LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng của vấn đề với những diễn biến trong thời gian gần đây, những thành công cũng như những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó": http://123doc.vn/document/1052005-thuc-trang-cua-van-de-voi-nhung-dien-bien-trong-thoi-gian-gan-day-nhung-thanh-cong-cung-nhu-nhung-ton-tai-va-nguyen-nhan-cua-nhung-ton-tai-do.htm
ở Mĩ, mục tiêu của các chính sách kinh tế cũnglà mục tiêu của chính
sách tiền tệ : 6 mục tiêu cơ bản đợc ngời của cục dự trữ liên bang nêu lên
thờng xuyên là: công ăn việc làm, tăng trởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn
định lãi suất, ổn định tài chính, ổn định thị trờng ngọai hối. Thực chất, 6
mục tiêu đó gộp lại là: ổn định tiền tệ, tăng trởng kinh tế và cán cân thanh
toán. Chính vì NHTƯ Mĩ có một quyền độc lập khá rõ nên việc xác định
những mục tiêu này thờng dựa trên khẳ năng thực tế của họ.
Mục tiêu chính sách tiền tệ ở Việt Nam:
Trớc đây, với cơ chế quản lý NH một cấp cha linh hoạt, cộng với việc
điều hành chính sách tiền tệ bằng các công cụ trực tiếp, chỉ tiêu, pháp lệnh
cùng với những nguyên nhân khác đã làm cho lạm phát tăng đến 3 chữ số,
nền kinh tế bị suy thoái trầm trọng. Bắt đầu từ việc chuyển sang nền kinh tế
thị trờng, chúng ta đã đặt ra mục tiêu quan trọng nhất, đó là ổn định giá cả,
kiềm chế lạm phát và tăng trởng
Để thực hiện những mục tiêu đó, nhà nớc đã sử dụng một hệ thống các
chính sách vĩ mô nhằm điều hành và kiểm soát nền kinh tế nh chính sách
tiền tệ, chính sách tài chính,chính sách ngoại thơng mà trong đó, mỗi chính
sách đều góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô trên cơ sở
hoàn tất các mục tiêu riêng của mình.
Mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ là mục tiêu về tiền tệ và
mục tiêu về kinh tế. Với t cách là một trong các chính sách lớn của kinh tế
vĩ mô, chính sách tiền tệ có mục tiêu trực tiếp và cuối cùng là giữ vững giá
trị đồng tiền, ổn định tiền tệ và điều này có tác động quyết định tới mục tiêu
kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, nó còn bao gồm mục tiêu gián tiếp về kinh tế, đó là
tăng trởng kinh tế cùng với mức thất nghiệp thấp và giảm sự thăng trầm của
chu chuyển nền kinh tế, vì thế, nó có một ý nghĩa quan trọng trong việc
thực hiện các mục tiêu về kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
II. Ngân hàng trung ơng :
Có 4 tác nhân có ảnh hởng tới quá trình cung ứng tiền tệ, đó là ngân
hàng trung ơng, những trung gian tài chính, những ngời gửi tiền và những
ngời vay tiền từ ngân hàng. Trong 4 tác nhân trên thì sự tác động của
NHTƯ là quan trọng nhất và có ảnh hởng mạnh mẽ nhất tới cung ứng tiền
tệ. NHTƯ là cơ quan của chính phủ có chức năng theo dõi bao quát hoạt
động hệ thống ngân hàng và có trách nhiệm thực hiện việc chỉ đạo chính
sách tiền tệ.
ở phần trên đã trình bày khái quát về chính sách tiền tệ và trớc khi nói
về các công cụ của chính sách tiền tệ thì em sẽ trình bày về vai trò và tác
động của NHTƯ, bởi vì chính NHTƯ là ngời đánh giá và sử dụng các công
cụ để thực thi chính sách tiền tệ ở mỗi quốc gia.
1. Quá trình phát triển:
Sự ra đời của hệ thống ngân hàng có tính chất khách quan của quá
trình phát triển nền kinh tế. Lúc ban đầu, tất cả các ngân hàng đều là ngân
hàng thơng mại và những ngân hàng này là những ngân hàng đa năng, thực
5
hiện cả việc phát hành & kinh doanh tiền tệ. Sau này, do quá trình cạnh
tranh và xu hớng thôn tính lẫn nhau giữa các ngân hàng mà hình thành nên
các ngân hàng lớn có uy tín trên thơng trờng. Các ngân hàng này tách ra
khỏi hệ thống ngân hàng thơng mại và chuyên làm nhiệm vụ phát hành bởi
kì phiếu của họ có sức cạnh tranh rất cao và đợc tất cả mọi ngời chấp nhận.
Nhà nớc cho phép các ngân hàng phát hành đợc độc quyền phát hành các kì
phiếu ngân hàng cho các ngân hàng thơng mại, các tổ chức tín dụng và
công chúng vay. đó chính là tiền thân của giấy bạc ngân hàng ngày nay. Về
sau, do tầm quan trọng của việc kiểm soát hoạt động phát hành tiền đối với
nền kinh tế, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, phần lớn
các ngân hàng phát hành đã đợc quốc hữu hoá và với cơ sở pháp lý vững
chắc, ngân hàng phát hành lúc này đã trở thành ngân hàng trung ơng
(NHTƯ).
Trớc khi ngân hàng nhà nớc ra đời, nền kinh tế đã có sẵn một hệ thống
công cụ kì phiếu do lịch sử phát triển của nền kinh tế hàng hoá để lại. Lúc
đầu, các công cụ này làm chức năng công cụ nghiệp vụ trong hoạt động
ngân hàng, về sau, chúng trở thành những công cụ quản lý vĩ mô khi ngân
hàng nhà nớc ra đời. Ngày nay, cùng với sự phát triển của mình, NHTƯ đã
dần dần hoàn thiện và thiết lập một hệ thống các công cụ bao gồm các
công cụ truyền thống và các công cụ mới, phù hợp với điều kiện hiện tại
nhằm điều hành có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia.
NHTƯ có 2 loại, phụ thuộc và không phụ thuộc vào chính phủ. Tuỳ
vào từng loại mà NHTƯ có những quyền hạn và trách nhiệm khác nhau.
Nếu NHTƯ phụ thuộc vào chính phủ thì nó sẽ thay mặt nhà nớc để quản lý
về tiền tệ, tín dụng, ngoại hối, ngân hàng. Nó sẽ chịu trách nhiệm về sự ổn
định giá trị của đồng tiền & các mục tiêu khác. Để hoàn thành trách nhiệm
này, NHTƯ sẽ tác động tới khối lợng cung ứng tiền tệ trên thị trờng bằng
các công cụ của chính sách tiền tệ, cụ thể ở việc quyết định tỉ lệ dự trữ bắt
buộc, khung lãi suất cũng nh các quyết định về bơm-hút tiền trong lu
thông bằng các kênh khác nhau để phù hợp với yêu cầu thực thi chính sách
tiền tệ của từng giai đoạn.
2. Vai trò của NHTƯ trong việc thực hiện chính sách tiền tệ:
NHTƯ bằng việc điều khiển chính sách tiền tệ có thể thực hiện việc
quản lý gián tiếp sự phát triền chung của nền kinh tế, giảm thấp những
thăng trầm và biến động của nền kinh tế, điều tiết cung tiền và lãi suất.
Chẳng hạn, khi nền kinh tế sau một thời gian tăng trởng lâm vào tình trạng
suy thoái, xuất hiện các loại lạm pháp cầu kéo hoặc lạm pháp chi phí đẩy
thì NHTƯ phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, hay thực hiện việc
kích cầu. Sở dĩ nh vậy vì nếu các đơn vị sản xuất rơi vào tình trạng không
tiêu thụ đợc hàng hoá sẽ giảm bớt sản lợng, sa thải công nhân, làm tăng thất
nghiệp trong xã hội, các hạng mục đầu t cũng sẽ giảm sút và kết quả là gây
ra tình trạng suy thoái lan rộng. Vai trò của chính sách tiền tệ của NHTƯ
trong việc làm giảm bớt những thăng trầm chu chuyển trong nền kinh tế, vì
thế, có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh
tế-xã hội. Việc sử dụng chính sách tiền tệ của NHTƯ gắn liền với mục tiêu
chính sách tiền tệ của quốc gia và mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia đó.
6
Xuất phát điểm mà NHTƯ đa ra các công cụ điều hành chính sách tiền
tệ là những mục tiêu & giải pháp đồng bộ đợc NHTƯ sử dụng nhằm tác
động vào khả năng sẵn có và giá vốn khả dụng, qua đó ảnh hởng lên toàn
bộ hoạt động tiền tệ tín dụng thanh toán trong nền kinh tế. Nói cách khác,
chính sách tiền tệ phải đảm bảo giá trị đồng tiền và an toàn hệ thống tín
dụng bằng cách kiểm soát các kênh bơm và rút tiền của NHTƯ trong lu
thông. Đây là nhiệm vụ kiểm soát lợng tiền cung ứng, đợc điều tiết qua 2
kênh là kênh là kênh tín dụng và kênh mua bán. Các cách làm tăng hay
giảm lợng tiền cung ứng đều có những u và nhợc điểm khác nhau và đợc sử
dụng phụ thuộc vào những điều kiện khách quan của nền kinh tế & khả
năng cho phép của NHTƯ.
III. Hệ thống các công cụ của chính sách tiền tệ của
NHTƯ:
Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, NHTƯ bằng các phơng tiện thông
tin dữ liệu và nhạy cảm của mình phải sử dụng các công cụ của chính sách
tiền tệ đúng lúc kịp thời. Điều này ảnh hởng quyết định tới những biến
động và trạng thái của nền kinh tế. Cùng một lúc, NHTƯ có thể sử dụng
nhiều công cụ nh lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tín dụng, hoạt động trờng
mở, dự trữ bắt buộc nhằm bơm hút tiền theo các kênh, ngăn chặn đà suy
thoái hoặc kìm hãm ngay sự tăng trởng khi nền kinh tế quá nóng, không để
tăng trởng vợt mức tiềm năng.
Ngày nay, trong điều kiện hoạt động tín dụng phát triển, hệ thống ngân
hàng 2 cấp và các trung gian tài chính đa dạng, NHTƯ phải điều hành
chính sách tiền tệ bằng các công cụ thích hợp, bao gồm các công cụ truyền
thống, các công cụ bổ trợ và các công cụ trung gian khác ứng với từng giai
đoạn cụ thể của sự phát triển.
Mỗi một công cụ mà NHTƯ sử dụng có một sự tác động theo các cách
khác nhau lên khối lợng tiền cung ứng và mức độ tác động mạnh yếu khác
nhau, cũng nh có các u nhợc điểm riêng. Tuỳ vào yêu cầu của từng giai
đoạn cũng nh là khả năng của NHTƯ và mức độ phát triển của thị trờng mà
các công cụ này đợc sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ
của NHTƯ.Vai trò của các công cụ chính sách tiền tệ chính là ở việc giúp
cho chính sách tiền tệ đợc thực hiện một cách có hiệu quả, mà cụ thể là việc
tác động vào lợng tiền cung ứng nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu
của chính sách tiền tệ trong giai đoạn đó.
a. Các công cụ truyền thống:
Các công cụ truyền thống mà NHTƯ sử dụng để điều tiết lợng cung
ứng tiền tệ trên thị trờng là: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu và
hoạt động thị trờng mở
1. Dự trữ bắt buộc:
a. Giới thiệu chung:
Đây là công cụ truyền thống nhất đợc sử dụng để điều hành chính sách
tiền tệ của NHTƯ. Tỉ lệ dự trữ bắt buộc là một tỉ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền
mặt với các khoản kí gửi mà NHTƯ yêu cầu các NHTM phải duy trì. Đó
7
chính là là tỷ lệ giữa số lợng phơng tiện thanh toán cần khống chế, tức là bị
vô hiệu hoá về mặt thanh toán trên tổng số tiền gửi nhằm điều chỉnh khả
năng thanh toán và khả năng tín dụng của các NHTM.
Tỉ lệ dự trữ bắt buộc có liên quan mật thiết với khả năng tạo tiền của
các NHTM, bởi vì trong hoạt động tín dụng và thanh toán, các NHTM có
khả năng biến những khoản tiền gửi ban đầu thành những khoản tiền gửi
mới cho cả hệ thống, khả năng sinh ra bội số tín dụng, tức là khả năng tạo
tiền. Chúng ta sẽ nghiên cứu khả năng này của NHTM. Chẳng hạn, với một
khoản tiền gửi ban đầu là 1000đ ở một ngân hàng thơng mại thứ 1 nào đó,
sau khi thực hiện dự trữ bắt buộc theo qui định của NHTƯ, ví dụ là 10%
trên số tiền gửi này, số còn lại ( 900đ) sẽ đợc đem cho vay hoặc thực hiện
các bút toán thanh toán khác. Với giả thiết số tiền 900đ này đợc đem gửi
đến ngân hàng thứ 2. Ngân hàng này cũng thực hiện dự trữ bắt buộc theo
qui định của NHTƯ và số tiền còn lại( 810đ) lại đợc đem cho vay hoặc
thanh toán ở một ngân hàng thơng mại thứ 3 nào đó. Quá trình cứ tiếp tục
và kết thúc chuỗi qui trình này thì toàn bộ hệ thống ngân hàng đã tạo ra một
số tiền mới gấp 10 lần số tiền gửi ban đầu(10000đ).
Chính vì các ngân hàng thơng mại có khả năng tạo ra một bội số tiêng
gửi lớn đến nh vậy nên để khống chế khả năng này, NHTƯ buộc các
NHTM phải trích một phần tiền huy động đợc, theo một tỉ lệ qui định, gửi
vào NHTƯ và phần tiền này không đợc hởng lãi. Do vậy, cơ chế hoạt động
của công cụ dtbb chính là nhằm khống chế khả năng tạo tiền, hạn chế mức
tăng bội số tín dụng của các NHTM. Nếu một khoản dự trữ bắt buộc đang
có hiệu lực, các NHTM có thể dự trữ một lợng tiền mặt cao hơn dự trữ tiền
mặt theo yêu cầu( hay còn gọi là dự trữ quá mức), nhng không đợc giữ ít
hơn. Nếu lợng tiền mặt của họ giảm xuống thấp hơn lợng bắt buộc, họ phải
vay tiền mặt ngay, thờng là vay tiền của NHTU để khôi phục lại tỉ lệ dự trữ
bắt buộc của họ.
Khi NHTƯ qui định một mức dự trữ cao hơn khoản dự trữ mà các
ngân hàng muốn giữ, các ngân hàng sẽ tạo ra các khoản kí gửi ít hơn và
cho vay ít hơn mức họ muốn làm. Mặt khác, do hầu hết NHTƯ không trả
lãi cho khoản tiền dự trữ bắt buộc nên các NHTM không thể thu đợc gì trên
số tiền này. Do vậy, dự trữ bắt buộc giống nh một khoản thuế đánh vào các
ngân hàng bằng cách buộc họ phải duy trì một tỉ lệ dự trữ cao hơn trong
tổng số các khoản có dới dạng dự trữ ngân hàng và một khoản cho vay có
lãi suất cao.
b. Tác động của dự trữ bắt buộc đối với lợng tiền cung ứng:
Nếu NHTƯ nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi có thể phát
séc, trong khi tất cả các biến số khác khác đều không đổi, cùng một mức
tiền dự trữ không thể cân xứng với với một số tiền gửi có thể phát séc lớn
nh vậy, cần có nhiều tiền dự trữ hơn bởi vì tiền dự trữ bắt buộc cho số tiền
gửi có thể phát séc này đã tăng. Sự thiếu hụt này sẽ làm cho các ngân hàng
phải thu nhỏ các món tiền cho vay của họ. Vì NHTM có khả năng tạo tiền
từ các khoản tiền gửi nh trên đã nghiên cứu, do đó, việc này sẽ làm giảm
bớt tiền gửi và lợng tiền cung ứng trên thị trờng. Khả năng cho vay, khả
năng thanh toán của các NHTM, vì thế sẽ bị thu hẹp lại, khối lợng tín dụng
trong nền kinh tế sẽ giảm. Nói một cách khác, nếu NHTƯ hạ mức tỉ lệ dự
8
trữ bắt buộc thì sẽ làm tăng mức mở rộng bội số tiền gửi và lợng tiền cung
ứng sẽ tăng.Sự phân tích trên cũng đợc áp dụng cho trờng hợp ngợc lại, khi
mà NHTƯ hạ tỉ lệ dự trữ bắt buộc Trong trờng hợp này, mức mở rộng bội số
tiền gửi có thể phát séc tăng lên bởi vì cùng với một mức tiền dự trữ nay có
thể làm cân xứng cho nhiều tiền gửi có thể phát séc hơn. Nh thế, khả năng
tạo tiền và cung ứng về tín dụng của các NHTM cũng sẽ tăng lên, khối lợng
tín dụng và khối lợng thanh toán tăng, đồng thời làm tăng xu hớng mở rộng
khối tiền.
Qua phân tích trên, chúng ta đã thấy đợc sự thay đổi trong dự trữ bắt
buộc tác động đến cung ứng tiền tệ. Bằng toán học, chúng ta sẽ xem công
cụ này tác động đến cung tiền bằng yếu tố gì.:
.Chúng ta biết rằng cơ số tiền tệ bằng lợng tiền dự trữ trong các ngân
hàng cộng với tiền mặt đang lu hành : MB=R+C.
.Lợng tiền dự trữ trong các ngân hàng bằng lợng tiền dự trữ bắt buộc
cộng với lợng tiền dự trữ quá mức: R=RR+ER.
. Lợng tiền dự trữ bắt buộc lại bằng tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhân với lợng
tiền gửi có thể phát séc : RR=r
d
*D.
. Từ đó ta có R=(rd*D)+ER hay là MB=(rd*D) +ER+C.
. Nếu ta có tỉ lệ tiền mặt trên tỉ lệ tiền gửi có thể phát séc là C/D,
ER/D là tỉ lệ tiền dự trữ quá mức thì sau khi giản ớc ta có:
MB=( rd+ER/D+C/D)*D hay D =MB*1/(rd+ER/D+C/D).
. Sử dụng định nghĩa lợng tiền cung ứng là tổng của tiền mặt và tiền
gửi có thể phát séc ta có:
M=D+C=(1+C/D)*D hay= MB*(1+C/D)/ (rd+ER/D+C/D) (*)
.Với m là đại lợng biểu hiện sự thay đổi của lợng tiền cung ứng với
một sự thay đổi cho trớc của cơ số tiền tệ, gọi là số nhân tiền. Giả sử rằng l-
ợng tiền cung ứng (M) liên quan với tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng
và tiền mặt đang lu hành ( MB) bằng tơng quan: M=MB*m thì từ (*) ta có
m=1+C/D)/ (rd+ER/D+C/D). Nhìn vào đẳng thức trên ta hấy rõ ràng là tỉ lệ
dự trữ bắt buộc tỉ lệ nghịch với số nhân tiền tệ. Khi NHTƯ tăng tỉ lệ dự trữ
bắt buộc lên thì đã làm giảm số nhân tiền tệ. Mà số nhân tiền tệ lại tỉ lệ
thuận với lợng tiền cung ứng, do đó nó đã làm giảm lợng tiền cung ứng.
Nh vậy, không những chúng ta biết tỉ lệ dự trữ bắt buộc có thể làm
thay đổi lợng tiền cung ứng mà ta còn biết công cụ này tác động tới lợng
tiền cung ứng bằng cách gây thay đổi số nhân tiền. Số nhân tiền và lợng
tiền cung ứng có quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Do vậy, khi
NHTƯ qui định một khoản dự trữ bắt buộc cao hơn tỉ lệ dự trữ mà những
ngân hàng thông thờng phải duy trì trong bất kì tình hình nào thì sẽ dẫn
đến hậu quả làm giảm các khoản kí gửi của các ngân hàng và giảm lợng
cung ứng tiền đối với bất kì cơ số tiền tệ nhất định nào.
Một sự tăng lên trong dự trữ bắt buộc làm giảm só tiền đợc đảm bảo
bởi một mức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung tiền.
Mặt khác,một sự giảm xuống của dự trữ bắt buộc dẫn đến một sự tăng lên
của cung ứng tiền tệ bởi vì có thể tạo ra thêm tiền gửi gấp nhiều lần.
9
Do tính chất và tác dụng nh vậy nên tại các nớc, NHTƯ có qui định
phân biệt tỉ lệ dự trữ bắt buộc cho từng loại tiền gửi theo nguyên tắc: tiền
gửi tiết kiệm tỉ lệ dự trữ bắt buộc ít nhất, sau đó là tiền gửi có kì hạn và cuối
cùng, tiền gửi không kì hạn là có tỉ lệ dự trữ bắt buộc cao nhất.
c. Tác dụng tích cực & các hạn chế của công cụ dự trữ bắt buộc:
Công cụ này có tính hai mặt. Mặt tích cực của công cụ này thể hiện ở
chỗ: khi mà tỉ lệ dự trữ bắt buộc cao thì mức độ an toàn trong hoạt động tín
dụng ngân hàng của hệ thống NHTM càng đợc đảm bảo, hạn chế bớt rủi ro
mất khả năng thanh toán hoặc vỡ nợ phá sản theo dây chuyền của hệ thống
NHTM, ảnh hởng đến nền kinh tế. Mặt tích cực khác của công cụ này là nó
tác động nh nhau đến tất cả các ngân hàng và tác dụng đầy quyền lực tới
quá trình cung ứng tiền tệ của nền kinh tế. Tuy vậy, bởi vì công cụ này là
một công cụ đầy quyền lực,cho nên tác động của nó là hết sức mạnh mẽ.
Thực tế thấy rằng sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện các thay đổi nhỏ
trong cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Trên lý
thuyết thì vẫn có thể đạt đợc những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ nhờ
thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, song chi phí cho việc này là rất lớn để có thể
quản lý những thay đổi trong tỉ lệ dụ trữ bắt buộc cho nên giải pháp này
không có tính kinh tế
Một điểm bất lợi nữa khi sử dụng công cụ này là khi không ngừng
thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc cũng sẽ gây ra tình trạng không ổn định cho
các ngân hàng và làm cho việc quản lý những khả năng thanh khoản của
các ngân hàng đó khó khăn hơn, đặc biệt là các ngân hàng có dự trữ vợt
mức ở mức thấp.
Hạn chế nữa của công cụ này là rất khó trong việc tạo ra một sự cân
bằng hợp lý, tức là tạo ra một tỉ lệ dự trữ bắt buộc hợp lý.Tỉ lệ này quá thấp
sẽ dẫn đến những rủi ro về an toàn tín dụng gây ảnh hởng tới nền kinh tế,
đặc biệt là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng quá nóng. Nhng nếu dự trữ bắt
buộc ở mức quá cao sẽ làm cho hệ số sử dụng vốn của các ngân hàng thơng
mại qúa thấp, nó sẽ làm hạn chế khả năng tạo tiền của các ngân hàng thơng
mại, ảnh hởng trực tiếp đến chính sách lãi suất, bất lợi trong kinh doanh,
gây thiếu vốn cho nền kinh tế và tình trạng đình đốn tín dụng. Đặc biệt điều
này sẽ rất nghiêm trọng khi tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng quá
cao thì các ngân hàng sẽ không còn khả năng cho vay nữa. Nhng hoạt động
của nền kinh tế luôn đòi hỏi có những khoản vốn vay để đầu t vào sản xuất,
do đó, để đáp ứng nhu cầu tất yếu này, các khoản cho vay sẽ do các trung
gian tài chính khác cấp. Không những việc cải tổ lại hệ thống ngân hàng là
cực kì tốn kém mà nó sẽ dẫn đến việc các trung gian tài chính khác sẽ mở
rộng các cách làm cho các tài sản nợ của nó hoạt động nh: tiền gửi có thể kí
phát séc nhằm tăng nguồn vốn, do các trung gian tài chính khác này không
phải chịu qui định về dự trữ bắt buộc của NHTƯ. Kết quả của việc này là
NHTƯ chỉ có thể kiểm soát lợng cung tiền về mặt danh nghĩa, còn cung
tiền thực tế thì NHTƯ lại không kiểm soát đợc do nó chịu ảnh hởng của các
trung gian tài chính chứ không phải là của NHTM. Do đó, việc kiểm soát hệ
thống tài chính của NHTƯ sẽ trở nên yếu đi và thực tế là không thể kiểm
soát đơc lợng tiền cung ứng do các trung gian tài chính tạo ra.
10
Vậy, với tính chất 2 mặt của tỉ lệ dự trữ bắt buộc, NHTƯ sẽ cân nhắc
đánh giá việc sử dụng công cụ này nh thế nào.
Nh ta đã biết, tỉ lệ dự trữ bắt buộc đợc coi nh là một khoản thuế đánh
vào số tiền gửi vào ngân hàng thơng mại, vì bản thân ngân hàng không thể
có lợi ích gì từ khoản tiền này và cũng không thể đem cho vay đợc. Điều
này đợc đánh giá là làm giảm bớt hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.Vậy
thì ta giả sử NHTƯ huỷ bỏ tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Điều này này không những
có thể đem lại những rủi ro về tín dụng và thanh toán trên thị trờng, gây ảnh
hởng đến các mục tiêu kinh tế-xã hội khác mà nó cũng không thể mang lại
sự cung ứng tiền tệ vô hạn nh chúng ta mong đợi, bởi vì mô hình cung ứng
tiền tệ là rất phức tạp và trên thực tế, dù cho có hay là không có qui định về
tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì các ngân hàng vẫn muốn giữ một lợng dự trữ để bảo
vệ bản thân họ chống lại việc mất khả năng thanh toán những khoản tiền rút
ra. Mặt khác,trong hoạt động kinh doanh tín dụng, các ngân hàng luôn luôn
có một nguồn nhu cầu về tiền mặt. Hai nhân tố này làm hạn chế qui mô về
cung tiền mặt. vì vậy, xét về ý nghĩa kinh tế, việc dự trữ bắt buộc tồn tại là
hoàn toàn khách quan. Bên cạnh đó, việc hình thành và hoạt động của hệ
thống NHTM đòi hỏi NHTƯ phải có một hệ thống các công cụ chính sách
tiền tệ để qủan lý một cách chặt chẽ. Sở dĩ phải thực hiện việc quản lý này
là bởi tính chất và mục đích hoạt động của các ngân hàng thơng mại là theo
tôn chỉ lợi nhuận, do đó, luôn cần có sự giám sát của NHTƯ, mà tỉ lệ dự trữ
bắt buộc là một công cụ để thực hiện việc thực hiện việc quản lý này. Vì
vậy, mặc dù có những hạn chế rất lớn, song không thể phủ nhận những tác
động tích cực của nó đối với việc phát triển thị trờng tài chính gián tiếp làm
thúc đầy nhanh quá trình tích tụ tập trung phân phối vốn cho nền kinh tế.
Trong giai đoạn đầu thực hiện theo cơ chế thị trờng này, công cụ tỉ lệ dự trữ
bắt buộc là một giải pháp về mặt quản lý và kinh tế.
Tuy nhiên, do những nhợc điểm của việc sử dụng công cụ này vào việc
điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ, mà đặc biệt là sự tác động quá
mạnh mẽ tới cung ứng tiền tệ cũng nh rất khó để thực hiện một sự thay đổi
nhỏ trong lợng cung tiền nhờ công cụ này và các chi phí phát sinh trong quá
trình sử dụng mà công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc đợc đánh giá rất thấp và cũng
ít khi đợc sử dụng trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHTƯ.
2. Lãi suất chiết khấu:
a. Giới thiệu chung:
Công cụ thứ hai đợc giới thiệu trong các công cụ truyền thống để điều
hành chính sách tiền tệ của NHTƯ là tỉ suất chiết khấu, hay còn gọi là lãi
suất chiết khấu.
Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà ngân hàng trung ơng tính với các
ngân hàng thơng mại khi các ngân hàng thơng mại muốn vay tiền của ngân
hàng trung ơng.
Lãi suất chiết khấu có thể bằng, thấp hoặc cao hơn lãi suất thị trờng,
tuỳ vào thời điểm vay, hoàn cảnh vay cũng nh các mục tiêu của chính sách
tiền tệ của NHTƯ. Tuy vậy, trong các khung lãi suất thì lãi suất này thờng
là thấp nhất, ngoại trừ khi ngân hàng thơng mại phải chịu lãi suất phạt hoặc
do chính sách hạn chế tín dụng của NHTƯ.
11
Nh ta đã biết, tất cả các NHTM đều phải mở một tài khoản tiền gửi tại
NHTƯ với mục đích là để thực hiện qui định về dự trữ bắt buộc và để tiện
cho việc thanh toán lẫn nhau giữa các ngân hàng thông qua tài khoản tiền
gửi tại NHTƯ. Số tiền gửi đó có thể bằng lợng tiền gửi dự trữ bắt buộc,
hoặc có thể nhiều hơn (dự trữ quá mức). Các NHTM vay tiền của NHTƯ
thờng là với 4 mục đích: bù đắp dự trữ bị thiếu, để nâng cao khả năng
thanh khoản, giải quyết các nhu cầu tạm thời hoặc đột xuất về vốn trong
hoạt động tín dụng, hoặc để khôi phục khả năng hoàn trả khi lâm vào tình
trạng khó khăn nghiêm trọng do tiền gửi bị rút ra. Ngoại trừ trờng hợp cuối
là vay để không bị phá sản là không yêu cầu trả nhanh chóng, còn lại thì
các khoản vay của NHTƯ thờng là các khoản vay trong ngắn hạn.
Hình thức cho vay này là cho vay có đảm bảo bằng cách chiết khấu,
tái chiết khấu các thơng phiếu và các giấy tờ có giá khác thuộc sở hữu của
NHTM (trên thực tế, đây là các khoản tín dụng huy động từ việc cung cấp
vốn cho các doanh nghiệp). Vì thế, khi có những nhu cầu về vốn NHTM
phải đến xin NHTƯ tái cấp vốn dới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các
kì phiếu, các giấy tờ có giá.
NHTƯ quản lý khối lợng vay chiết khấu, tái chiết khấu nhằm tránh
cho lợng vốn của mình đợc sử dụng không đúng chỗ. Các NHTM phải chịu
3 khoản phí khi đến vay tại NHTƯ, đó là lãi suất tái chiết khấu( chi phí của
khoản vay), phí về làm đúng các điều tra của NHTƯ về khả năng thanh
toán của NHTM khi đến vay tại NHTƯ, chi phí cơ hội về việc có thể bị từ
chối vay tại NHTƯ. Nếu ngân hàng thơng mại nào đến vay quá nhiều tại
NHTƯ thì NHTƯ sẽ thực hiện việc kiểm tra về tài chính và có thể không đ-
ợc NHTƯ cấp cho các khoản vay nữa. Có thể hiểu rằng việc các NHTM đ-
ợc vay tại NHTƯ là một đặc ân chứ không phải là một quyền hạn.
Chính sách chiết khấu, mà chủ yếu làm thay đổi lãi suất chiết khấu
ảnh hởng tới khối lợng cho vay chiết khấu & cơ số tiền tệ, do đó làm ảnh h-
ởng đến khối lợng tiền cung ứng cho nền kinh tế.Ta đã biết rằng, cơ số tiền
tệ bằng lợng tiền mặt trong lu thông cộng với lợng tiền dự trữ trong hệ
thống các ngân hàng, do đó,khi tăng cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số
tiền tệ và làm tăng lợng tiền cung ứng, còn khi giảm lợng cho vay chiết
khấu thì làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung tiền. Tái chiết khấu
chính là đầu mối tăng tiền vào lu thông, do đó ảnh hởng trực tiếp đến quá
trình điều khiển khối lợng tiền và điều hành chính sách tiền tệ
NHTƯ có thể tác động vào khối lợng cho vay chiết khấu bằng hai
cách: lãi suất chiết khấu & quản lý các điều kiện cho vay. Những điều kiện
mà NHTƯ cho các NHTM vay tái chiết khấu thông thờng là hết sức chặt
chẽ. và điều này phụ thuộc vào chính sách tiền tệ thực thi vào giai đoạn đó
của NHTƯ là nới lỏng hay thắt chặt để quyết định xem lợng vốn có thể cho
vay hay không, lãi suất cao hay thấp, điều kiện vay nh thế nào. Lãi suất tái
chiết khấu này phụ thuộc vào từng thời kì và có tác dụng hớng dẫn cho lãi
suất tín dụng của các NHTM trong thời kì đó. Khi NHTƯ quyết định tăng
lãi suất tái chiết khấu thì làm cho lãi suất chiết khấu (lãi suất cho vay) của
các NHTM trên thị trờng tăng lên. Lãi suất tín dụng tăng cao dẫn đến tình
trạng giảm nhu cầu về vốn tín dụng, do đó làm giảm nhu cầu về tiền tệ và
khi thực hiện ngợc lại, làm tăng cung tiền tệ cho thị trờng.
12
b. Tác động của lãi suất tái chiết khấu đối với lợng tiền cung ứng:
Tái chiết khấu là phơng thức để NHTƯ đa tiền vào lu thông, thực hiện
vai trò ngời cho vay cuối cùng. Thực chất của việc này là NHTƯ tái cấp vốn
cho các NHTM, tạo cơ sở thúc đẩy hệ thống NHTM thực hiện việc tạo tiền
và khai thông thanh toán.
NHTƯ có thể tác động gián tiếp làm thay đổi lợng tiền cung ứng bằng
cách thay đổi lãi suất tái chiết khấu đối với các NHTM. Chính bởi lãi suất
tái chiết khấu là lãi suất mà các NHTM đi vay NHTƯ cho nên thông qua
nó, NHTƯ có thể tác động vào lãi suất tín dụng trên thị trờng. Tuỳ theo tình
hình của từng giai đoạn và yêu cầu của việc thực hiện chính sách tiền tệ mà
NHTƯ qui định lãi suất tái chiết khấu là thấp hay cao.
Khi NHTƯ hạ thấp lãi suất tái chiết khấu,sẽ khuyến khích các NHTM
đến vay tiền của NHTƯ vì khi đó chi phí của việc vay mợn từ NHTƯ sẽ
thấp và số tiền vay cũng sẽ tăng cao. Sở dĩ nh vậy bởi vì với các khoản tiền
dự trữ bổ sung, các NHTM có thể cho vay và mua chứng khoán và từ đó,
các NHTM sẽ đợc hởng lọi ích từ việc chênh lệch giữa lãi suất đi vay và lãi
suất thị trờng. Sự chênh lệch càng lớn thì số tiền vay của NHTƯ càng
nhiều. Mặt khác, ta biết rằng lãi suất tái chiết khấu có vai trò định hớng
cho lãi suất trên thị trờng tín dụng, do đó, lãi suất tín dụng (lãi suất cho vay)
của các NHTM sẽ có xu hớng giảm khi lãi suất tái chiết khấu giảm. Lãi
suất tín dụng của hệ thống NHTM giảm sẽ làm cho số tiền vay tăng lên,
tức là cầu về tín dụng tăng lên và từ đó, cầu về tiền tệ của nền kinh tế cũng
tăng theo. Cơ số tiền tệ bằng lợng tiền trong lu thông cộng với lợng tiền dự
trữ sẽ sẵn sàng tăng để cân xứng với tiền mặt và tiền gửi có thể phát séc sẽ
tăng. Nhờ vậy, cung tiền tệ cho nền kinh tế sẽ tăng.
Mặt khác, nếu ta xem xét trờng hợp các ngân hàng thơng mại có một
lợng dự trữ vợt mức tại NHTƯ. Với lợng dự trữ này, các NHTM muốn đảm
bảo khả năng thanh khoản của mình trong trờng hợp bị khách hàng rút tiền
ồ ạt. Nếu NHTƯ đa ra một lãi suất tái chiết khấu bằng hoặc thấp hơn so với
lãi suất tín dụng trên thị trờng thì các NHTM sẽ sẵn sàng cho vay tối đa
đến tận giới hạn dự trữ bắt buộc của họ bởi vì nếu trờng hợp xấu nhất xảy
ra, là họ bị thiếu tiền mặt thì các ngân hàng thơng mại vẫn có thể vay của
NHTƯ với lãi suất u đãi trên. Do đó, họ sẽ không thể nào bị thua lỗ khi cho
vay ở mức khả dĩ cao nhất và với việc mở rộng đến mức cao nhất khả năng
cho vay của các NHTM, một lợng tiền sẽ đợc tạo ra cho nền kinh tế nhờ
khả năng tạo ra bội số tiền gửi của hệ thống NHTM. Từ đó, cung tiền sẽ
tăng do sự giảm lãi suất tái chiết khấu của NHTƯ. Trờng hợp này chính là
khi NHTƯ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, nhằm thúc đẩy cầu của
nền kinh tế khi nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ đình đốn và lạm phát
cao.
Trờng hợp ngợc lại, khi NHTƯ quyết định tăng lãi suất chiết khấu.
Điều này sẽ không khuyến khích các NHTM đến vay tiền tại NHTƯ vì chi
phí của việc vay mợn này đã tăng cao. Tuy thế, nếu lãi suất tín dụng của thị
trờng vẫn cao hơn lãi suất tái chiết khấu thì các NHTM vẫn có xu hớng
muốn mở rộng khoản vay tại NHTƯ do vẫn có thể kiếm đợc lợi ích từ việc
vay mợn trên do sự chênh lệch về lãi suất trên thị trờng. Nhng đến khi
NHTƯ nâng cao mức lãi suất lên trên lãi suất tín dụng thì buộc các NHTM
13
sẽ phải hạn chế việc vay mợn của NHTƯ và buộc phải giảm bớt các khoản
cho vay tín dụng của mình chứ không thể cho vay đến tận lợng dự trữ bắt
buộc do phải thực hiện dự trữ tiền mặt phòng trờng hợp rủi ro mất khả năng
thanh toán. Nếu nó thực hiện việc cho vay thêm này sẽ có thể rơi vào tình
trạng bị khách hàng rút tiền hàng loạt và không còn đủ tiền mặt tại két để
thanh toán cho khách hàng. Khi đó, buộc các NHTM phải vay tiền của
NHTƯ, mà ta đang xét trờng hợp lãi suất trên thị trờng thấp hơn lãi suất tái
chiết khấu, do đó, các NHTM sẽ bị lỗ. nó sẽ bị mất tiền khi cho vay thêm
và trong trờng hợp này, NHTM chấp nhận giữ lại một lợng tiền có thể cao
hơn lợng dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán. Nguồn vốn tín
dụng sẽ bị thu hẹp lại và các NHTM sẽ giảm số lợng các khoản cho vay của
mình bằng cách nâng cao lãi suất tín dụng của mình lên. Số tiền vay chiết
khấu giảm làm cho cơ số tiền sẵn sàng để cân xứng với lợng tiền gửi và tiền
mặt có thể phát séc giảm xuống làm giảm lợng tiền cung ứng. Các khoản kí
gửi ngân hàng bây giờ trở thành một bội số nhỏ hơn của dự trữ tiền mặt của
các ngân hàng nên thừa số tiền đợc giảm xuống và cung ứng tiền tệ ít hơn
đối với bất kì mức cơ số nào. Do lãi suất tín dụng nâng cao sẽ làm tăng chi
phí của việc vay tiền tại các NHTM của các doanh nghiệp. Từ đó giảm cầu
về tín dụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ trong nền kinh tế. Trờng hợp
này áp dụng khi nền kinh tế phát triển quá nóng, sản lợng có thể vợt mức
tiềm năng. Lúc này, NHTƯ phải thi hành một chính sách tiền tệ thắt chặt
nhằm kiểm soát sự phát triển an toàn của nền kinh tế, tránh cho lợng vốn
của mình bị sử dụng không đúng bằng cách hạn chế khoản vay đó.
Qua nghiên cứu, ta thấy rằng bằng cách ấn định lãi suất chiết khấu,
NHTƯ có thể khuyến khích hoặc hạn chế các NHTM vay tiền và duy trì
một lợng dự trữ vợt mức bằng tiền mặt và lãi suất tái chiết khấu có tơng
quan tỉ lệ nghịch với khối lợng tiền cung ứng. Công cụ này tác động tới l-
ợng tiền cung ứng thông qua việc làm thay đổi cơ số tiền tệ (MB).
c. Tác dụng & hạn chế của công cụ lãi suất tái chiết khấu:
Tác dụng thứ nhất của công cụ lãi suất tái chiết khấu là ở chỗ giúp cho
NHTƯ có thể tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng tiền tệ trên thị trờng,
từ đó có thể thực hiện thành công chính sách tiền tệ. Ngòai ra, công cụ này
còn giúp cho NHTƯ thực hiện chức năng giúp đỡ hệ thống NHTM khi hệ
thống này gặp những nguy cơ nghiêm trọng có thể dẫn đến sự phá sản và
tránh cho nền kinh tế khỏi những cơn sụp đổ về tài chính. Đó là chức năng
ngời cho vay cuối cùng- tác dụng quan trọng nhất của công cụ lãi suất tái
chiết khấu. NHTƯ là ngời cung cấp dự trữ cho hệ thống NHTM khi sự phá
sản của các ngân hàng thơng mại có thể thoát khỏi tầm kiểm soát và có thể
tác động tiêu cực tới nền kinh tế bởi vì nó cản trở khả năng các thị trờng
chuyển vốn vào các thị trờng có cơ đầu t có lợi hơn. Chiết khấu là một
cách có hiệu quả đặc biệt để cung cấp dự trữ cho hệ thống NHTM khi xảy
ra khủng hoảng ngân hàng bởi vì lợng dự trữ có thể đợc điều chỉnh ngay
đến các ngân hàng nào cần dự trữ hơn cả. Sử dụng công cụ lãi suất tái chiết
khấu để tránh những cơn sụp đổ về tài chính bằng chức năng ngời cho vay
cuối cùng là một yều cầu cực kì quan trọng để thực hiện thành công chính
sách tiền tệ của NHTƯ. Thực chất, với việc thực hiện chức năng này,
NHTƯ đã đảm bảo lòng tin cho ngời gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng
bởi vì với một số ngân hàng lớn, NHTƯ luôn là ngời đứng sau làm hậu
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét