Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

phương hướng và các biện pháp thúc đẩy xk hàng dệt may vn sang thị trường eu


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng và các biện pháp thúc đẩy xk hàng dệt may vn sang thị trường eu": http://123doc.vn/document/1052349-phuong-huong-va-cac-bien-phap-thuc-day-xk-hang-det-may-vn-sang-thi-truong-eu.htm


Đề án kinh tế thơng mại
mới về thơng mại quốc tế nh lý thuyết về đầu t cho rằng: các nhà đầu t quốc tế đi
đầu t ở các nớc ngoài nhằm khai thác lợi thế về tính không hoàn hảo trên thị tr-
ờng và chỉ thâm nhập vaò các môi trờng sản xuất ở nớc ngoài khi các lợi thế
cạnh tranh của nhãn hiệu sản phẩm, lợi thế nhờ quy mô hay việc tiếp cận thuận
lợi đến các thị trờng t bản. Một số ngời lại quan niệm, các công ty thâm nhập vào
thị trờng nớc ngoài chủ yếu là o sự phản ứng có tính chất cạnh tranh đối với các
hoạt động chi phối ngành công nghiệp, cũng nh để bình quan hóa các lợi thế t-
ơng đối. Độc quyền đa phơng là tình trạng của các thị trờng này. Trong đó một
số ngời bán một sản phẩm thờng đợc tiêu thụ hàng loạt. Nói chung, động lực để
một công ty bớc ra nớc ngoài có thể xuất phát từ mong muốn mở rộng khả năng
sản xuất và những lý do bên trong, khai thác các lợi thế cạnh tranh hiện có trong
các hoạt động tăng thêm, lợi dụng u thế về công nghệ hay nguồn nguyên liệu sẵn
có ở các cơ sở sản xuất khác.
Đồng thời động cơ này có thể xuất phát từ các nhân tố bên ngoài nh các
hoạt động cạnh tranh yêu cầu của khách hàng hay các chính sách khuyến khích
của chính phủ.
Các lý thuyết thơng mại quốc tế ra đời trong những điều kiện thơng mại
quốc tế khác nhau nhằm thực hiện các mục đích nhất định và do đó chúng chỉ
đúng trong những điều kiện lịch sử nhất định cho đến nay vẫn cha có một lý
thuyết nào giải thích đầy đủ về bản chất của thơng mại quốc tế, Vì vậy các lý
thuyết còn đợc bổ sung hoàn chỉnh và kiểm nghiệm trong hoạt động thơng mại.
Dựa trên những lý thuyết trên, mà các nhà sản xuất và XK đã XK sản phẩm
của mình để thu lợi nhuận. đó là lý do tại sao XK xuất hiện.
2. Bản chất của xuất khẩu hàng hóa.
Nói đến thơng mại không thể không kể đến hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu hàn hóa và dịch vụ . Xuất nhập khẩu là một công cụ để giúp các quốc
gia hòa nhập vào sự phát triển chung của nhân loại đẩy nhanh sự phát triển của
đất nớc và văn minh của xã hội. Xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu nói
riêng là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế . Đó không phải là
những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán
phức tạp trong một nền thơng mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm
mục đích lợi nhuận, đẩy mạnh sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định và
từng bớc nâng cao mức sống của nhân dân.
Theo quan điểm này, chúng ta có thể hiểu hoạt động xuất khẩu là việc sản
xuất ra hàng hóa, dịch vụ và đem mang bán ra nớc ngoài theo quy tắc của thị tr-
ờng quốc tế, nhằm thu đợc thặng d cho công ty và cho nền kinh tế của dất nớc.
Hay xuất khẩu là việc thể hiện nhu cầu nội của các quốc gia khác đối với quốc
gia chủ thể. Nói chung thực chất của XK là sự di chuyển hàng hóa, sản phẩm từ
nớc sản xuất đến nớc có nhu cầu, đó là sự lu thông xuyên quốc tế của hàng hóa,
sản phẩm. Xuất khẩu còn chia ra những lĩnh vực có thể chuyên môn hóa đợc,
những công nghệ và t liệu sản xuất trong nớc còn thiếu để sản xuất ra sản phẩm
XK. XK thể hiện sự phụ thuộc, gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh tế quốc gia với
nền kinh tế thế giới. ở một giới hạn nhất định nó có thể quyết định tới sự sống
còn của một nền kinh tế của các quốc gia thống nhất dới một mái nhà chung. Để
xuất khẩu đợc thì các nớc sản xuất phải dựa trên các quy luật kinh tế và phải đợc
giải quyết thông qua các quan hệ thơng mại trao đổi, buôn bán và kinh doanh vì
mục tiêu kinh tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc, vì dân giàu nớc mạnh, và
xã hội công bằng văn minh. XK là thể hiện những điều kiện và tiềm năng của
một quốc gia, thể hiện lợi thế của một quốc gia về các tiềm lực kinh tế để sản
xuất ra các sản phẩm mà nớc XK hơn các nớc khác.XK hàng hóa nhằm thúc đẩy
tiềm năng và thế mạnh của nớc ta với nớc ngoài một cách có lợi nhất. Trên cơ sở
đó tiến hành phân công lại lao động khai thác mọi tiềm năng để sản xuất nhiều
sản phẩm hàng hóa , dịch vụ xuất khẩu. Đó là hoạt động trao đổi hàng hóa dịch
5
Đề án kinh tế thơng mại
vụ giữa các nớc thông qua mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mỗi
quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những ngời sản
xuất hàng hóa riêng biệt của từng quốc gia. Bởi vậy XK cho phép nớc chủ thể
thu đợc nhiều lợi nhuận hơn mức có thể có và mở rộng khả năng sản xuất của n-
ớc đó, cho phép nớc nhận hàng Xk mở rộng khả năng tiêu dùng.
Tóm lại, thực chất của XK hàng hóa là nớc có lợi thế để sản xuất một sản
phẩm nào đó sẽ mang nó đi sang nớc ngoài, nớc có nhu cầu mà kém lợi thế hơn.
XK là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không phải là
hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống quan hệ mua bán phức tạp, có tổ
chức cả bên trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng
hóa phát triển. Đây là hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả đột biến nhng
cũng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ
bên ngoài mà các nớc chủ thể trong nớc tham gia XK không dễ dàng khống chế
đợc.XK là việc bán hàng hoá cho nớc ngoài nhằm phát triển sản xuất, kinh
doanh và đời sống. Nó đợc tổ chức và thực hiện với nhiều nghiệp vụ, nhiều khâu
đều phảI đợc nghiên cứu đầy đủ, kỹ lỡng, đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau,
tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm bảo đảm hiệu quả nhất phục vụ đầy đủ,
kịp thời cho sản xuất trong nớc.
3. Vai trò của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa.
3.1. XK tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.
Nh chúng ta đã biết, XK là một trong hai hoạt động cơ bản của ngoại thơng,
cùng với hoạt động nhập kjaaur, hoạt động XK giữ vai trò quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang có những
chuyển động đột biến nh ngày nay.XK là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt
động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy kinh tế. Mở rộng
XK để tăng thu ngoại tệ, tạo diều cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng.
Công nghiệp hoá đất nớc dòi hỏi phải có vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết
bị, vật t, kỹ thuật và công nghệ tiến tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có thể đợc
hình thành từ các nguồn nh liên doanh đầu t nớc ngoài với nớc ta; vay nợ, viện
trợ, tài trợ; thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ; XK sức lao độngTrong các nguồn
vốn trên đa phần đều phảI trả bằng cách này hay cách khác. để nhập khẩu nguồn
vốn quan trọng nhất là từ XK, XK quyết định tốc độ và quy mô tăng của nhập
khẩu.
Về mặt lợi nhuận theo Adam Smith khi tham gia XK các nớc đều có lợi,
dều thu đợc mức lợi nhuận cao hơn mức trong nớc. Nhờ có lợi nhuận cao mà các
nớc XK mới có vốn để nhập khẩu, để mở rộng khả năng tiêu ding của quốc gia,
đáp ứng nhu cầu của nhân dân và đây là quan hệ qua lại. Muốn tăng XK thì phảI
tăng nhập khẩu hàng hoá và các yếu tố sản xuất phục vụ cho XK. để đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao của ngời tiêu ding, cũng nh mục đích lợi nhuận của
doanh nghiệp, mà hoạt động XK ngày càng đợc đẩy mạnh không ngừng. Hoạt
động này ngày càng diễn ra sôI động , quy mô và đặc biệt tạo ra giá trị thặng d
rất lớn cho xã hội , trong đó vốn cho nhập khẩu chiếm khá lớn .
Thời kỳ 1986-1990 nguồn thu của nớc ta về XK chiếm 3/4 ngoại tệ , năm
1994 thu XK đã đảm bảo đợc 80% NK so với 24.6% năm 1986. Với xu hớng này
thì các năm sau kim ngạch Xk còn tăng lên nhiều nữa . Kim ngạch XK ngày
càng tăng đã làm cho nhập khẩu ngày càng tăng .
3.2. Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hớng
ngoại .
Thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu ding một cách có lợi nhất , đó là thành quả
của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại . Sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong quá trình công nghiệp háo ở nớc ta là phù hợp với xu hớng phát triển của
6
Đề án kinh tế thơng mại
nền kinh tế. Sự tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế có thể đợc nhìn nhận theo các hớng sau :
- Xuất khẩu của nớc ta cho những nớc ngoài .
- Xuất phát từ nhu cầu của thị trờng thế giới để tổ chức sản xuất và XK
những sản phẩm mà các nớc khác cần. ĐIũu đó tác động tích cực đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế , thúc đẩy sản xuất phát triển .
- Xuất khẩu tạo đIũu kiện cho các ngành liên quan có cơ hội phát triển
thuận lợi . Ví dụ khi phát triển dệt XK sẽ tạo đIũu kiện cho việc phát triển ngành
sản xuất nguyên liệu nh bôngg hay thuốc nhuộm .
- XK tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ, cung cấp đầu vào cho
sản xuất , khai thác sản xuất tối đa trong nớc .
- XK tạo ra những tiền đề kinh tế kỷ thuật nhằm đổi mới thờng xuyên
năng lực sản xuất trong nớc. Nói cách khác, XK là cơ sở tạo thêm vốn , kỷ
thuật , công nghệ tiên tiến từ các nớc bên ngoàI vào VN nhằm hiện đại hoá nền
kinh tế . Thông qua XK hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạch tranh trên thị
trờng thế giới về giá cả và chất lợng . Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức
lại sản xuất chco phù hợp với nhu cầu của thị trờng . XK còn đòi hỏi các doanh
nghiệp phải luôn luôn đổi mới, hoàn thiện công tác sản xuất , kinh doanh, nâng
cao chất lợng , hạ giá thành .
3.3. XK tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân
Trớc hết, sản xuất hàng XK thu hút hàng triệu lao động, tạo ra nguồn vốn
để nhập khẩu vật phẩm tiêu ding thiết yếu phục vụ đời sống của nhân dân. Nhờ
có hoạt động XK mà sản phẩm sản xuất ở một nớc có thể có mặt trên các nớc
khác với giá bán cao hơn so với trong nớc và tất nhiên thu đợc lợi nhuận cao
hơn. mặt khác, khi XK thì số lợng sản phẩm yêu cầu nhiều hơn nếu không XK vì
bây giờ nhu cầu còn có ngời tiêu ding nớc ngoài, hay nói cách khác quy mô sản
xuất đợc mở rộng. Mà nh vậy lực lợng lao động cần sẻ tăng, ngời lao động có
việc để làm. để đáp ứng nhu cầu tiêu ding trên toàn thế giới, các nhà sản xuất đã
không ngừng tìm mọi biện pháp để mang hàng hoá của của mình đến tay ngời
tiều ding trên toàn thế giới càng nhiều càng tốt, tất cả vì mục đích lới nhuận.
Nhu cầu về sản phẩm hàng hoá của ngời tiêu ding ngày càng phong phú, đa
dạng, không có giới hạn, các nhà tiêu dung đã tận dụng yếu tố này để này để mở
rộng quy mô sản xuất, các doanh nghiệp trẻ đua nhau thành lập, kéo theo đó là
lực lợng lao động ngày càng đợc sử dụng nhiều. Quy mô và khối lợng XK ngày
càng tăng thì thặng d xã hội ngày càng nhiều, đời sống của nhân dân ngày càng
đợc cảI thiện.
Trong xu thế hoá quốc tế đời sống nhân dân, kinh tế diễn ra ngày càng
mạnh mẽ, thị trờng các nớc có mối liên hệchặt chẽ nhau thông qua hoạt động
XK. Do đó sự phát triển mạnh mẽ của thị trờng này sẽ đảm bảo mpử rộng quy
mô và thị trờng thế giới. XK hàng hoá vì mục đích lợi nhuận của các chủ thể và
nhu cầu của khách hàng, mà sản phẩm của một nớc có mặt ở những nơi cần nó.
Cụ thể nh ngành XK dệt may của VN là một ngành XK chủ lực của VN, nó
mang lại một lợng kim ngạch XK rất lớn ( năm 2001 kim ngạch XK của ngành
là 2.15 tỷ USD) và là ngành sử dụng nhiều lao động vào loại số một. Trớc kia
làm gì có những bộ quần áo hàng choc USD nh bây giờ, hàng dệt may VN làm
gì xuất hiện trên thị trờng rộng lớn nh bây giờ, ngời ta muốn mặc một bộ quần
áo đắt tiền để thể hiện mình cũng không đợc, ngời trong nớc cũng nh ngời nứoc
ngoài muốn sử dụng nhựng sản phẩm dệt may cao cấp của VN thị không they ở
đâu. Nhng ngày nay tất cả yêu cầu đều đợc đáp ứng với mức cao nhất. Các nhà
sản xuất hàng dệt may đã thu đợc lợi nhuận cao hơn khi hàng dệt may của chúng
ta xuất hiện trên thế giới, mặt khác do khách hàng trong nớc thu nhập còn thấp
7
Đề án kinh tế thơng mại
nên khả năng sẵn sàng chi trả thấp hơn so với khách hàng nớc ngoài. Bởi vậy XK
đã mang lại cho các nhà sản xuất VN một khoảng lợi nhuận tơng đối. Nhà sản
xuất hàng dệt may XK của VN yên tâm mở rộng quy mô sản xuất, tăng chất l-
ợng sản phẩm thì các cách của lớn EU, Mỹ Nhậtluôn rộng mở. Ngời lao động
không những yên tâm có việc làm mà còn có nhiều việc làm với thu nhập ngày
càng cao. Trớc kia dệt may VN chỉ có mặt ở trong nớc, tiếp đến là những thị tr-
ờng truyền thống và nhỏ bé nhng bây giờ đã có mặt ở nhiều thị trờng rộng lớn.
đó là những bớc tiến rất đáng nghi nhận của ngành dệt may VN. Dệt may XK
của VN dã làm tăng tổng kim ngạch XK của xã hội, góp phần làm nâng cao đời
sống nhân dân và đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho trong việc làm.
3.4. XK là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đội ngoại của nớc ta
XK và các quan hệ kinh tế đối ngoại đã làm cho nền kinh tế nớc ta gắn chắt
với phân công lao động quốc tế. Thông thờng hoạt động XK xuất hiện sớm hơn
các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát
triển. Chẳng hạn XK và sản xuất hàng XK thúc đẩy quan hệ tín dụng đầu t, vận
tảI quốc tếĐến lợt nó chính các quan hệ kinh tế đối ngoại giữa hai bên thuận
lợi, chặt chẽ và cũng dựa trên đó mà thiết lập các quan hệ mới dễ dàng hơn. Nh
ngành dệt may VN, trớc đây chỉ xuất hiện ở thị trờng trong nớc, nhng sau khi đổi
mới thì nó lại xuất hiện ở các nớc xã hội chủ nghĩa nh Liên Xô, các nớc Đông âu
và một số nớc Châu áBây giờ thì thị trờng của nó đã mở rộng sang EU, Mỹ,
NhậtĐặc biệt từ khi quan hệ của VN với các quốc gia này đợc bình thờng hoá.
Tóm lại, đẩy mạnh XK đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển
kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Nói đến thơng mại quốc tế là nói đến sự cạnh tranh giữa các quốc gia trên
thị trờng quốc tế. Xét về mặt kinh tế, quan hệ giữa các nớc là bình đẳng, thuận
mua vừa bán, nói cách khác là các quan hệ đó đợc tiền tệ hóa. Vì vậy đòi hỏi các
doanh nghiệp tính năng động trong sản xuất kinh doanh , thúc đẩy cải tiến, phát
huy sáng kiến để nâng cao chất lợng cho sản phẩm trên thị trờng quốc tế.
4. Tác dụng của việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.
4.1. Nâng cao vị thế của đất nớc trên trờng quốc tế.
Khi mà nền kinh tế VN hãy còn đóng cửa, vẫn bị phụ thuộc bởi các đế
quốc, thì ngời dân thế giới không biết rằng có một đất nớc VN vẫn tồn tại trên
trái đất này. Nghe nói đến Vn họ cảm thấy rất xa lạ vì họ cha thấy một sản phẩm
nào đợc mang nhãn hiệu của đất nớc này trên thị trờng quốc tế. Nhng sau khi đổi
mới mởi cửa quan hệ với nhiều nớc cũng là lúc hàng hóa của Việt Nam có mặt
trên thị trờng này, ngời ta mới biết là có một đất nớc VN. Hàng hóa và dịch vụ
của VN đã thâm nhập vào thị trờng quốc tế. Vì nh đã nói ở trên, mục đích của
bất kỳ doanh nghiệp và quốc gia nào cũng là sản xuất và xuất khẩu , vì mục đích
lợi nhuận. Các DNVN đã nhận thấy rằng với điều kiện tự nhiên và con ngời của
đất nớc, nếu mang các hàng hóa và dịch vụ của mình đi bán trên các nớc khác thì
sẽ thu đợc nhiều giá trị thăng d hơn so với bán trong nớc. Đặc biệt ngành dệt
may là ngành mà VN có lợi thế là nguồn lao động dồi dào, khéo tay cùng với
những điều kiện khác, vì vậy sản phẩm của ngành này đã xuất khẩu sang nhiều
nớc . Nhờ uy tín của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ của VN trên thị trờng các n-
ớc mà quan hệ giữa VN và thế giới ngày càng chặt chẽ về mặt kinh tế lẫn xã hội.
Nhiều nớc đã có quan hệ mật thiết với VN đã coi Vn là một bạn hàng không thể
thiếu. VN đã tham gia nhiều tổ chức trên thế giới. Trở thành thành viên của
ASEAN năm 95, và quan sản viên của WTO. Vị trí của VN ngày càng đợc
khẳng định trên thị trờng thế giới, ngày càng nhiều nớc muốn quan hệ buôn bán
với VN.
8
Đề án kinh tế thơng mại
4.2. Tăng tổng kim ngạch xuất khẩu cho xã hội.
Không có Xk thì liệu nền kinh tế đát nớc có phát triển nh bây giờ không !
Câu trả lời thật đơn giản, tất nhiên là không. Về lý luận cũng nh thực tiễn thì giá
trị thăng d sẽ không thu về đợc nhiều, các nhà sản xuất sẽ không thỏa mãn đợc
mục đích của mình, đất nớc sẽ không có khoản tiền thu từ hoạt động xuất khẩu
để đầu t, phát triển các lĩnh vực khác. Khi có xuất khẩu thì một đơn vị kinh
doanh đã thu đợc thêm lợi nhuận để phát triển đơn vị của mình và phục vụ nhu
cầu của họ.
Trong hơn 10 năm gần đây, nhìn chung kim ngạch Xk của VN thờng đạt tới
độ cao, Nó đã đóng góp một phần lớn vào tổng thu nhập xã hội . Hoạt động XK
càng đợc đẩy mạnh thì kim ngạch thu về cho đất nớc ngày một nhiều, kim ngạch
xuất khẩu trên đầu ngời đã lên đến con số 184 USD năm 2000 , vợt qua ngỡng
một nớc có nền ngoại thơng kém.
Về cơ bản nền kinh tế nớc ta vẫn là một nền kinh tế với cơ sở vật chất kỹ
thuật còn nghèo nàn và lạc hậu , đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện
đại hóa nhờ tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu mà cơ sở vật chất kỹ thuật đ-
ợc nâng cao. một khi kim ngạch XK tăng, thì đất nớc cũng nh đơn vị kinh doanh
mới có điều kiện nâng cao cơ sở vật chất và nguồn lực sản xuất.
Ngành dệt nay là một trong 10 ngành xuất khẩu chủ lực của VN, đó đã
mang về cho đất nớc một khoản thăng d không nhỏ. Từ chỗ xếp thứ t tổng số các
mặt hàng Xk chủ lực nó đã vơng lên vị trí thứ 2 sau dầu thô và có lúc vợt cả dầu
thô trong những tháng gần đây. Kim ngạch XK dệt may quả là rất đáng ghi nhận.
4.3. ảnh hởng tích cực đến các hoạt động kinh tế xã hội khác.
Cùng với nhập khẩu, XK là một trong hai hoạt động chính của lĩnh vực
ngoại thơng. Xk phát triển mạnh mẽ, đem lại nhiều giá trị thăng d cho xã hội.
Nhng để hoạt động XK đợc diễn ra liên tục với tốc độ cao thì nguồn sản phẩm
đầu vào của nó phải dồi dào, đủ khả năng đáp ứng. Và để thỏa mãn đợc điều này
hay song song với việc đẩy XK thì hoạt động nhập khẩu cũng phát triển. Để có
những sản phẩm chất lợng cao, mẫu mã và kiểu dáng đẹp, phong phú để có thể
cạnh tranh với các quốc gia XK khác, thì cơ sở vật chất phải đợc cải tiến, hoạt
động nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu này, mang khoa học kỹ thuật tiên tiến trên
thế giới về áp dụng cho đất nớc mình. Xuất khẩu một nớc muốn phát triển thì
nhập khẩu cảu nớc kia phải phát triển theo, đó là quy luật tất yếu. Song song với
các quan hệ kinh tế ngày càng mở rộng và phát triển giữa các nớc là các quan hệ
chính trị, văn hóa và xã hội. Một khi kinh tế giữa các nớc có quan hệ với nhau thì
các quốc gia đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nhau để giữ vững và phát triển thị tr-
ờng, sẽ giúp đỡ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.
Nh ngành dệt may VN để tham gia và thỏa mãn các nhu cầu của các thị tr-
ờng khó tính trên thế giới thì chất lợng, mẫu mã, cũng nh các điều kiện khác
phải đáp ứng đợc nhu cầu của họ. và để dễ dàng trong quan hệ thì không những
phải nâng cao các điều kiện sản xuất dệt may cảu đất nớc. mà còn nâng cao nằng
cách nhập khẩu máy móc thiết bị từ các nớc đó. Đây là mối quan hệ qua lại, hai
bên cùng có lợi và phát triển song song nhau. Một khi hoạt động xuất khẩu phát
triển ngày càng sâu và rộng thì các hoạt động trong các lĩnh vực khác cũng phát
triển theo. XK phát triển quan hệ với nớc ngoài của VN tăng lên, kim ngạch XK
thu về tăng thì sẽ đầu t cho các hoạt động khác. Vì một khi ngân sách của nhà n-
ớc nhiều thì việc đầu t cho đất nớc sẽ dễ dàng hơn. Khi cuộc sống của ngời dân
nâng cao, thu nhập đầu ngời cải thiện thì cơ sở hạ tầng sẽ đợc đầu t tốt hơn sẽ
phục vụ tốt hơn nhu cầu của ngời dân.
Mở rộng XK để tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển
cơ sở hạ tầng.
9
Đề án kinh tế thơng mại
5. Nội dung cơ bản của thúc đẩy XK.
5.1. Sự cần thiết phải thúc đẩy XK.
Thơng mại quốc tế ra đời từ rất lâu, xuất phát từ nhu cầu của con ngời và sự
phát triển của xã hội. Các quốc gia đều muốn tham gia vào hoạt động ngoại th-
ơng vì họ sẽ đợc nhiều cái lợi, sẽ thu đợc về nhiều giá trị thăng d hơn so với khả
năng sản xuất, ngời tiêu dùng sẽ thỏa mãn đợc nhu cầu ngày càng phong phú, đa
dạng và cao của mình.
Trớc thực tế đó thì các quốc gia đã không ngừng thúc đẩy các hoạt động
ngoại thơng, đặc biệt là XK. Bởi vì với lợi thế về một số yếu tố sản xuất nào đó
thì quốc gia đó sẽ sản xuất sản phẩm với chi phí tơng đối thấp nhất, và họ nhận
ra rằng nền chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm này và mang đi bán ở thị trờng
quốc tế, những nơi cần nó, để thu đợc lợi nhuận tối đa và mua những sản phẩm
mà khả năng sản xuất của mình thấp hơn. Không nằm ngoài quy luật đó, VN
nhận thấy rằng để phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho xã hội thì phải đẩy mạnh
XK, mở rộng hoạt động ngoại thơng. Không những chúng ta sẽ thu đợc lợi
nhuận cao hơn mà các quan hệ với các nớc sẽ đợc thắt chặt hơn và chúng ta sẽ
nhận đợc những u đãi, giúp đỡ từ các quan hệ này. và đằng sau đó là nguồn vốn
cho nhập khẩu ngày càng tăng, việc làm cho ngời lao động ngày càng nhiều, nội
lực nền kinh tế ngày càng đợc khẳng định, VN ngày càng có vị thế trên trờng
quốc tế. Tiềm năng kinh tế là vấn đề quan trọng bậc nhất của bất kỳ quốc gia nào
nhng tình hình chính trị xã hội cũng không kém phần quan trọng.Bởi vậy tăng c-
ờng XK góp phần thắt chặt quan hệ kinh tế đối ngoại và ổn định chính trị quốc
gia. Mang sản phẩm của mìn xâm nhập vào thị trờng quốc tế để họ biết đến một
đất nớc VN, họ thấy đợc sản phẩm của chúng ta và nhận ra rằng VN đang trên
đà phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trờng.Vì mục đích lợi nhuận, nâng
cao đời sống nhân dân và vì tạo quan hệ thân thiết, chặt chẽ với các nớc trên thế
giới mà chúng ta không ngừng đẩy mạnh XK.
Với ngành DM lại rất cần thiết phải thúc đẩy XK, vì VN có nhiều điều kiện
thuận lợi (đặc biệt là con ngời và yếu tố tự nhiên) để sản xuất ra sản phẩm dệt
may . Mà sản phẩm sản xuất ra nhiều, ngời dân tiêu dùng trong nớc không thể
tiêu dùng hết đợc, mặt khác các nhà sản xuất không thỏa mãn mục đích lợi
nhuận nếu bán hàng trong nớc. Thúc đẩy XK dệt may là điều tất yếu. Ta phải đẩy
mạnh, khôi phục XK sang các thị trờng truyền thống, phải luôn giữ chữ tín với
bạn hàng.Mặt khác, không ngừng tìm kiếm và đầy mạnh XK sang các thị trờng
mới.
5.2. Sự phát triển của XK.
Có thể nói nhu cầu trao đổi xuất hiện từ thời cổ đại nhng chỉ từ khi ra đời
nền sản xuất nàng hóa t bản chủ nghĩa mới dẫn đến sự phá vỡ tính chất khép kín
của từng đơn vị kinh tế trong quốc gia của từng nớc. Tự do thơng mại gắn thị tr-
ờng dân tộc với thị trờng thế giới. gắn phân công lao động trong nớc với phân
công lao động quốc tế. Ngoại thơng, trong đó có XK trở nên không thể thiếu đợc
đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trớc đây nhà nớc ta đã từng xây cho mình
một nền kinh tế độc lập, tự cung tự cấp tránh lệ thuộc vào bên ngoài. Nhng đã
sớm nhận ra sai lầm của mình, bởi nền kinh tế tự cung tự cấp vô cùng tốn kém về
cả vật chất và thời gian. Mở cửa nền kinh tế là chủ trơng của nớc ta. Tham gia
các mối quan hệ kinh tế- xã hội với quốc tế. Thay đôi chiến lợc từ đóng cửa sang
mở cửa, từ thay thế nhập khẩu sang hớng vào xuất khẩu. Vì lúc đó chúng ta sẻ
tận dụng đợc vốn, khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm của các quốc gia khác.
Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng cao, cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, trở thành nhân tố quyết định sự phát
triển của sản xuất. VN là một nớc nghèo, lạc hậu, đang phát triển nên rất cần vốn
và phải tham gia hoạt động xuất nhập khẩu là tất yếu, thị trờng trong nớc nhỏ
hẹp, không đủ đảm bảo cho phát triển với quy mô hiện đại, sản xuất hàng loạt ,
10
Đề án kinh tế thơng mại
các nhà sản xuất đã phải XK hàng hóa. Từ khi chúng ta chỉ XK sang những thị
trờng nhỏ lẻ, các nớc xã hội chủ nghĩa với những mặt hàng truyền thống với
khối lợng khiêm tốn. Thì đến nay quan hệ buôn bán và thị trờng XK của ta đã
mở rộng ra nhiều đặc biệt, có cả thị trờng rộng lớn và tiềm năng là Eu và Mỹ,
Nhật. với khối lợng xuất khẩu ngày càng nhiều.
Dệt may VN cũng thế, lúc đầu khi XK cha phát triển thì hàng dệt may của
ta mới chỉ có mặt ở một số thị trờng với khối lợng bé nhng bây giờ nó đã trở
thành ngành XK chủ lực trong 10 ngành XK chủ lực của VN. Khoảng gần 10
năm trở lại đây thì kim ngạch XK của ngành này đã tăng lên rất lớn, nó đã thâm
nhập vào các thị trờng lớn nh Mỹ và EU. Kim ngạch XK của nó từ chỗ đứng
cuối bảng sắp xếp kim ngạch XK của các ngành XK của VN trong nhngx năm
đầu XK và vơn lên ví trí thứ t trong ít năm sau đó. Và cách đây không lâu thì
kim ngạch của ngành dã vơn lên vị trí thứ hai sau dầu thô và còn vợt cả dầu thô.
Vì vậy mà chúng ta đã không ngừng thúc đẩy XK dệt may. Nó không những
mang lại lợng kim ngạch lớn cho xã hội mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm
cho ngời lao động. Những kết quả đó có đợc là do quan hệ kinh tế đối ngoại giữa
VN và các nớc đã đợc mở rộng và thắt chặt, từ đó thị trờng XK của chúng ta
ngày càng rộng lớn, sản phẩm dệt may VN tự hào đã có mặt trên thị trờng thế
giới. Thúc đẩy XK dệt may là việc làm cần thiết mà các doanh nghiệp sản xuất
và XK hàng dệt may VN cungx nh nhà nớc cần phải quan tâm.
Dệt may XK của VN đã mở rộng về thị trờng và chủng loại, do nhà nớc và
doanh nghiệp đã có các chính sách, biện pháp phát triẻn và đẩy mạnh XK ngành
này. cái quan trọng nhất mà ngành XK dệt may của ta đã đạt đợc là đã chiếm đợc
thị trờng EU. Từ khi VN bình thờng hoá quan hệ với EU, đặc biệt là khi các hiệp
định thơng mại, hiệp định khung giữa hai bên đợc ký kết thì quan hệ giữa hai
bên tăng lên, và các đIũu kiện mà EU yêu cầu với dệt may VN cũng giảm. Mặt
khác lại đợc các u đãi và hỗ trợ của EU đối với mặt hàng này ngày càng tăng.
Cộng thêm nhu cầu về hàng may mặc của ngời tiêu ding EU là không có giới
hạn và rất cao, đây là thị trờng có nhu cầu cao vào loại nhất thế giới về loại hàng
này. Vì thu nhập của họ rất cao, họ quan tâm đến chất lợng, kiểu dáng hơn nhiều
so với giá cả.
XK sang EU đối với hàng dệt may nói riêng và các hàng hoá khác nói
chung chủ yếu thông qua hai phuơng thức chính là XK trực tiếp và XK gián tiếp,
ngoài ra còn các phơng thức khác nh liên doanh, chuyển khẩu, tái xuấtXK trực
tiếp là chúng ta trực tiếp tự làm ra sản phẩm từ các nguyên liệu cho đến lúc thành
thành phẩm mang sang các thị trờng đang có nhu cầu mà thu đợc lợi nhuận cao
nhất hoặc cho các nhà XK khác nếu thoã đáng. đây là phơng thức XK mà phía
ngời XK chủ động đợc quá trình sản xuất và đợc hởng lợi cao trực tiếp. Chênh
lệch do lợi thế về đIũu kiện sản xuất và lúc thành sản phẩm hoàn chỉnh thì chúng
ta đều đơcj cả, bởi vây XK theo phơng thức này thu đợc khoản lợi tơng đối cao,
gần 100% lợi nhuận là doanh nghiệp đợc cả. Nhng lại rủi ro cao do không chủ
động đợc thị trờng và vốn lớn, khá tốn kém, các chi phí đầu t cho quá trình này
từ lúc bắt tay vao sản xuất cho đến khi mang sản phẩm đI XK là cao. đặc biệt với
dẹt may chúng ta phảI qua nhiều khâu thì mới có đợc một sản phẩm hoàn chỉnh,
từ thiết kế mẫu, chọn mẫu, may thành phẩm. Tuy nhiên hình thức XK này của
VN đối với hàng dệt may sang EU thì còn chiếm tỷ lệ thấp, mới chỉ khoảng 20%
doanh nghiệp XK theo phơng thức này. vì có nhiều nguyên nhân, cả chủ quan do
điều kiện đất nớc và doanh nghiệp đáp ứng đủ khả năng XK theo phơng thức
này. và cả khách quan do thị trrơng EU yêu cầu vè chất lợng và mẫu mã mà dệt
may VN cha đáp ứng đợc, chúng ta chỉ mới đáp ứng bằng XK gia công. đó là ph-
ơng thức XK gián tiếp, tức là phẩm dệt may của ta muốn sử dụng đợc thì phải
qua một nớc thứ ba gia công (XK dệt may của VN chiếm 80% phơng thức này).
chúng ta sẻ nhận đơn đặt hàng, có khi là cả mẫu mã của các nớc EU sau đó sản
xuất thàng sản phẩm thô rồi mang sang nớc thứ ba thì mới XK đợc. Do đó tuy
11
Đề án kinh tế thơng mại
phơng thức XK này vốn ít, luôn có việc để làm, chủ động đợc thị trờng và phù
hợp với đIũu kiện thực tế và con ngời VN nhng lại thu đợc lợi nhuận thấp.
5.3 Các chíng sách, cơ chế thúc đẩ XK dệt may sang EU.
Phát triển kinh tế, trong đó thúc đẩy sự tăng trởng Xk mà mục tiêu chiến l-
ợc mà Đảng và Nhà nớc đã xác định rõ. Trong những năm qua kim ngạch XK
của VN đã không ngừng tăng, đặc biệt đối với hàng dệt may. đạt đợc đIũu dó là
nhờ việc thể chế hoá đờng lối của Đảng bằng các chính sách cơ chế xuất nhập
khẩu theo hớng tự do hoá thơng mại. Sau 15 năm đổi mới, với chính sách đa ph-
ơng hoá các hoạt động kinh tế quốc tế và thực hiện chủ trơng khuyến khích XK
của Đảng và Nhà nớc. Hoạt động XK của VN đã có những bớc tiến vợt bậc.
Quốc hội đã xây dung và ban hành nhiều luật nh luật đầu t nớc ngoàI tại VN và
Chính phủ đã có nhiều nghị định nhằm chuyển căn bản hoạt động xuất nhập
khẩu từ cơ chế tập trung bao cấp sang co chế thị trờng định hơng XHCN.
Chính sách thơng nhân trong hoạt động XK, đây là chính sách rất quan
trọng trong lĩnh vực XK của nhà nớc. Chính sách này quy định các điều kiện, thủ
tục đăng ký kinh doanh XK và phạm vi hoạt động của các thơng nhân. nghị định
57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ đã cho phép tất cả mọi doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đợc phép XK trực tiếp, nhận gia công cho
tất cả các loại hàng hoá (trừ hàng hoá cấm XK và XK có đIũu kiện) và trớc khi
tiến hành kinh doanh XK phảI đăng ký mã số doanh nghiệp XK với cơ quan tỉnh
(thành phố) nơI doanh nghiệp đóng trụ sở chính. Chính sách này quy định rõ
quyền hạn và nghĩa vụ của thơng nhân trong hoạt động XK.
Chính sách thị trờng có tầm quan trọng đặc biệt cho sự phát triển nền kinh
tế và dẫn dắt các doanh nghiệp phát triển. Chính sách này đặt ra nhiệm vụ ở cấp
Chính phủ, cấp Bộ nhằm khai thông những cản trở trên thị trờng thế giới. Cụ thể
là hớng vào mục tiêu thúc đẩy XK và đa dạng hoá thị trờng XK . PhảI chú trọng
phát triển các thị trờng truyền thống nh EU , Nga , Châu á TháI Bình Dơng
Đồng thời tiếp cận và phát triển các thị trờng mới với nhiều tiềm năng . Tăng c-
ờng khuyến khích động viên tìm kiếm thị trờng XK , Đối tác ngoài của các
doanh nghiệp . Đặc biệt quan trọng là hoạt động nghiên cứu về thị trờng các nớc
mà ta tiến hành XK và công tác thông tin về các thị trờng này .
Chính sách mặt hàng trong hoạt động XK là nền tảng của chính sách XK
Trên cơ sở chính sách mặt hàng để xác định đầu t và cơ cấu lại sản xuất hàng hoá
hợp lý để XK đạt hiểu quả cao và định hớng chiến lợc sản phẩm của doanh
nghiệp . Đa ra những mặt hàng XK mũi nhọn , những mặt hàng hạn chế hay cấm
XK.
Chính sách đầu t và phát triển XK , từ thực trạng và yêu cầu rất quan trọng ,
một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạng tranh
của sản phẩm XK , mặt khác bảo đảm nguồn vốn cho đầu t phát triển cơ sở vật
chất cho XK , tạo điều kiện mở rộng giao lu hàng hoá và phát triển thị trờng XK.
Trong quá trình thực hiện kinh doanh XK , nhà nớc đã luôn hoàn thiện các
chính sách và đổi mới cơ chế đIều hành , đề ra cơ chế mới nh đối với ngành dệt
may. Theo thông t liên tịch số 25/2001 , thay thế cho thông t số 19/2000 của liên
bộ Thơng Mại , kế hoạch và đầu t , Công nghiệp hớng dẫn việc thực hiện hạn
ngạch hàng dệt may XK sang thị trờng EU , Canada, Thổ Nhỉ Kỳ năm 2002 . Cơ
chế này quy định vào tất cả các chủng loại hàng đI ba thị trờng có hạn ngạch trên
đều đợc áp dụng chung cơ chế cấp giấy phép XK tự động (E/L) . EU quy định rõ
bất kỳ loại hàng nào trong quý I /2002 mà XK đột biến đạt tới mức 50% hạn
ngạch thì chủng loại hàng đó sẻ ngừng cung cấp E/L và tiến hành phân giao hạn
ngạch hoặc đấu thầu để đảm bảo cho các doanh nghiệp sản xuất ổn định, đảm
bảo cho ngời lao động có việc làm thờng xuyên. Và cho đến trớc thời hạn trớc
12
Đề án kinh tế thơng mại
26/7/2002, nếu có chủng loại hàng nào đột biến thực hiện hết đợc 70% tổng hạn
ngạch thì cũng phảI ngừng câps E/L để áp dụng cơ chế phân giao hạn ngạch
hoặc đấu thầu số hạn ngạch còn lại. Mục tiêu cũng là nhằm ổn định sản xuất của
doanh nghiệp. Nếu trong quá trình thực hiện hạn ngạch đến ngày 26/7 mà không
có chủng loại hàng nào chạm trần 70% thì các chủng loại hàng đó đợc tiếp tục
cấp E/L tự do cho đến khi nào đạt mức XK 90% thì mặt hàng đó mới ngừng cấp
E/L để áp dụng cơ chế phân giao hạn ngạch số 10% còn lại. Với cơ chế cấp E/L
này, đã giảI quyết cơ bản nhu cầu nhỏ lẽ của doanh nghiệp, chống đợc viẹc đầu
cơ hạn ngạch, bán hạn ngạch, tạo sân chơI bình đẳng, công bằng cho các doanh
nghiệp và nó cũng làm cho các doanh nghiệp nào sản xuất hàng chất lợng, có thị
trờng, có khách hàng thì có cơ hội để đẩy mạnh hàng XK hàng dệt may. Theo cơ
chế này thì tất cả các chủng loại hạn ngạch đều đợc hởng thuế thu hạn ngạch,
đây là một lợi thế lớn cho các doanh nghiệp và cũng là tiến bộ nhất bởi trên thế
giới cha có quoóc gia nào áp dụng chính sách này. các chính sách XK nh chính
sách tàI chính hỗ trợ XK, chính sách thuế XKđã thúc đẩy XK phát triển, đặc
biệt là XK dệt may phát triển mạnh trong thời gian qua.
Thành lập các cơ quan xúc tiến thơng mại, đặc biệt về dệt may Vn tại các
nớc thành viên EU, để thúc đẩy hàng dệt may VN vào thị trờng quốc tế. Hiện
nay chúng ta chỉ mới có vàI trung tâm thơng mại ở các thị trờng này nhng chỉ
làm đợc chức năng trình bày, giới thiệu hàng dệt may VN, chứ cha triển khai đầy
đủ xúc tiến thơng mại. Việc mở rộng, đI sâu vào thị trờng dệt may Eu là rất cần
thiết, phảI có cơ quan cung cấp các thông tin về thị trờng, giá cả, nguồn hàng,
đối tác cho doanh nghiệphay còn gọi là cơ quan xúc tiến thơng mại. Để đảm
bảo hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đây không thể là cơ quan kinh doanh vì nh
vậy nhiều lúc nhiệm vụ sẻ kjhông đạt đợc. Mà cơ quan này phảI đợc Nhà nớc
cấp kinh phí để hoạt động hoặc thu từ các hoạt động hỗ trợ nhng không nhằm
trong mục đích kinh doanh.
6. Những nhân tố tác động đến việc đẩy mạnh XK dệt may sang EU.
6.1. Quan hệ kinh tế- xã hội giữa VN-EU.
Để phát triển mạnh XK dệt may của VN sang thị trờng EU thì điều quan
trọng đầu tiên mà nhà nớc ta phải tính đến đó là quan hệ kinh tế- xã hội với EU.
Để làm bất kỳ một việc gì cũng nh để xuất khẩu dệt may sang thị trờng EU, thì
chúng ta phải xây dựng một quan hệ mật thiết, thắt chặt tình bạn bè. Khi đã có
quan hệ tốt thì mọi việc sẽ trở nên dễ dàng hơn. Một khi EU coi VN là một bạn
hàng thì điều này lại rất thuạn lợi cho xuất khảu dệt may của VN. Một khi VN đ-
ợc nhìn nhận là một nền kinh tế thị trờng và đợc hởng các u đãi của Eu đối với
một nớc có nền kinh tế thị trờng nh giảm hoặc bỏ hạn ngạch đối với dệt may
VN, đợc hởng MFN, GSP là do EU đã hỗ trợ và giúp đỡ dệt may VN. Quan hệ
giữa các nhà lãnh đạo tốt đẹp thì các nhà sản xuất yêu tâm trao dổi buôn bán với
nhau, đồng thời khi quan hệ đó tố đẹp thì hai bên sẽ mở rộng cửa cho hàng hóa
của bên kia tràn vào. Cơ hội đẩy mạnh XK dệt may của VN và thị trờng EU đang
rộng mở. Có thể nói rằng quan hệ kinh tế- xã hội của hai bên là điều kiện, nền
tảng để cho hàng dệt may VN có mặt nhiều trên đất EU. Thử hỏi nếu quan hệ đó
không tốt, nhà nớc VN cấm XK dệt may sang EU , mặt khác EU lại cấn nhập
khẩu dệt may VN thì các nhà sản xuất hàng dệt may VN liệu có thu đợc lợi
nhuận từ việc mang hàng sang thị trờng EU hay không. Mặc dù hàng VN có tốt,
có đẹp đi chăng nữa, giá cả có rẻ chăng nữa và ngời tiêu dùng EU rất muốn dùng
hàng may mặc của VN, nhng liệu họ có gặp nhau đợc không một khi cánh cửa
ngoại giao hai bên đã đóng chặt, quan hệ ngoại thơng hai bên đã cấm vận. Nói
chung , quan hệ kinh tế-xã hội giữa VN-EU, đã chi phối nhiều và có tính chất
quyết định đến việc đẩy mạnh XK hàng dệt may sang thị trờng EU.
13
Đề án kinh tế thơng mại
6.2. Giá cả hàng hoá
Đi đôi với chất lợng là giá cả. Điều mà bất kỳ khách hàng nào cũng quan
tâm khi mua hàng. mặc dù thi nhập của ngời dân EU cao, diều kiện và nhu cầu
sống của họ lớn, nhng không phải vì thế mà họ không quan tâm đến giá cả hàng
hóa. Nói đến giá cả thì ngời tiêu dùng nào cũng muốn giá thấp nhất có thể có.
Tiền là vấn đề quan tâm không của riêng ai. Một bộ đồ giá rẻ và bộ kia cũng t-
ợng tự nhng giá cao, thì bất kỳ ai cũng sẽ mua đồ rẻ mà chất lợng tơng đơng bởi
vậy hàng dệt may VN muốn vào đợc thị trờng EU thì phải có giá cả phải chăng,
phải hạ giá thành. Thực tế là hàng dệt may VN đang bị cạnh tranh gay gắt của
hàng dệt may nớc ngoài trên thị trờng EU. Đặc biệt là hàng của Trung Quốc và
các nớc ASEAN . Cạnh tranh về giá cả là yếu tố hàng đầu của các doanh nghiệp,
doanh nghiệp nào cũng muốn bán đợc nhiều hàng với giá cao nhất có thể có.
Mức độ cạnh tranh của thị trờng EU về giá cả là rất cao vì đây là thị trờng tiêu
dùng rộng lớn và phong phú, đa dạng về hàng dệt may. Các doanh nghiệp sản
xuất hàng dệt may đều muốn sản phẩm của mình tới đợc, để thu đợc lợi nhuận
cao từ thị trờng này. Giá cả của hàng dệt may Vn trên thị trờng EU còn phải bàn
nhiều, khi mà các sản phẩm cùng ngành của Trung Quốc, các nớc ASEAN Đặc
biệt khi Trung Quốc gia nhập WTO nh hiện nay thì khả năng cạnh tranh của VN
trên thị trờng EU là rất thấp.
6.3. Tác động của hạn ngạch.
Với bất kỳ một quốc gia nào thì cũng muốn đẩy mạnh XKvà hạn chế nhập
khẩu, với XK thì có các biện pháp hỗ trợ , thúc đẩy phát triển XK còn với nhập
khẩu thì có các biện pháp hạn chế để bảo hộ sản xuất trong nớc. Và XK dệt may
là ngành chịu ảnh hởng rất nhiều từ yếu tố này, chúng ta bảo hộ trong nớc chặt
chẽ , còn Eu thì lại cấp cho chúng ta lợng hạn ngạch thấp. EU xác định trớc khối
lợng hàng nhập khẩu và cấp giấy phép cho một số tổ chức có đủ tiêu chuẩn đợc
nhập khẩu khối lợng hàng này nhng số lợng cấp rất hạn ché đã gây cản trở sự
phát triển của ngành.
Hạn ngạch là một trong những công cụ quản lý XK cơ bản của Nhà nớc. với
VN, đối với hàng hóa có hạn ngạch và có giấy phép của Bộ Thơng mại thì quy
định rõ. Thơng nhân có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1, điều 9, nghị định
57/1998/NDD-CP chỉ đợc ủy thác XK, nhập khẩu hàng hóa có hạn ngạch và
hàng hó Xk, nhập khẩu có giấy phép của Bộ Thơng mại trong phạm vi số lợng
hoặc trị giá ghi tại văn bản phân bổ hạn ngạch của các cơ quan có thẩm quyền
hoặc giấy phép của Bộ Thơng mại. Thơng nhân có đủ điều kiện theo quy định tại
khoản 2, điều 9, Nghị đinh số 57/1998/NĐ-CP chỉ đợc nhận ủy thác XK, nhập
khẩu hàng hóa có hạn ngạch và hàng hóa XK, nhập khẩu có giấy phép của Bộ
Thơng mại trong phạm vi số lợng hoá giá trị ghi tại văn bản phân bổ hạn ngạch
của cơ quan có thẩm quyền hoặc giấy phép của bộ thơng mại cấp cho thơng nhân
uỷ thác; thơng nhân uỷ thác không đợc sử dụng hạn ngạch hoặc giấy phép do bộ
thơng mại cấp cho maình để nhận uỷ thác XK. Trờng hợp bộ thơng mại có quy
định riệng về uỷ thác XK một số mặt hàng có hạn ngạch hoặc có giaáy phép thì
cuộc uỷ thác đợc thực hiện theo quy định đó.
Đối với hàng XK có giấy phép của bộ quản lý chuyên ngành. Thơng nhân
có đủ đIều kiện theo quy định của khoản 1 và khoản 2, diều 9, nghị định
57/1998/NĐ- CP đợc uỷ thác hoặc nhận uỷ thác xk hàng hoá chuyên ngành cho
phép XK hàng hoá đó.
Theo công cụ này, thì nhà nớc sẻ quản lý đợc hoạt động XK vì theo giấy
phép thì một ngành sẻ đợc cấp một số hạn ngạch nhất định và chỉ đợc XK trong
phạm vi đó. NgoàI ra nếu thiếu học thừa chi tiêu thì có thể nhận uỷ thác từ các
ngành khác. Theo cách này thì các ngành, hàng đều có cơ hội XK nh nhau,
ngành có số lợng ít hay nhiều đều đợc cấp hạn ngạch XK miễn là ngành hàng có
khả năng XK. Hạn ngạch thúc đẩy các nhóm ngành hàng mới gia tăng XK và
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét