LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "một số ý kiến nhằm hoàn thiện chính sách thuế để hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở việt nam": http://123doc.vn/document/1053656-mot-so-y-kien-nham-hoan-thien-chinh-sach-thue-de-ho-tro-phat-trien-khu-vuc-kinh-te-tu-nhan-o-viet-nam.htm
dàng tạo lập với một lợng vốn không lớn, sử dụng lao động tại chỗ nên hầu nh
không phải giải quyết nơi ở cho ngời lao động, điều kiện đào tạo tay nghề của
ngời lao động thuận lợi hơn so với các khu vực kinh tế khác, chi phí đào tạo
không đáng kể.
2.3 Khu vực KTTN cung cấp một khối lợng lớn sản phẩm và dịch vụ, đa
dạng và phong phú về chủng loại, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Các DNTN với một số lợng đông đảo trong nền kinh tế đã tạo ra một sản l-
ợng, thu nhập đáng kể cho xã hội. Do đặc tính linh hoạt và mềm dẻo, doanh
nghiệp trong khu vực KTTN có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa
dạng, phong phú, độc đáo của ngời tiêu dùng. Sản phẩm của các doanh nghiệp
nhà nớc thờng mang tính chất công ích hoặc làm theo kế hoạch, chỉ đạo từ trên
xuống, những sản phẩm lớn, giá cao. Những sản phẩm nhỏ phục vụ tiêu dùng th-
ờng ít đợc sản xuất thờng phù hợp hơn với các doanh nghiệp t nhân.
2.4 Khu vực KTTN thu hút vốn đầu t trong dân c và sử dụng tối u các
nguồn lực tại địa phơng
Việc tạo lập DNTN không cần quá nhiều vốn, điều đó đã tạo cơ hội cho
đông đảo dân c có thể tham gia đầu t. Chính vì vậy, DNTN đợc coi là phơng tiện
có hiệu quả trong việc huy động, sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân c và
biến nó thành các khoản vốn đầu t.
Với quy mô nhỏ và vừa, lại đợc trải đều trên hầu hết các vùng lãnh thổ nên
doanh nghiệp t nhân có khả năng tận dụng đợc các tiềm năng về nguyên vật liệu
có trữ lợng hạn chế, không đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất quy mô lớn nhng lại
sẵn có ở địa phơng, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của các
doanh nghiệp lớn.
2.5 Khu vực KTTN góp phần quan trọng trong việc tạo lập sự phát triển cân
bằng và chuyển dịch cơ cấu theo vùng, lãnh thổ, đẩy mạnh CNH, HĐH
Thông thờng các DNNN tập trung ở những khu trung tâm, vùng đô thị, nơi
có cơ sở hạ tầng phát triển. Do đó mà có sự mất cân đối về trình độ phát triển
6
kinh tế, văn hoá xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng trong một
quốc gia.
Chính sự phát triển của kinh tế t nhân góp phần quan trọng tạo lập sự cân
đối giữa các vùng. Nó giúp cho vùng kém phát triển hơn có thể khai thác đợc
tiềm năng của vùng, của địa phơng để phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ,
tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu theo vùng, lãnh thổ.
2.6 Khu vực KTTN góp phần tăng nguồn hàng xuất khẩu và tăng nguồn
thu cho ngân sách Nhà nớc
Ngày nay mối quan hệ giao lu kinh tế, văn hoá giữa các quốc gia phát triển
rộng rãi đã làm cho các sản phẩm truyền thống trở thành một nguồn xuất khẩu
quan trọng. Việc phát triển KTTN đã tạo ra khả năng thúc đẩy khai thác tiềm
năng của ngành nghề truyền thống ở các địa phơng mỗi nớc nh các ngành nghề
thủ công mỹ nghệ, du lịch, lễ hội,
Bên cạnh đó, sự tạo lập, phát triển các DNTN một cách dễ dàng sẽ làm gia
tăng số lợng doanh nghiệp và gia tăng khả năng cung ứng sản phẩm. Cùng với
điều đó sẽ làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc. Mặc dù số đóng góp của
một doanh nghiệp không lớn nhng với lực lợng đông đảo, DNTN cũng đóng góp
một phần đáng kể cho ngân sách nhà nớc.
Tóm lại, tuy KTTN ở mỗi nớc có đặc điểm và mức độ phát triển khác nhau
nhng đều là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, đóng một vai trò quan trọng
trong việc phát triển kinh tế xã hội, duy trì các ngành nghề truyền thống, tăng
kim ngạch xuất khẩu, cho đất nớc. Chính vì vậy sự tồn tại và phát triển của kinh
tế t nhân là một tất yếu khách quan và cần thiết trong quá trình phát triển của mỗi
quốc gia.
II- Vai trò của chính sách thuế trong việc phát triển
khu vực kinh tế t nhân
Để phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải khai thác và sử dụng mọi tiềm
năng của đất nớc. Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một
7
trong những nội dung quan trọng của sự nghiệp đổi mới nhằm giải phóng sức sản
xuất, khai thác mọi nguồn lực rộng rãi trong toàn xã hội bao gồm các nguồn lực
lao động, vốn, tài nguyên và đặc biệt là trí tuệ, kỹ năng kinh nghiệm của mọi ng-
ời dân cho việc phát triển kinh tế. Mặt khác, chính sách phát triển kinh tế nhiều
thành phần làm cho đại đa số dân chúng tham gia vào hoạt động kinh tế, tham
gia đầu t. Một trong những vấn đề quan trọng của việc phát triển kinh tế nhiều
thành phần là phải đa dạng hoá các hình thức đầu t, các loại hình doanh nghiệp
để mọi ngời có thể tham gia đầu t. Trong đó phát triển kinh tế t nhân là hình thức
thích hợp kích thích đầu t trực tiếp có hiệu quả để phát triển kinh tế.
Để phát triển khu vực KTTN Nhà nớc phải sử dụng hệ thống công cụ bao
gồm hệ thống công cụ hành chính, pháp luật, công cụ kinh tế, công cụ tài chính
trong đó chính sách Thuế là công cụ rất quan trọng và có hiệu lực của Nhà nớc.
1- Nội dung của chính sách Thuế:
Thuế đợc coi là một trong những công cụ sắc bén nhất của Nhà nớc do có
tính cỡng chế và pháp lý cao.
Chính sách thuế bao gồm các sắc thuế nh thuế GTGT, thuế thu nhập doanh
nghiệp(TNDN), thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế môn bài, thuế tài nguyên
Trong mỗi sắc thuế quy định cụ thể về: đối tợng nộp thuế, đối tợng chịu thuế, căn
cứ tính thuế, thuế suất, các trờng hợp miễn giảm
Bằng việc ban hành hệ thống luật thuế, Nhà nớc sẽ quy định đánh thuế
hoặc không đánh thuế, thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng, các ngành nghề,
đối với từng vùng, từng loại hình doanh nghiệp. Qua đó mà tác động khuyến
khích hoặc kìm hãm sự phát triển của một ngành nghề, một vùng hoặc một khu
vực kinh tế.
Các sắc thuế tác động trực tiếp lên các yếu tố đầu vào: lao động, vật t, tiền
vốn, hoạt động xuất nhập khẩu, tác động trực tiếp lên lợi nhuận và kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
8
2- Vai trò của chính sách thuế trong việc phát triển khu vực
KTTN
2.1 Thúc đẩy các tầng lớp dân c bỏ vốn đầu t trực tiếp tạo lập doanh nghiệp
mới
Bằng chính sách u đãi thuế, miễn giảm thuế đối với các doanh nghiệp mới
thành lập, Nhà nớc đã kích thích các tầng lớp dân c bỏ vốn ra thành lập các
doanh nghiệp mới. Nhà nớc có thể đánh thuế cao vào thu nhập từ hoạt động buôn
bán bất động sản để doanh nghiệp chuyển từ đầu t vào bất động sản, dự trữ ngoại
tệ, vàng sang đầu t vào sản xuất kinh doanh.
2.2 Góp phần thúc đẩy khả năng tự tích luỹ và mở rộng khả năng huy động
vốn từ bên ngoài, giúp DNTN tăng cờng năng lực tài chính để sản xuất kinh
doanh
Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động, Nhà nớc cũng có các biện pháp
khuyến khích doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua
chính sách miễn giảm thuế, hoàn thuế thu nhập nếu doanh nghiệp sử dụng lợi
nhuận sau thuế để tái đầu t. Chẳng hạn, khi mức đánh thuế của Chính phủ tăng
lên, phần thu nhập còn lại của nhà đầu t sẽ giảm xuống, vì vậy các nhà đầu t sẽ bị
giảm bớt động lực kinh doanh. Ngợc lại, khi mức đánh thuế của Nhà nớc giảm
xuống sẽ có tác dụng khuyến khích tăng trởng đầu t và tái đầu t.
2.3 Hớng dẫn và điều tiết hoạt động của các DNTN ngành nghề và các khu
vực theo định hớng của Nhà nớc
Tăng trởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi nớc. Nhà nớc là ngời
hoạch định chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội và trên cơ sở đó sử dụng các công
cụ quản lý vĩ mô để điều hành nền kinh tế vận động theo định hớng đã đề ra.
Nhà nớc có thể sử dụng chính sách u đãi, miễn giảm thuế, chính sách tín
dụng u đãi để hớng các DNTN phát triển ở những ngành nghề cần u tiên phát
triển, những vùng hải đảo, miền núi xa xôi hẻo lánh để khai thác tiềm năng tại
9
địa phơng, từng bớc xoá bỏ sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng
bằng và miền núi.
2.4 Tăng khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh
tranh của các DNTN trên thị trờng trong nớc và quốc tế
Nhà nớc thực hiện hoàn thuế đầu vào cho các doanh nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu nh một hình thức tài trợ gián tiếp của Nhà nớc để hỗ trợ cho cho hoạt
động kinh doanh của các DNTN bên cạnh các hình thức nh trợ giá xuất khẩu, hỗ
trợ đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật, hỗ trợ về công nghệ, xúc tiến
thơng mại nhằm giúp các DNTN nâng cao khả năng hoạt động kinh doanh và khả
năng cạnh tranh trên thị trờng.
3. Các chỉ tiêu phản ánh sự tác động của chính sách Thuế đến
sự phát triển của khu vực KTTN
Để cụ thể hoá sự tác động của các chính sách Thuế lên sự phát triển của
khu vực KTTN, ta có thể dựa vào các chỉ tiêu nh sau:
3.1 Nhóm chỉ tiêu định lợng:
(1) Nhóm chỉ tiêu nguồn lực:
+ Tổng số doanh nghiệp tăng lên
Chỉ tiêu này đợc xác định bằng cách so sánh số lợng doanh nghiệp qua các
năm tính bằng số tuyệt đối. Nó chính là số chênh lệch giữa số lợng doanh nghiệp
ngừng hoạt động do nhiều lý do khác nhau nh phá sản, giải thể và số lợng doanh
nghiệp mới đợc thành lập do sự tác động của nhiều yếu tố trong đó có sự tác
động tích cực của các chính sách Thuế
+ Tổng vốn đầu t của khu vực KTTN tăng lên:
Nhờ chính sách Thuế khuyến khích đầu t mà tổng vốn đầu t vào khu vực
KTTN ngày càng tăng. Chỉ tiêu này đợc xác định bằng cách tính tổng lợng vốn
đầu t của xã hội vào khu vực KTTN qua các năm. Vốn đầu t có thể tính bằng
10
đồng Việt Nam hoặc bằng USD. Ngoài ra ngời ta còn có thể so sánh tỷ trọng vốn
đầu t trong khu vực t nhân với tổng vốn đầu t của toàn xã hội qua các năm.
(2) Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
+ Tổng giá trị sản xuất:
Chỉ tiêu này đợc tính bằng tổng giá trị quy ra tiền của khối lợng hàng hoá
dịch vụ mà khu vực KTTN cung cấp cho xã hội. Do chính sách Thuế tích cực sẽ
thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNTN, nhờ đó mà
tổng giá trị sản xuất của tăng lên qua các năm, ngợc lại, nếu các chính sách Thuế
tồn tại những bất cập sẽ kìm hãm khu vực KTTN phát huy hết khả năng của
mình.
+ Tổng giá trị xuất khẩu:
Chỉ tiêu này đợc tính bằng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của khu
vực KTTN, quy ra đồng Việt Nam hoặc USD.
+ Tổng giá trị đóng góp vào GDP:
Chỉ tiêu này phản ánh mức đóng góp của khu vực KTTN cho nền kinh tế
quốc dân hàng năm.
(3) Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh:
Chỉ tiêu này dựa trên kết quả tổng kết hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp trong năm. Nó đo bằng tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi trong khu vực
KTTN, trên cơ sở so sánh với tỷ lệ doanh nghiệp làm ăn có lãi trong khu vực
KTNN.
3.2. Nhóm các chỉ tiêu định tính:
(1) Nhóm chỉ tiêu hoạt động thị trờng:
+ Khả năng cung cấp hàng hoá cho thị trờng
+ Khả năng cạnh tranh
+ Khả năng liên doanh liên kết theo lĩnh vực hoạt động.
11
(2) Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ đa dạng về ngành nghề và địa điểm
phân bổ:
+ Mức độ đa dạng về ngành nghề
+ Mức độ đa dạng về địa điểm phân bổ
Chơng II
Thực trạng tác động của chính sách thuế đối
với sự phát triển kinh tế t nhân ở Việt Nam
12
I. Tình hình phát triển của khu vực KTTN ở Việt Nam
1. Tình hình phát triển của khu vực KTTN
Trớc năm 1986, theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa truyền thống, cơ
cấu các thành phần kinh tế nớc ta trong thời kỳ này chuyển dịch theo hớng thiên
vị cho khu vực KTNN. Điều đó chẳng những hạn chế sự đóng góp của khu vực
KTTN mà còn làm tăng thêm tình trạng đối nghịch với hoạt động quản lý của
Nhà nớc-phát triển kinh tế ngầm nằm ngoài sự kiểm kê kiểm soát của chính
quyền.
Từ năm 1986 đến nay, Đại hội VI của Đảng (1986) đã chỉ ra những sai lầm
về kinh tế trong đó có vấn đề về cơ cấu các thành phần kinh tế. Để khắc phục
những sai lầm đó, Đại hội đã xác định nền kinh tế nớc ta là nền kinh tế nhiều
thành phần. Từ đó khu vực KTTN đợc bớc sang thời kỳ mới- đợc khôi phục và
khuyến khích phát triển. Thực trạng KTTN ở nớc ta có thể đợc khái quát qua một
số khía cạnh sau:
Số lợng doanh nghiệp
Nếu nh vào năm 1991, cả nớc mới có 414 doanh nghiệp của t nhân thì đến
hết năm 1995 đã có 15.276 doanh nghiệp, năm 1999 có 30.500 doanh nghiệp,
tăng gấp 74 lần so với năm 1991. Tính bình quân giai đoạn 1991-1999, mỗi năm
tăng 3.388 doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2002, tổng cộng có khoảng 86.207
doanh nghiệp t nhân đăng ký kinh doanh.
Tuy nhiên, tỷ lệ số doanh nghiệp bình quân trên dân số mới có 1/1000
ngời, còn thấp so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, chẳng hạn vào
năm 1999 tỷ lệ của Mỹ là 1/20, của Nhật và Hàn Quốc là 1/40, của Đài Loan là
49/1000 và tỷ lệ hiện nay ở nớc ta chỉ tơng đơng với tỷ lệ này ở Thái Lan vào
năm 1991.
Biểu1: Số lợng DNTN trong nền kinh tế
13
Nguồn: VietnamNet 17/5/2003
Quy mô doanh nghiệp t nhân
Doanh nghiệp trong khu vực kinh tế t nhân hầu hết có quy mô nhỏ, một
số có quy mô vừa, số có quy mô lớn rất ít (Theo Nghị định số 90/2001NĐ-CP
ngày 23/11/2001 của Chính phủ thì định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở
sản xuất kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 ngời). Trong các
doanh nghiệp phi nông nghiệp số doanh nghiệp có dới 300 lao động chiếm
97,71%, số doanh nghiệp có vốn thực tế sử dụng nhỏ hơn 10 tỷ đồng chiếm
94,93% bình quân vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp là 3,7 tỷ đồng. Trong
các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp, các con số thống kê hiện có cũng
cho thấy quy mô còn nhỏ hơn: số lao động trung bình là 12,7 ngời, số vốn đăng
ký là 248 triệu đồng.
Cơ cấu của các DNTN
Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp
Trong tổng số doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN, doanh nghiệp t nhân
chiếm 58,76%, công ty TNHH chiếm 36,68% và công ty cổ phần chỉ chiếm hơn
2% chứng tỏ mô hình công ty cổ phần cha thích hợp với thói quen và tâm lý của
ngời Việt Nam, đồng thời môi trờng pháp lý không thuận lợi để phát triển công
-
10,000
20,000
30,000
40,000
50,000
60,000
70,000
80,000
90,000
1992
1994
1996
1998
2000
2002
Số doanh nghiệp
-
10,000
20,000
30,000
40,000
50,000
60,000
70,000
80,000
90,000
1992
1994
1996
1998
2000
2002
Số doanh nghiệp
14
ty cổ phần. Đây cũng là một nguyên nhân hạn chế quy mô và khả năng tăng vốn
của doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN. Hơn nữa tiến trình cổ phần hoá DNNN
diễn ra chậm chạp, tính đến tháng 10/2002 mới có 997 doanh nghiệp chuyển đổi
sở hữu càng làm cho cơ cấu loại hình trong kinh tế t nhân khó thay đổi.
Cơ cấu ngành nghề
Theo số liệu điều tra thì có tới 51,9% DNTN tập trung trong lĩnh vực kinh
doanh thơng mại, dịch vụ sửa chữa và nhà hàng, khách sạn, du lịch; 20,8%
DNTN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp; số lợng DNTN hoạt động
trong lĩnh vực nông nghiệp nhỏ lẻ, không đáng kể, chỉ khoảng 12%.
Nguyên nhân các DNTN tập trung nhiều trong lĩnh vực thơng mại là do
lĩnh vực này thích hợp với quy mô nhỏ, không hoặc ít có nhu cầu tăng vốn;
không cần đầu t vào công nghệ vừa đòi hỏi vốn lớn, vừa gặp phải rủi ro cao;
nhanh chóng thu hồi vốn; năng động, dễ rút khỏi thị trờng; hứa hẹn khả năng
sinh lợi cao và phù hợp với tâm lý kinh doanh của ngời Việt Nam.
Trong lĩnh vực sản xuất, các DNTN còn chiếm tỷ trọng thấp. Đây là lĩnh
vực cần nhiều vốn, công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến. Tuy nhiên, các
DNTN cũng đã đạt đợc những kết quả nhất định. Hàng năm, tốc độ tăng trởng
giá trị sản xuất của khu vực KTTN vào khoảng 10-14%.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ có một số lợng không lớn các DNTN
hoạt động vì không có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng, địa lý, giao dịch, trao
đổi. Mặt khác hoạt động của các doanh nghiệp lại phụ thuộc quá nhiều vào thời
vụ. Các lĩnh vực khác nh xây dựng, ngân hàng đòi hỏi vốn khá lớn và mức độ rủi
ro cao
Nh vậy, xét về cơ cấu ngành nghề của khu vực KTTN là có sự mất cân
đối.
Cơ cấu theo lãnh thổ
- Theo vùng:
Các DNTN ở nớc ta phân bố không đều, đa số tập trung ở đồng bằng và
đô thị, nơi có cơ sở hạ tầng phát triển và thị trờng tiêu thụ rộng lớn, hội tụ đầy đủ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét