
- Sau đây là LD ý tui kiếm đc:
Cây lúa Việt Nam
1) Thể loại: Thuyết minh
2) Đối tượng thuyết minh: Cây lúa Việt Nam
3) Yêu cầu: phải biết kết hợp phương pháp thuyết minh với một số biện pháp nghệ
thuật
DÀN Ý
I. Mở bài:
- Từ bao đời nay, cây lúa đã gắn bó và là một phần không thể thiếc của con người
Việt Nam
- Cây lúa đồng thời cũng trở thành tên gọi của một nền văn minh – nền văn minh
lúa nước.
II. Thân bài:
1. Khái quát:
- Cây lúa là cây trồng quan trọng nhất thuộc nhóm ngũ cốc.
- Là cây lương thực chính của người dân Việt Nam nói chung và của Châu Á nói
riêng.
2. Chi tiết:
a. Đặc điểm, hình dạng, kích thước:
- Lúa là cây có một lá mầm, rễ chùm.
- Lá bao quanh thân, có phiến dài và mỏng.
- Có 2 vụ lúa: chiêm, mùa.
b. Cách trồng lúa: phải trải qua nhiều giai đoạn:
- Từ hạt thóc nảy mầm thành cây mạ.
- Rồi nhổ cây mạ cấy xuống ruộng
- Ruộng phải cày bừa, làm đất, bón phân.
- Ruộng phải sâm sấp nước.
- Khi lúa đẻ nhánh thành từng bụi phải làm có, bón phân, diệt sâu bọ.
- Người nông dân cắt lúa về tuốt hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo…
c. Vai trò của cây lúa và hạt gạo:
- Vấn đề chính của trồng cây lúa là cho hạt lúa, hạt gạo.
- Có nhiều loại gạo: gạo tẻ, gạo nếp (dùng làm bánh chưng, bánh dày)…
+ Gạo nếp dùng làm bánh chưng, bánh dày hay đồ các loại xôi.
+ Lúa nếp non dùng để làm cốm.
- Lúa gạo làm được rất nhiều các loại bành như: bánh đa, bánh đúc, bánh giò, bánh
tẻ, bánh phở, cháo,…
không có cây lúa thì rất khó khăn trong việc tạo nên nền văn hóa"Nếu ẩm thực độc
đáo của Việt Nam.
d. Thành tựu:
- Ngày nay, nước ta đã lai tạo được hơn 30 giống lúa được công nhận là giống lúa
quốc gia.
- Việt Nam từ một nước đói nghèo đã trở thành một nước đứng thứ 2 trên thế giới
sau Thái Lan về sản xuất gạo.
III. Kết bài:
- Cây lúa vô cùng quan trọng đối với đời sống người Việt
- Cây lúa không chỉ mang lại đời sống no đủ mà còn trở thành một nét đẹp trong
đời sống văn hóa tinh thần của người Việt
Đề 2: Có ý kiến cho rằng: tập quán xấu ban đầu là người khách qua đường,
sau trở thành người bạn thân và ở chung nhà và kết cục biến thành ông chủ
nhà khó tính".
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài: giới thiệu
2. Thân bài:
- Thừa nhận ý kiến đó đúng.
* Giải thích:
- Tập quán: thói quen đã thành nếp trong sinh hoạt hằng ngày và trong đời sống xã
hội, được một lớp người hay một tầng lớp tuân theo tự nhiên. Có tập quán tốt và tập
quán xấu.
- Người khách qua đường: người gặp gỡ tình cờ, không có quan hệ thân thiết với
nhau, gặp rồi quên ngay.
- Người bạn thân thiết ở chung nhà: những người có quan hệ gắn bó về mọi mặt,
không dễ xa nhau hoặc xa nhau.
- Ông chủ nhà khó tính: người điều khiển, sai bảo hết sức khắc nghiệt, chi phối mọi
người trong nhà.
* Sức quyến rũ của tật xấu:
- Tập quán xấu không đến ngay một lúc mà đến từ từ, tình cờ khiến người ta không
quan tâm.
- Khi thói quen xấu trở thành nhu cầu thường xuyên, cần thiết thì khó dứt bỏ vì nó đã
"trở thành người bạn thân ở chung nhà".
- Thói hư tật xấu là bạn đồng hành của chủ nghĩa cá nhân ích kỉ.
- Tập quán xấu đáp ứng những thú vui không lành mạnh, do đó nó có sức cuốn hút,
hấp dẫn ghê gớm, đặc biệt với tuổi trẻ nông nỗi và bồng bột.
* Sự ràng buộc, phi phối của nó:
- Tập quán xấu điều khiển con người. Lúc đầu thôi thúc, con người sẽ hành động bất
chấp hậu quả, dù phải dùng mọi thủ đoạn xấu xa, đê hèn.
- Một khi đã nhiễm phải thói xấu lâu ngày thì rất khó từ bỏ vì nó đã thành "một ông
chủ khó tính". Thói xấu sẽ chi phối, ràng buộc và làm con người khổ sở.
D/c: Sự gian dối, lười biếng, đua đòi, ăn chơi, nghiện ngập sẽ dẫn đến thóai hóa đạo
đức, nhân cách, gây tác hại lớn cho bản thân, gia đình và xã hội.
* Bài học rút ra:
- Tránh xa thói hư tật xấu.
- Khi lỡ mắc cần cố gắng sửa.
- Xây dựng cho mình thói quen, tập quán có ích.
3.Kết bài: khẳng định ý nghĩa.
- ban hay thu doc nhung bai nay xem co giup ich ji khong, minh chi copy lai thoi
PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “BÌNH NGÔ ÐẠI CÁO”
I. VÀI VẤN ĐỀ CHUNG
1. Hoàn cảnh ra đời:
Cuối năm 1427, Vương Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ở Việt Nam, đã
phải mở cửa thành Ðông Quan đầu hàng. Cuộc kháng chiến 10 năm đã kết thúc vẻ
vang. Thay mặt vua Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo nhằm tổng kết quá trình kháng
chiến và tuyên cáo thành lập triều đại mới. 2. Về thể loại Cáo:
Nếu văn học động viên mọi người chiến đấu thì văn Cáo lại có ý nghĩa tuyên ngôn
nhằm công bố cho mọi người biết những chủ trương chính trị trọng đại của toàn
dân tộc như việc xác lập hòa bình, đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng vương
triều mới.
Cáo viết bằng thể văn biền ngẫu, số câu chữ không hạn chế, văn phong mang tính
chính luận nên trang trọng, sắc bén, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục.
Kết cấu của bài đại cáo bình Ngô tuân thủ đúng kết cấu của các tác phẩm Thang
cáo (được chép trong chương Thương Thư của sách Kinh Thư) và Vũ cáo hay đại
cáo Vũ Thành (được chép trong chương Chu thư của sách Kinh Thư).
3. Về tựa đề bài Cáo:
Những quan niệm khác nhau về ý nghĩa của chữ Ngô trong Bình Ngô đại cáo
- Ngô: Một cách gọi theo thói quen của người Việt Nam thời đó để chỉ chung người
trung Quốc.
- Ngô: tên vùng đất xuất thân của Chu Nguyên Chương (tức Minh Thành tổ).
- Ngô: Một cách gọi của nhân dân để chỉ những tên giặc gian ác, tàn bạo.
II. PHÂN TÍCH
1. Nêu luận đề chính nghĩa:
- Luận đề này được xây dựng dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa 3 yếu tố: Nhân
nghĩa, dân và nước:
+ Nhân nghĩa: điếu dân phạt tội, bênh vực cho kẻ khốn cùng, chống lại các thế lực
phi nhân.
+ Dân: Dân trong tác phẩm là những người thuộc tầng lớp thấp nhất nhưng lại
chiếm đa số trong xã hội nông nghiệp thời đó. Ðó là những dân đen, con đỏ,
thương sinh, phu phen, manh lệ, những người có vai trò lịch sử quan trọng, góp
phần đánh đuổi giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước.
+ Nước: Khái niệm nước bao gồm mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố
Văn hiến
Ðịa lý
Phong tục tập quán
Các triều đại chính trị
Hào kiệt
Truyền thống lịch sử vẻ vang
Những quan niệm của Nguyễn Trãi trong bài Cáo về Nhân nghĩa, Dân, Nước đều
xuất phát từ chính thực tiễn kế thừa phát triển của truyền thống yêu nước, phù hợp
với đạo đức truyền thống và hoàn cảnh lịch sử đương thời. Những quan niệm này,
so với trước, đã có nhiều biến đổi, phát triển do sự chi phối của hoàn cảnh lịch sử.
2. Vạch trần tội ác giặc:
Các nhà nghiên cứu xem đoạn văn này là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác
khủng khiếp của giặc Minh trong 20 năm trên mảnh đất Ðại Việt.
Ðể đảm bảo vừa tăng cường sức thuyết phục vừa đạt được tính cô đọng, hàm súc
của ngôn từ văn chương, Nguyễn Trãi sử dụng đan xen, kết hợp hàihòa giữa những
hình ảnh mnag tính chất khái quát với những hình ảnh có tính cu, sinh động.
3. Tổng kết quá trình kháng chiến:
a. Hình ảnh của Lê Lợi buổi đầu kháng chiến
Tập trung miêu tả hình ảnh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã khái quát toàn vẹn nưng phẩm
chất tiêu biểu nhất của con người yêu nước ở thế kỷ XV. Những đặc điểm của con
người yêu nước trong văn học thời kỳ này thường có đặc điểm sau:
- Xuất thân bình thường:
Ta đây
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
- Có tấm lòng căn thù giặc sâu sắc:
Ngẫm thù lớn há đội trời
Căm giặc nước thề không cùng sống
- Khở đầu gặp nhiều khó khăn nhưng luôn có tinh thần vượt khó, kiên trì:
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn
Ta gắng chí khắc phục gian nan
- Biết tập hợp, đoàn kết toàn dân:
Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phất phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
- Biết sử dụng chiến lược, chiến thuật tài tình:
Thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều
- Biết nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa trong mọi hoạt động:
Ðem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân mà thay cường bạo
Có thể nói, Lê Lợi chính là hình ảnh tiêu biểu của những con người yêu nước dám
hy sinh quên mình đứng dậy chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập tự do của dân tộc.
b. Miêu tả quá trình kháng chiến
- Ở đây, ta không tìm thấy những anh hùng cá nhân trong văn chương trung đại hay
trong các tác phẩm anh hùng ca của Hy Lạp cổ đại. Bài Cáo tập trung làm sáng rõ
vai trò của một tập thể anh hùng, những người mà trước kia văn học bác học chưa
quan tâm đi sâu, khai thác
- Tuy nhiên, đối với tướng giặc, tác giả lại miêu tả đầy đủ, cụ thể từng gương mặt,
họ tên, chức tước và tư thế thất bại của từng tên một.
- Cách sử dụng liệt kê ngày tháng thể hiện rõ nhịp độ dồn dập của những trận chiến
thắng.
4. Tuyên bố hòa bình, xây dựng vương triều mới:
- Nhịp thơ dàn trải, trang trọng
- Khẳng định thế thịnh suy tất yếu
bài này dài thật.NGữ Văn 10 có mấy bài văn dài wa
[COLOR="Red"] bai khac ne;[/COLOR]
Xuất xứ
Năm 1407, giặc Minh xâm lăng nước ta. Năm 1417, tại núi rừng Lam Sơn, Thanh
Hoá, Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa xưng là Bình Định Vương. Trải qua mười năm
kháng chiến vô cùng gian lao và anh dũng, nhân dân ta quét sạch giặc Minh ra khỏi
bờ cõi. Mùa xuân năm 1428 thay lời Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo "Bình Ngô Đại
cáo". Nó là một luận văn chính trị, quân sự, đồng thời là áng "thiên cổ hùng văn"
Chủ đề
"Bình Ngô đại cáo" khẳng định sức mạnh nhân nghĩa Đại Việt căm thù lên án tội ác
ghê tởm của quân "cuồng Minh", ca ngợi những chiến công oanh liệt thuở "Bình
Ngô", tuyên bố đất nươc Đại Việt bước vào kỷ nguyên mới độc lập, thái bình bền
vững muôn thuở.
Phân tích
1. Đại Việt là một đất nước có truyền thống nhân nghĩa cao đẹp.
a) Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nêu cao ngọn cờ nhân nghĩa, đem "quân điếu phạt" để
tiêu diệt quân cường bạo, vì độc lập của nước, vì sự yên vui hạnh phúc của nhân
dân:
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
b) Nguồn gốc của nhân nghĩa Đại Việt là nền văn hiến lâu đời. Đâu phải "Nam
man" là "man di mọi rợ". Như bọn hoàng đế phương Bắc thường láo xược phán
truyền. Trái lại, Đại Việt là một quốc gia "vốn xưng nền văn hiễn đã lâu". Nền văn
hiến ấp hợp thành bởi các nhân tố:
- Có núi sông bờ cõi "đã chia", đã " định phận tại Thiên thư".
- Có thuần phong mĩ tục.
- Có nền độc lập vững bền: "Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập", "hùng cứ
một phương".
- Lắm nhân tài hào kiệt.
- Có truyền thống anh hùng chống ngoại xâm, có những trang sử vàng chói lọi từng
làm cho "Lưu Cung thất bại", "Triệu Tiết tiêu vong", "bắt sống Toa Đô", "giết tươi
Ô mã".
2. "Bình Ngô đại cáo" là bản cáo trạng đanh thép, đầy căm thù tội ác quân "cuồng
Minh". Tác giả đứng trên quan điểm nhân nghĩa mà lên án quân xâm lược.
- Giặc Minh tàn sát dã man nhân dân ta:
"Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ"
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét