LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Luận văn: Một số giải pháp chủ yếu góp phần phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế ppt": http://123doc.vn/document/1054518-tai-lieu-luan-van-mot-so-giai-phap-chu-yeu-gop-phan-phat-trien-dich-vu-ngan-hang-ban-le-tai-ngan-hang-ngoai-thuong-viet-nam-trong-giai-doan-hoi-nhap-k.htm
các NHTM tại Việt Nam 65
3.2 Kiến nghò về phía NHNT Việt Nam 67
3.2.1 Hoàn thiện chính sách phát triển dòch vụ ngân hàng bán lẻ . 67
3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện và đa dạng hóa các sản phẩm dòch vụ
ngân hàng bán lẻ 68
3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tài chính và quản trò rủi ro 76
3.2.4 Nhóm giải pháp tác động về phía khách hàng 78
3.2.5 Nhóm giải pháp hổ trợ 80
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
ATM Máy rút tiền tự động
CAR Hệ số an toàn vốn
CNTT Công nghệ thông tin
GATS Hiệp đònh chung về thương mại dòch vụ
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IAS Hệ thống kế toán quốc tế
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNT Ngân hàng ngoại thương
NHTM Ngân hàng thương mại
ROA Suất sinh lời tài sản
ROE Suất sinh lời vốn chủ sở hữu
SWIFT Hiệp hội tài chính viễn thông liên ngân hàng
quốc tế
TCTD Tổ chức tín dụng
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Việc trở thành thành viên thứ 150 của WTO là dấu ấn quan trọng trong tiến
trình đổi mới nền kinh tế của Việt Nam, đặt các doanh nghiệp và các đònh chế tài
chính như NHTM đứng trước những cải tổ lớn lao nhằm duy trì và phát triển trong
môi trường cạnh tranh mới.
Phát triển dòch vụ ngân hàng bán lẻ đã và đang được nhiều NHTM quan tâm
và đây được xem như một trong những xu hướng lựa chọn đầu tư lâu dài nếu như
các ngân hàng muốn tiếp tục giữ vững và mở rộng thò phần trong tương lai. Thực tế
cho thấy, ngân hàng nào nắm bắt được cơ hội trong việc mở rộng cung cấp các dòch
vụ ngân hàng bán lẻ đến đông đảo đối tượng khách hàng là các cá nhân, các hộ gia
đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn đang rất thiếu các dòch vụ tài chính thì sẽ
dễ dàng chiếm lónh thò trường. Mở rộng sang hoạt động bán lẻ, các ngân hàng
không chỉ có thò trường lớn hơn mà hiệu quả kinh tế mang lại cũng cao hơn nhờ sản
phẩm được cung cấp với khối lượng lớn, doanh thu cao, phân tán được rủi ro kinh
doanh đồng thời mang lại cho ngân hàng khả năng phát triển nhờ liên tục đổi mới
và đa dạng hoá sản phẩm dòch vụ của mình.
Việt Nam được đánh giá là thò trường mà các dòch vụ ngân hàng bán lẻ còn
rất nhiều tiềm năng phát triển. Yếu tố quyết đònh đảm bảo cho sự tăng trưởng
không ngừng của thò trường dòch vụ ngân hàng bán lẻ tại các nước có nền kinh tế
mới nổi như Việt Nam chính là sự tăng trưởng liên tục của nền kinh tế, cùng với đó
là sự cải thiện môi trường luật pháp, trình độ dân trí và cơ cấu dân số trẻ. Từ năm
2000 cho đến nay, Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao bình quân
8%/năm, kinh tế vó mô duy trì ổn đònh , đời sống vật chất tinh thần người dân không
8
ngừng được cải thiện, nhờ đó môi trường hoạt động ngân hàng ngày càng thuận lợi
và hấp dẫn, nhu cầu về số lượng và chất lượng dòch vụ ngân hàng ngày càng tăng.
Sức hấp dẫn của thò trường dòch vụ ngân hàng bán lẻ không chỉ đối với các
NHTM trong nước mà cả với các ngân hàng nước ngoài vốn đang tìm mọi cách
thâm nhập sâu hơn vào thò trường Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập kinh tế và
hội nhập tài chính sâu sắc như hiện nay, một khi các ngân hàng nước ngoài được
phép kinh doanh bình đẳng như các NHTM trong nước thì thò phần của các NHTM
Việt Nam sẽ bò chia sẽ rất nhiều bởi mảng dòch vụ ngân hàng bán lẻ vốn là ưu thế
rất lâu đời của các ngân hàng nước ngoài.
Thò trường kinh doanh nhiều tiềm năng cùng với nguy cơ cạnh tranh ngày
càng gay gắt đã đặt các NHTM Việt Nam vào thế phải liên tục thay đổi chiến lược
kinh doanh, tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới, mở rộng và đa dạng hoá nhóm
khách hàng mục tiêu của mình, và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng không
thể nằm ngoài xu thế đó.
Với mục tiêu trở thành một tập đoàn tài chính đa năng, có quy mô tầm cở
trong khu vực, NHNT Việt Nam phải thực hiện đa dạng hoá lónh vực kinh doanh và
mở rộng nhóm khách hàng mục tiêu của mình. Nói cách khác, bên cạnh việc duy trì
thế mạnh của một ngân hàng bán buôn, NHNT cần mở rộng và phát triển mạnh hơn
mảng kinh doanh bán lẻ, trong đó nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa
và nhỏ sẽ là một trong những ưu tiên lựa chọn phục vụ. Xuất phát từ yêu cầu trên,
tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu góp phần phát triển dòch vụ ngân
hàng bán lẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế
quốc tế” với hy vọng được đóng góp một phần nhỏ vào sự phát triển chung của
NHNT, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của NHNT trong tình hình mới.
2. Mục đích nghiên cứu:
9
Đề tài tập trung phân tích thực trạng và đánh giá năng lực của NHNT Việt
Nam trong việc triển khai dòch vụ ngân hàng bán lẻ để từ đó đưa ra những giải pháp
cụ thể để phát triển hơn nữa mảng dòch vụ ngân hàng bán lẻ nhằm góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của NHNT Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng: mảng dòch vụ ngân hàng bán lẻ đang được triển khai tại NHNT.
+ Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống NHNT Việt Nam
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn chủ yếu dựa trên phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so
sánh, quy nạp, phán đoán, tổng hợp để thực hiện nghiên cứu.
5. Ý nghóa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề mang tính lý luận về dòch vụ ngân hàng bán lẻ.
- Phân tích và đánh giá thực trạng triển khai dòch vụ ngân hàng bán lẻ tại
NHNT trên cơ sở đi sâu vào các điểm mạnh và điểm yếu trong quá trình thực hiện.
- Đề xuất các giải pháp giúp NHNT Việt Nam mở rộng và phát triển hơn nữa
mảng dòch vụ ngân hàng bán lẻ vốn còn khá mới mẻ nhằm góp phần nâng cao hơn
nữa năng lực cạnh tranh của NHTN Việt Nam trong giai đoạn hội nhập.
6. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ
viết tắt,… nội dung của luận văn gồm 03 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về dòch vụ ngân hàng bán lẻ
- Chương II: Thực trạng triển khai và hoạt động ngân hàng bán lẻ tại NHNT
- Chương III: Giải pháp mở rộng và phát triển dòch vụ ngân hàng bán lẻ tại
NHNT Việt Nam.
10
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1.1 KHÁI NIỆM NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG:
1.1.1 Khái niệm ngân hàng:
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm
gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống
NHTM đã tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế
hàng hoá và ngược lại, kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất
của nó- kinh tế thò trường- thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành
những đònh chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế.
Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM:
Theo Luật pháp Mỹ: “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi
cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc
rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ
được xem là một ngân hàng”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng chỉ rõ: “NHTM là những xí nghiệp
hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình
thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ
trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
11
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam khoản 2 điều 20:”Ngân hàng là
loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại
hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu
tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.”
Từ những cách đònh nghóa khác nhau như trên về ngân hàng, có thể rút ra:
NHTM là loại hình ngân hàng giao dòch trực tiếp với các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế và cá nhân thông qua nghiệp vụ nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số
vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng
các dòch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên. NHTM là loại hình TCTD được thực
hiện các loại nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ nhiều hơn hết trong số các ngân hàng
trung gian trong nền kinh tế.
1.1.2 Sản phẩm dòch vụ ngân hàng:
Sản phẩm dòch vụ ngân hàng là một dạng hoạt động, một quá trình, một kinh
nghiệm được cung ứng bởi ngân hàng, và đưa đến kết quả là đáp ứng một nhu cầu
nào đó của khách hàng mục tiêu (chủ yếu là liên quan đến các vấn đề tài chính).
Cấu trúc dòch vụ ngân hàng bao gồm:
+ Dòch vụ cơ bản: đáp ứng nhu cầu chính của khách hàng. Đây là lý do chính
để khách hàng giao dòch với ngân hàng. Các nhu cầu này thường đơn nhất nhưng
cũng có thể được kết hợp nhiều nhu cầu cùng một lúc.
+ Dòch vụ ngoại vi: Là những dòch vụ bao quanh dòch vụ cơ bản, thường rất
đa dạng, trong đó, bao gồm 2 nhóm: (1) Nhóm dòch vụ ngoại vi cần thiết là những
dòch vụ cần thiết để thực hiện dòch vụ cơ bản như cung cấp giấy tờ tài liệu, hướng
dẫn quy trình thủ tục (2) Nhóm dòch vụ ngoại vi bổ sung là những dòch vụ ngoại vi
12
được cung cấp thêm để làm tăng giá trò, tăng sự thoả mãn hơn với dòch vụ cơ bản
như tư vấn, cung cấp thông tin, công nghệ hoá sự phân phối…
+ Dòch vụ tổng thể: Là tổng thể các cấp độ dòch vụ tạo nên một giải pháp
chào hàng và thoả mãn lợi ích mà khách hàng đang tìm kiếm một cách toàn diện.
+ Dòch vụ phái sinh: Là một dòch vụ bổ sung tách ra từ một dòch vụ cơ bản
nào đó.
1.1.3 Đặc trưng của sản phẩm dòch vụ ngân hàng:
Các sản phẩm dòch vụ tài chính nói chung và dòch vụ ngân hàng nói riêng
thường có những đặc trưng cơ bản sau:
+ Tính vô hình: Các dòch vụ tài chính thường là một kinh nghiệm hay là một
quá trình. Người mua sản phẩm dòch vụ tài chính thường không nhìn thấy hình thái
vật chất cụ thể của loại hình dòch vụ và vì vậy, rất khó đánh giá chất lượng và so
sánh như hàng hoá hữu hình khác trước khi mua, họ chỉ có thể cảm nhận thông qua
các tiện ích mà sản phẩm mang lại.
+ Sản xuất và phân phối sản phẩm diễn ra đồng thời: chu kỳ một sản phẩm
thường được chia làm 2 giai đoạn, đó là tạo ra sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm.
Riêng đối với hàng hoá là các sản phẩm dòch vụ tài chính, chúng được tạo ra ngay
khi khách hàng có nhu cầu và thường được bán trước khi chúng được tạo ra.
+ Do nhiều yếu tố cấu thành: Một sản phẩm dòch vụ tài chính là sự kết hợp
bởi nhiều yếu tố kể cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức cung cấp. Yếu tố bên trong
đó chính là nhân lực, tổ chức bộ máy xử lý và phân phối sản phẩm, công nghệ,…
còn yếu tố bên ngoài đó là người mua và thể chế môi trường. Ngoài ra, nhiều yếu
tố cấu thành còn có thể hiểu đó là sự tham gia của các NHTM, đònh chế tài chính
phi ngân hàng trong quá trình cung ứng sản phẩm.
13
+ Tính không ổn đònh về chất lượng: điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào thời
điểm cung cấp sản phẩm và nhân viên phục vụ.
+ Dễ bò sao chép: dòch vụ ngân hàng về tính chất và hình thức rất dễ bò sao
chép do sản phẩm chỉ là một kinh nghiệm hay là một quá trình. Do vậy, để nâng
cao khả năng thu hút khách hàng, các NHTM thường phải thường xuyên nghiên cứu
để tạo tính độc đáo riêng cho sản phẩm mà ngân hàng mình cung cấp.
1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ:
1.2.1 Khái niệm:
Hiện nay, có nhiều khái niệm về dòch vụ ngân hàng bán lẻ theo nhiều cách
tiếp cận khác nhau:
Theo cách hiểu phổ biến nhất, dòch vụ ngân hàng bán lẻ là dòch vụ ngân
hàng cung cấp các sản phẩm dòch vụ tài chính chủ yếu cho khách hàng là các cá
nhân, các hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Các chuyên gia kinh tế của học viện nghiên cứu Châu Á –AIT thì cho rằng,
dòch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng trực tiếp sản phẩm, dòch vụ ngân hàng tới
từng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh
truyền thống hay thông qua các phương tiện điện tử viễn thông và CNTT…
Theo quan niệm truyền thống, bán buôn tập trung vào các doanh nghiệp lớn,
hoạt động của thò trường tiền tệ, còn bán lẻ tập trung vào các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, các hộ gia đình và các khách hàng cá nhân. Nhưng cũng có quan niệm khác
cho rằng, bán buôn là hoạt động giao dòch vốn thông qua các trung gian tài chính,
còn bán lẻ không thông qua các trung gian tài chính. Nếu hiểu dưới góc độ này thì
bán lẻ chính là “một vấn đề của phân phối”, trong đó chủ yếu triển khai các hoạt
14
động tìm hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm các sản phẩm, phát hiện và phát
triển các kênh phân phối hiện đại mà nổi bật là kinh doanh qua mạng.
1.2.2 Đặc điểm của dòch vụ ngân hàng bán lẻ:
- Dòch vụ ngân hàng bán lẻ là những dòch vụ cung ứng tiện ích và sản phẩm
tài chính đến tận tay người tiêu dùng (tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh
hoạt), do đó đối tượng khách hàng của dòch vụ ngân hàng bán lẻ vô cùng lớn gồm
các cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kể cả dòch vụ ngân hàng phi tín dụng
cho các tập đoàn doanh nghiệp lớn.
- Giá trò từng khoản giao dòch không cao, chi phí bình quân tính trên mỗi giao
dòch thường lớn.
- Sản phẩm của dòch vụ ngân hàng bán lẻ vừa có sản phẩm thuộc tài sản nợ
như tiết kiệm dân cư, vừa có sản phẩm thuộc tài sản có như cho vay cá nhân, cho
vay doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phương thức quản lý, phân phối, tiếp thò và yêu cầu về nguồn nhân lực
khác vơi ngân hàng bán buôn.
- Sự phát triển của dòch vụ ngân hàng bán lẻ tuỳ thuộc rất lớn vào trình độ
CNTT của nền kinh tế nói chung và của bản thân mỗi ngân hàng nói riêng.
- Hệ thống cung cấp các dòch vụ ngân hàng bán lẻ là ngành có lợi thế kinh tế
theo quy mô và lợi thế kinh tế theo phạm vi mà hiểu một cách đơn giản là quy mô
càng lớn, số người tham gia càng nhiều thì chi phí càng thấp và càng thuận tiện cho
người sử dụng.
1.3 VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TRONG NỀN KINH TẾ
1.3.1 Đối với nền kinh tế:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét