Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
3. Lý thuyết về thơng mại quốc tế
a. quan điểm của trờng phái trọng thơng về thơng mại quốc tế:
Quan điểm này ra đời vào thế kỷ 15. Các học giả ngoại thơng lập luận
rằng ngoại thơng là nguồn gốc giàu có của một quốc gia. đối với một quốc gia,
xuất khẩu là rất có lợi vì nó kích thích sản xuất trong nớc, đồng thời dẫn đến
dòng kim loại quý đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó. Ngợc lại
nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất
trong nớc, hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia do phải dùng vàng
bạc chi trả cho nớc ngoài. Nh vậy, sức mạnh và sự giàu có của một quốc gia sẽ
tăng thêm nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu. Về mặt chính sách,
các học giả trọng thơng kiến nghị nhà nớc phải thi hành chính sách bảo hộ mậu
dịch, theo đuổi chủ nghĩa dân tộc về kinh tế. Cụ thể là nhà nớc phải hạn chế tối
đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công
cụ chính sách thơng mại nh thuế quan, trợ cấp.
b.Thơng mại quốc tế dựa trên lợi thế tuyệt đối của adam smith
Theo lý thuyết này: các nớc tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tế
sẽ thu đợc lợi ích khi họ chuyên môn hoá vào sản xuất và xuất khẩu những
hàng hoá có chi phí thấp hơn có nghĩa là có chi phí tuyệt đối so với việc sản
xuất ở quốc gia khác và nhập khẩu hàng hoá có tình trạng ngợc lại.
các giả thiết của mô hình:
để đơn giản hoá phân tích, mô hình thơng mại đợc xây dựng với những
giả thiết sau đây:
thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia (Việt Nam và nhật bản) và hai mặt
hàng (thép và vải).
Chi phí vận chuyển bằng 0.
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và đợc di chuyển tự do giữa các
ngành sản xuất trong nớc, nhng không di chuyển đợc giữa các quốc gia.
Thơng mại là hoàn toàn tự do.
để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải, số lợng lao động cần tới ở mỗi nớc đ-
ợc cho trong bảng 1.1 dới đây:
Nhật Bản Việt Nam
Thép
Vải
2
5
6
3
Bảng 1.1. mô hình đơn giản về lợi thế tuyệt đối
lợi ích từ chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi:
Khi cha có thơng mại, thế giới bao gồm hai thị trờng biệt lập với hai mức
giá tơng quan khác nhau. Mỗi nớc đều sản xuất cả hai mặt hàng để tiêu dùng. Có
thể dễ dàng nhận thấy rằng nhật bản là nớc có hiệu quả cao hơn (có lợi thế tuyệt
đối) trong sản xuất thép vì để làm ra một đơn vị thép nớc này chỉ cần 2 lao động,
trong khi Việt Nam phải cần tới 6 lao động. ngợc lại Việt Nam có lợi thế tuyệt
đối về sản xuất vải vì để sản xuất 1 đơn vị vải Việt Nam chỉ cần 3 lao động,
trong khi nhật bản phải cần tới 5 lao động. Khi đó nhật bản sẽ tập trung toàn bộ
số lao động của mình để sản xuất thép, còn Việt Nam khi thực hiện chuyên môn
hoá sản xuất vải. hai nớc thực hiện trao đổi với nhau.
động cơ thơng mại của hai nớc chủ yếu là ở chỗ hai nớc đều mong muốn
tiêu dùng đợc nhiều hàng hoá hơn với mức giá thấp nhất. Do giá vải ở nhật bản
cao hơn giá vải ở Việt Nam - tính theo chi phí lao động - nên nhật bản sẽ có lợi
khi mua vải từ Việt Nam thay vì tự sản xuất trong nớc. Tơng tự giá thép ở Việt
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
Nam cao hơn ở nhật bản cho nên Việt Nam sẽ mua thép từ nớc này thay vì tự
sản xuất trong nớc. Thơng mại cò có thể làm tăng sản xuất và tiêu dùng của toàn
thế giới do mỗi nớc thực hiện chuyên môn hoá sản xuất mặt hàng mà mình có lợi
thế tuyết đối.
Thực vậy, giả sử nhật bản và Việt Nam mỗi nớc có 120 đơn vị lao động,
số lao động đó đợc chia đều cho hai ngành sản xuất thép và vải. Trong trờng hợp
tự cấp, tự túc, nhật bản sản xuất và tiêu dùng 30 đơn vị thép và 12 đơn vị vải;
còn Việt Nam 10 thép và 20 vải. Sản lợng của toàn thế giới khi đó bao gồm 40
thép và 32 vải. Khi lợng lao động đợc phân bố lại trong mỗi nớc, cụ thể là tất cả
120 lao động ở nhật bản tập trung vào ngành thép và 120 lao động ở Việt Nam
vào ngành sản xuất vải thì sản lợng của toàn thế giới sẽ là 60 thép và 40 vải.
Rõ ràng là nhờ chuyên môn hoá và trao đổi, sản lợng của toàn thế giới
tăng lên không chỉ đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mỗi nớc nh trong trờng hợp tự
cấp, tự túc mà còn dôi ra một lợng nhất định. Vì vậy, mỗi nớc có thể tăng lợng
tiêu dùng cả hai mặt hàng và do đó trở lên sung túc hơn.
c.Lý thuyết lợi thế tơng đối của ricardo:
phát biểu quy luật về lợi thế tơng đối của ricardo: Các nớc không có
lợi thế song song về bất kỳ hàng hoá nào vẫn có thể tham gia vào thơng mại
quốc tế và thu đợc lợi ích khi các nớc này chuyên môn hoá sản xuất và xuất
khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất nó là ít bất lợi nhất hoặc có lợi thế tơng
đối - biểu hiện dới hình thức chi phí so sánh thấp nhất - và nhập khẩu hàng
hoá có tình trạng ngợc lại.
Lợi thế tuyệt đối đợc xây dựng trên cơ sở khác biệt về số lợng lao động
thực tế đợc sử dụng ở quốc gia khác nhau thì lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu
quả sản xuất tơng đối. Trong mô hình tuyệt đối ở trên, thép đợc sản xuất rẻ hơn ở
nhật bản so với ở Việt Nam do sử dụng một lợng lao động ít hơn. ngợc lại, vải
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
đợc sản xuất ở Việt Nam rẻ hơn ở nhật bản tính theo số lợng lao động đợc sử
dụng. Tuy nhiên, nếu một nớc, chẳng hạn ở nhật bản, có hiệu quả hơn trong việc
sản xuất cả hai mặt hàng, thì theo quan điểm lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng
đều đợc sản xuất ở nớc này. thế nhng đây không phải là giải pháp dài hạn bởi lẽ
nhật bản không hề mong muốn nhập khẩu bất kỳ mặt hàng nào từ Việt Nam. ở
đây, điểm quan trọng không phải là hiệu quả tuyệt đối mà là hiệu quả tơng đối
trong sản xuất vải và thép. nhật bản có lợi thế trong sản xuất cả hai mặt hàng,
nhng chỉ có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức lợi thế cao hơn; ngợc lại,
Việt Nam bất lợi trong sản xuất cả hai mặt hàng nhng vẫn có lợi thế so sánh đối
với mặt hàng có mức bất lợi nhỏ hơn.
Mô hình giản đơn của ricardo về lợi thế so sánh
Các giả thiết về mô hình:
Thế giới chỉ có 2 quốc gia và chỉ có 2 hàng hoá đợc sản xuất.
Thơng mại là hoàn toàn tự do
Lao động là nguồn lực sản xuất duy nhất trong cả 2 quốc gia và chỉ đợc di
chuyển trong phạm vi quốc gia.
Công nghệ sản xuất là cố định và không có chi phí vận tải.
Quay trở lại mô hình thơng mại ở phần trớc.
Tuy nhiên, lợng lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị thép và vải có
khác nh bảng dới đây:
nhật bản
Việt Nam
Thép
Vải
2
5
12
6
Bảng 1.2. mô hình giản đơn về lợi thế so sánh
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
Các số liệu cho thấy nhật bản cần ít số lợng lao động hơn so với Việt
Nam để sản xuất ra cả 2 mặt hàng. Thế nhng điều này sẽ không cản trở thơng
mại có lợi giữa 2 nớc. Tuy nhật bản có lợi thế tuyệt đối về cả 2 mặt hàng, thế
nhng do mức lợi thế về sản xuất thép lớn hơn mức lợi thế về sản xuất vải đợc thể
hiện qua bất đẳng thức 2/12 nhỏ hơn 5/6 cho nên nớc này có lợi thế so sánh về
mặt hàng thép. Ngợc lại, Việt Nam bất lợi tuyệt đối về cả 2 mặt hàng, nhng do
mức bất lợi về sản xuất vải nhỏ hơn mức bất lợi về sản xuất thép nên Việt Nam
có lợi thế so sánh về vải (6/5 nhỏ hơn 12/2).
Lợi thế so sánh của mỗi nớc còn có thể đợc xác định thông qua so sánh
các giá tơng quan của thép và vải. Giá tơng quan giữa hai mặt hàng là giá của
một mặt hàng tính bằng số lợng mặt hàng kia. Trong mô hình ricardo giá cả t-
ơng quan đợc tính thông qua yếu tố trung gian là chi phí lao động. Trên cơ sở các
số liệu trong bảng 1.2 có thể tính đợc các mức giá tơng quan của thép và vải nh
trong bảng 1.3 giá tơng quan của thép ở nhật bản và Việt Nam tơng ứng là 1
thép = 0,4 vải và 1 thép = 2 vải, còn giá vải tơng ứng là
1 vải = 2,5 thép và 1 vải = 0,5 thép. Chính sự khác biệt giữa mức giá tơng quan
là cơ sở để xác định lợi thế so sánh của từng nớc.
Nhật Bản Việt Nam
Thép (1 đơn vị)
Vải (1 đơn vị)
0,4v
2,5t
2v
0,5t
Bảng 1.3 giá cả tơng quan và lợi thế so sánh
Nh đã chỉ ra ở trên, xét theo giác độ tuyệt đối thì nhật bản có hiệu quả
hơn Việt Nam trong sản xuất cả 2 mặt hàng, nhng nớc này chỉ có lợi thế so sánh
về thép. điều này có thể thấy đợc qua việc so sánh tơng quan của thép ở nhật
bản so với ở Việt Nam, cụ thể hơn là thép ở nhật bản rẻ hơn so với Việt Nam.
Tơng tự, vải ở Việt Nam rẻ hơn so với nhật bản nên Việt Nam có lợi thế so sánh
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
về mặt hàng vải. nếu mỗi nớc thực hiện chuyên môn hoá hoàn toàn trong việc
sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và sau đó trao đổi với nhau thì cả
hai đều trở nên sung túc hơn.
Thực vậy, nếu Nhật Bản chuyển 5 đơn vị lao động từ ngành vải sang sản
xuất thép thì sẽ có 2,5 đơn vị thép đợc làm ra và khi bán 2,5 đơn vị thép đó sang
Việt Nam với mức giá quốc tế là 1 thép = 1 vải thì Nhật Bản sẽ thu về 2,5 đơn vị
vải, nhiều hơn 1,5 đơn vị vải so với trờng hợp tự cung tự cấp. Tơng tự, nếu Việt
Nam dùng 12 đơn vị lao động để sản xuất 2 đơn vị vải - thay vì sản xuất 1 đơn vị
thép - bán sang Nhật Bản đổi lấy 2 đơn vị thép thì Việt Nam sẽ lợi 1 đơn vị thép.
d. Lý thuyết heckscher - ohlin
khái niệm hàm lợng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố:
lý thuyết heckscher - ohlin đợc xây dựng trên hai khái niệm cơ bản là
hàm lợng hay độ sử dụng (các yếu và mức độ dồi dào của các yếu tố). Một mặt
hàng đợc coi là sử dụng nhiều ( một cách tơng đối ) lao động nếu tỷ lệ giữa lợng
lao động và yếu tố khác nh vốn, đất đai sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt
hàng đó lớn hơn tỷ lệ tơng ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng
thứ hai. Tơng tự, nếu tỷ lệ giữa vốn và các yếu tố khác là lớn hơn thì mặt hàng đ-
ợc coi là có hàm lợng vốn cao. Chẳng hạn, mặt hàng x đợc coi là có hàm lợng
lao động cao nếu:
l
x
/k
x
lớn hơn
l
y
/k
y
(trong đó l
x
và l
y
là lợng lao động cần thiết để sản
xuất ra một đơn vị x và y, còn k
x
và k
y
lợng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn
vị x và y, một cách tơng ứng).
Lu ý rằng, định nghĩa về hàm lợng vốn (hay hàm lợng lao động) không
căn cứ vào tỷ lệ giữa vốn (hay lao động) mà đợc phát biểu dựa trên tơng quan
giữa lợng vốn và lợng lao động cần thiết để sản xuất một đơn vị sản lợng.
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
Một quốc gia đợc coi là dồi dào tơng đối về lao động (hay vốn) nếu tỷ lệ
giữa lợng lao động (hay lợng vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó
lơn hơn tỷ lệ tơng ứng của các quốc gia khác. Cũng tơng tự nh trờng hợp hàm l-
ợng các yếu tố, mức độ dồi dào của một yếu tố sản xuất của một quốc gia đợc đo
không phải bằng số lợng tuyệt đối này bằng tơng quan giữa số lợng yếu tố đó với
các yếu tố sản xuất của quốc gia.
định lý heckscher - ohlin:
xuất phát từ các khái niệm cơ bản trên thì nội dung của định lý heckscher
- ohlin có thể đợc tóm tắt nh sau: một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng
mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tơng đối yếu tố sản xuất dồi
dào của quốc gia.
Lý thuyết heckscher - ohlin đợc xây dựng dựa trên một loạt các giả thiết
đơn giản sau đây:
Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất là lao động và vốn, 2 mặt
hàng.
Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia.
Sản xuất mỗi mặt hàng có hiệu suất không đổi theo quy mô, còn mỗi yếu
tố sản xuất thì có năng suất cận biên giảm dần.
Hàng hoá khác nhau về hàm lợng các yếu tố sản xuất và không có sự hoán
đổi hàm lợng các yếu tố sản xuất tại bất kỳ mức giá cả yếu tố tơng qua nào.
Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên thị trờng hàng hoá lẫn thị trờng yếu tố sản
xuất.
Chuyên môn hoá là không hoàn toàn.
Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia những
không thể di chuyển giữa các quốc gia.
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia.
Thơng mại là tự do, chi phí vận chuyển bằng 0.
Dựa trên lý thuyết heckscher - ohlin thì có thể hình dung rằng những nớc
giàu tài nguyên thiên nhiên sẽ là những nớc xuất khẩu chúng trên thị trờng thế
giới. Chẳng hạn, arập xêút xuất khẩu dầu lửa, zambia xuất khẩu đồng, jamaica
xuất khẩu quặng bô xít v.v. những nớc có nguồn nhân công lớn và tơng đối rẻ thì
sẽ tập trungvào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng chế biến sử dụng nhiều
lao động.
ii. Công cụ quản lý hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia.
1.Thuế
Thuế quan là khoản thuế đánh vào hàng hoá và dịch vụ khi có sự dịch
chuyển vợt qua biên giới quốc gia. Thuế quan có thể đợc áp dụng đối với cả xuất
khẩu lẫn nhập khẩu. Thuế quan nhập khẩu là thuế đánh vào các hàng hoá nhập
khẩu, còn thuế xuất khẩu đánh vào các mặt hàng xuất khẩu.
Tuy nhiên trên thế giới thuế quan chủ yếu đợc áp dụng đối với nhập khẩu
cho nên ngời ta thờng dùng luôn thạt nhữ thuế quan để chỉ thuế quan nhập khẩu.
Thuế quan có thể đợc tính theo giá trị hoặc số lợng hàng hoá nhập khẩu. Từ đó
mà phân biệt thuế tính theo giá trị và thuế tính theo số lợng. Chẳng hạn, nếu mức
thuế nhập khẩu đợc tính bằng 50% giá một chai whisky thì đó là thuế tính theo
cách cứ nhập khẩu mỗi thùng dầu thô thì phải trả 3 usd thì đó là thuế tính theo
số lợng. đối với một số lợng nhỏ hàng hoá buôn bán trên thế giới ngời ta áp dụng
thuế quan kép bằng cách kết hợp 2 cách tính thuế nói trên.
Mỗi loại thuế đều có những u điểm và nhợc điểm nhất định. Chẳng hạn,
thuế tính theo số lợng có u điểm là dễ thu, nhng mức độ bảo hộ do việc đánh thuế
lại bị xói mòn trong trờng hợp lạm phát gia tăng. Ngoài ra cách tính thuế này tỏ
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
ra thiên vị đối với những hàng hoá nhập khẩu đắt tiền. Bởi vì khi chuyển mức
thuế này thành mức thuế tính theo giá trị tơng đơng thì các mặt hàng đắt tiền sẽ
chịu mức thuế thấp hơn so với mức áp dụng với các sản phẩm cùng loại nhng rẻ
tiền hơn. thuế tính theo giá trị có u điểm là luôn duy trì đợc mức bảo hộ đợc đối
với sản xuất trong nớc, bất chấp lạm phát biến đổi nh thế nào. tuy nhiên, việc
tính toán đúng giá trị của hàng hoá nhập khẩu để từ đó xác định đúng mức thuế
không phải là công việc đơn giản. chẳng hạn ngời ta phải làm rõ những gì đợc đa
vào giá trị hàng hóa nh chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất, bảo hiểm. Việc lựa
chọn loại thuế nào phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm. Ví dụ, thuế tính theo số
lợng thờng đợc áp dụng đối với các sản phẩm tơng đối thuần nhất về chất lợng
nh các loại nông sản.
Thuế quan là công cụ chính sách của chính phủ và đợc sử dụng bởi nhiều
lý do cơ bản nhất là bảo vệ sản xuất trong nớc khỏi sự cạnh tranh từ bên ngoài;
kích thích sản xuất trong nớc và thay thế hàng hoá nớc ngoài bằng hàng hoá nội
địa; trả đũa các biện pháp hạn chế thơng mại do các quốc gia khác tiến hành.
Thông thờng thì thuế quan nhập khẩu là nguồn thu nhập quan trọng của chính
phủ và ở nhiều nớc nguồn thu do chiếm nột tỷ lệ trọng rất lớn trong ngân sách
quốc gia.
2.Hạn ngạch
Hạn ngạch là quy định của nhà nớc hạn chế nhập khẩu hoặc xuất khẩu số
lợng hoặc giá trị một mặt hàng nào đó hoặc một thị trờng nào đó, trong một thời
gian nhất định thờng là 1 năm.
đối với hàng hoá có hạn ngạch và có giấy phép của bộ thơng mại:
- thơng nhân có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1, điều 9, nghị
định số 57/1998/nđ-cp chỉ đợc nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá có
hạn ngạch và hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có giấy phép của bộ thơng mại
Luận văn tốt nghiệp
Khoa thơng
mại
trong phạm vi số lợng hoặc trị giá ghi tại văn bản phân bổ hạn ngạch của cơ quan
có thẩm quyền hoặc giấy phép của bộ thơng mại.
Hạn ngạch nhập khẩu là một hình thức hạn chế số lợng và thuộc hệ thống
giấy phép không tự động. Khi hạn ngạch nhập khẩu đợc quy định cho một số sản
phẩm đặc biệt nào đó thì nhà nớc đa ra một định ngạch (tổng hạn ngạch) nhập
khẩu mặt hàng đó trong một khoảng thời gian nhất định không kể nguồn gốc
hàng hoá đó từ đâu đến.
Khi hạn ngạch quy định cho cả mặt hàng và thị trờng có nghĩa là hàng hoá
đó chỉ đợc nhập khẩu từ thị trờng đã xác định với số lợng và thời hạn nhất định.
Mục tiêu của việc áp dụng biên pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch
của nhà nớc nhằm bảo hộ sản xuất trong nớc, sử dụng có hiệu quả ngoại tệ, bảo
đảm cam kết của chính phủ ta với chính phủ nớc ngoài.
Nh vậy, về mặt bảo hộ sản xuất hạn ngạch nhập khẩu tơng đối giống với
thuế nhập khẩu. Giá nội địa đối với ngời tiêu dùng cũng tăng lên và chính giá cao
này cho phép các nhà sản xuất nội địa có thể sản xuất ra một sản lợng cao hơn so
với trong điều kiện thơng mại tự do. Hạn ngạch cũng dẫn tới sự lãng phí của xã
hội với những lý do đúng nh đối với thuế nhập khẩu.
đối với chính phủ và các doanh nghiệp trong nớc, việc cấp hạn ngạch
nhập khẩu có lợi là xác định đợc khối lợng nhập khẩu biết trớc. Với thuế quan, l-
ợng hàng nhập khẩu phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của cung cầu, thờng không
xác định trớc đợc.
3.quản lý ngoại tệ
hàng nhập khẩu: đối với hàng hóa thiếu ngoại tệ nh nớc ta, áp dụng biện
pháp kiểm soát ngoại tệ bằng cách điều tiết nhập khẩu một số loại sản phẩm
thông qua việc phân phối ngoại tệ. Ngời nhập khẩu có thể ký hợp đồng mua hàng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét