Thứ Hai, 10 tháng 3, 2014

LY THUYET NHIEP ANH


Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 5
sắc (trắng đen). Những bức ảnh chỉ có thể tương cận với cảm giác màu sắc
của con người chứ không bao giờ là bản sao y hệt.
Đôi mắt ta liên tục chuyển động để cho ta ghi nhận một tầm nhìn (field of
view) rất rộng. Nhưng vào mỗi thời điểm nhất đònh, chúng ta chỉ thấy một
phần của tầm nhìn, và mỗi phần chỉ được thấy trong tích tắc. Chúng ta sử
dụng toàn bộ thò giác để xác đònh cách bài trí chung của cảnh vật nhưng lại
dùng vùng thò giác chính giữa – vốn rõ ràng hơn – để tập trung vào những
khu vực nhỏ nào đó mà ta cảm thấy quan trọng hơn. Muốn thấy rõ toàn bộ
đôi mắt phải di động thật nhanh để đưa từng thành phần quan trọng trong
tầm nhìn vào vùng thò giác chính giữa.
Ngược lại, hình ảnh của máy ảnh thường được tạo ra tức thì. Nói cách khác,
mọi thành phần của hình ảnh đều được tạo ra đồng loạt trong một khoảng
thời gian ngắn ngủi. Thực tế thì tiến trình ấy đã được hình tượng hóa bằng
thành ngữ nhiếp ảnh “khoảnh khắc bấm máy”. Khác với mắt người, máy
ảnh khi cần thiết có thể tích tụ ánh sáng yếu trên phim cho đến khi đủ tạo ra
một hình ảnh có thể tráng rọi được. Thực tế là máy ảnh có thể ghi nhận hình
ảnh trong những tình huống gần như hoàn toàn là bóng tối; những tình huống
mà mắt người không thấy rõ hoặc không thể nhìn thấy gì cả.
Con mắt ta chỉ nhìn thấy một thành phần đang biến đổi trong thời gian thực
nhưng máy ảnh có thể lưu giữ mãi mãi một hình ảnh duy nhất. Máy ảnh còn
có thể kết hợp nhiều hình ảnh liên tiếp nằm chồng lên nhau để tạo ra một ấn
tượng duy nhất. Bằng cách thay đổi thời gian và nhòp độ phơi sáng trên
phim, máy ảnh không những có thể chặn đứng thời gian mà còn có thể nén
chặt hay bành trướng thời gian nữa. Nhờ đó mà ta có thể khám phá ra một
thế giới hình ảnh mắt người chưa từng thấy qua cách sử dụng máy ảnh – nếu
biết điều khiển.
Cái máy ảnh cũng không biết phân biệt. Không có sự dẫn dắt của con người
thì máy ảnh không biết cái gì là quan trọng trong tầm nhìn của nó. Với
những người chụp ảnh bình thường thì điều này không có vấn đề gì nhưng
với việc tạo hình nghiêm túc hơn thì ta phải nhìn nhận rằng: nếu không có sự

Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 6
điều khiển cố tình thì chiếc máy ảnh sẽ thể hiện cả những điều trọng đại lẫn
những điều vụn vặt với sự chính xác và sức mạnh như nhau. Vì thế sự chọn
lựa chính là trách nhiệm của người cầm máy ảnh. Việc chọn lựa ấy đòi hỏi
thò giác, cái giúp ta nhìn, và sự thông tuệ, cái giúp ta thấy.
Nhìn và thấy là hai việc khác nhau. Nhìn là một bản năng sử dụng thò giác;
chúng ta ai cũng biết nhìn. Nhưng thấy bao hàm việc nhìn với một nỗ lực để
hiểu biết cái ta đang nhìn. Muốn thấy, ta cần có một mức độ cảm thông nào
đó, một mức độ dò dẫm tìm kiếm trong bất cứ điều gì ta kinh qua để chúng
ta có thể nhận ra và thấu hiểu sự việc một cách hữu hiệu hơn. Như vậy việc
thấy đòi hỏi một nhận thức về những gì trải ra trước mắt ta, và nhận thức đó
lại buộc ta phải gạt bỏ những ý niệm có sẵn về sự việc trước mắt để nhìn sự
việc với một đầu óc vô tư và một con mắt trong sáng.
Tiến trình này, ta gọi là cảm nhận, phần lớn là một chuỗi hành động không
đòi hỏi ở ta nhiều nỗ lực ý thức, nhưng nó lại bò điều kiện hóa bởi toàn bộ
hệ thống giá trò con người – những niềm tin, thành kiến, quan điểm, và kinh
nghiệm của chúng ta. Vì chúng ta là con người, mọi yếu tố đó luôn tác động
đến cách chúng ta cảm nhận sự việc mà chúng ta đang nhìn, và vì mỗi người
đều có những giá trò khác nhau cho nên không hề có hai cá nhân nào lại
cùng cảm nhận sự việc y hệt như nhau.
Điều này cho thấy rằng: tuy máy ảnh có khả năng ghi hình mọi sự việc xảy
ra trong tầm nhìn của nó với sự nhấn mạnh và rõ rệt như nhau, thò giác con
người lại có tính chọn lọc hơn. Chúng ta nói chung nhìn thấy những gì chúng
ta muốn thấy, những gì tâm tư chúng ta cho phép ta thấy; và cái “thấy được”
đó lại thay đổi không ngừng theo những bài học kinh nghiệm mà ta học được
từ đời sống. Do đó, máy ảnh chính là một công cụ tuyệt vời để mài sắc cảm
nhận của ta, để tăng cường nhận thức của ta, và để khai mở “con mắt thứ
ba”: con mắt của tâm tưởng.

Nhiếp ảnh là gì?


Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 7
Hình ảnh của máy ảnh khác với hình ảnh của thò giác con người như thế nào
thì nhiếp ảnh cũng khác với mọi hình thức tạo hình và các bức ảnh cũng
khác với thế giới thực đã tạo ra chúng như vậy. Nhiếp ảnh phụ thuộc vào
ánh sáng. Ngay cái từ “photography” – do nhà khoa học Anh Quốc Sir John
Herschel sử dụng lần đầu tiên năm 1839, theo gốc La-tinh cũng có nghóa là
“vẽ bằng ánh sáng”. Trong nhiếp ảnh, ánh sáng “vẽ” bằng cách làm biến
đổi một số yếu tố nào đó của các vật liệu nhạy cảm với ánh sáng. Ánh sáng
do đó chính là tác động vật lý để sáng tạo hoặc tái tạo hình ảnh, và bởi vì
cần phải có các chất liệu nhạy quang, cả hai yếu tố này sẽ cùng tác động
đến những đặc tính quan trọng của nhiếp ảnh.
Có lẽ điều quan trọng nhất trong những đặc tính ấy là sự liên tục của sắc độ
(continuous tone). Sự liên tục của sắc độ trong nhiếp ảnh là khả năng ghi
nhận những thay đổi từ nhạt đến đậm – từ trắng qua đen – mà không để lộ
ra những bước chuyển tiếp. Nói cách khác, nhiếp ảnh có thể tạo ra một số
lượng hầu như vô hạn các giá trò hay sắc độ xám (shade of gray) nhờ cách
phản ứng với ánh sáng của mọi chất liệu nhiếp ảnh. Giông như bản thân
hình ảnh, dải sắc độ liên tục này được hình thành tức thì; trừ video ra thì
không có phương tiện tạo hình nào có thể sánh được nhiếp ảnh ở phương
diện này.
Hình ảnh của máy ảnh thường được tạo bằng một ống kính; ống kính này
dùng để thu gom và hội tụ các tia sáng. Các ống kính có thể tạo ra hình ảnh
hết sức chi tiết, và cái đặc tính này của nhiếp ảnh đã đóng góp cho ngôn từ
của chúng ta một thành ngữ. Khi ta nói một bức tranh hay bức vẽ nào đó
“giống như ảnh” là chúng ta đã đề cập tới cái ấn tượng về chi tiết vô hạn.
Đặc tính này đương nhiên biến nhiếp ảnh trở thành phương tiện hữu hiệu và
quý giá để chuyển tải những thông tin hình ảnh.
Một đặc tính quan trọng khác của nhiếp ảnh phát xuất từ tính chất của tiến
trình tạo hình là khả năng sao chép vô hạn. Các dạng thức của hình ảnh
nhiếp ảnh hầu hết được tạo ra đầu tiên trên một âm bản (negative) có sắc độ
trái ngược với trật tự thông thường, và từ âm bản đó có thể tạo ra trở lại vô

Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 8
số các dương bản (positive) có các sắc độ đậm nhạt đúng theo trật tự. Chúng
ta có thể làm một dương bản hoặc nhiều bản sao chính xác mà không làm
suy giảm hay phá hỏng hình ảnh gốc. Chúng ta cũng có thể thay đổi kích
thước: các bản sao có thể lớn hơn hay nhỏ hơn bản gốc. Và ngay cả trong
một vài tiến trình nhiếp ảnh không dùng âm bản – nên được gọi là xử lý
dương bản trực tiếp (direct-positive process) – thì hình ảnh cũng có thể chụp
lại được và việc sao chép lại tiếp diễn. Các máy copy văn phòng, đi đâu
cũng thấy, được thiết kế trên nguyên tắc này. Cả công nghiệp in hiện nay
cũng vậy. Các bản kẽm dùng để in cuốn sách này cũng được tạo ra bằng các
phương tiện nhiếp ảnh.
Khả năng sao chép của nhiếp ảnh là một đặc tính quan trọng đến mức nó
không những đã cách mạng hóa việc truyền thông và giáo dục mà còn làm
biến đổi toàn bộ nền văn hóa của chúng ta. Nhà văn Pháp André Malraux
đã khẳng đònh rằng việc nghiên cứu lòch sử mỹ thuật trong thực tế chính là
việc nghiên cứu các tác phẩm mỹ thuật có thể chụp ảnh được. André
Malraux nêu rõ: chúng ta chẳng mấy ai có khả năng tiếp xúc với với những
tác phẩm mỹ thuật nguyên bản; chúng ta thường biết về chúng – giống như
nhiều thứ khác – là nhờ các phiên bản sao chép bằng phương tiện nhiếp
ảnh. Tuy nhiên, mãi đến khi những cải tiến gần đây trong lãnh vực nhiếp
ảnh màu trở nên phổ biến thì người ta mới có thể tái hiện được đúng đắn
những sắc độ tinh tế của những cửa sổ kính màu và những hoa văn ốp lát
(mosaic) Byzantine. Như vậy những ai đã nghiên cứu về loại hình mỹ thuật
này qua văn bản hay các phiên bản không chính xác thì rõ ràng là họ không
biết gì về nó cả.
Sử gia hiện đại Daniel Boorstin đã viết rất cụ thể về việc dùng hình ảnh
(image) để thay thế cho thực thể (object) – điều mà ông xem là “Cuộc Cách
Mạng Đồ Họa.” Ông cho rằng nhiếp ảnh đã đóng một vai trò quan trọng để
khích lệ việc truyền bá nhanh chóng những “sự kiện giả tạo” (pseudo-event)
– chẳng hạn như những “sự kiện truyền thông đại chúng” – để thay thế sự
việc thật, và bản sao của thực thể và kinh nghiệm thay thế cho cái nguyên

Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 9
thủy, chính gốc. Và ở mức độ cao hơn nữa, bản sao nhiều khi còn được đánh
giá cao hơn bản chính! Điều này thấy rõ nhất trong lãnh vực kinh doanh và
dòch vụ: khắp nơi bắt chước nhau bán cùng một món hàng y hệt, không có gì
khác biệt (ngoại trừ giá cả). Sao chép loạn xạ như vậy không chỉ giới hạn
trong lãnh vực ấn phẩm, nó đã trở thành một đặc tính của nền văn hóa hiện
đại.

Nhiếp ảnh bắt nguồn từ hiện thực

Chỉ cần xem qua các bức ảnh là chúng ta có thể tin rằng nhiếp ảnh bắt
nguồn từ hiện thực. Các nhà nhiếp ảnh ngày xưa đã nhận ra điều đó và tính
hiện thực đã trở thành một tiêu chuẩn thẩm mỹ đắc dụng của họ.Trong suốt
một nửa thế kỷ, mức độ giống nhau giữa thực thể và hình ảnh đã là một tiêu
chí chủ đạo để các nghệ só nhiếp ảnh đo lường mức độ thành công của mình.
Mức độ giống thực ấy đương nhiên cho phép ta dùng hình ảnh để thay thế
cho bản thân thực thể, và đó là nguyên do chính mà ngày nay chúng ta chụp
ảnh.
Khi bức ảnh trông giống cái thực thể mà nó mô tả thì bức ảnh đó mang tính
tái hiện (representational). Ảnh chân dung, ảnh minh họa ca-ta-lô, ảnh dùng
để quảng cáo và bán sản phẩm trong thương mại và công nghiệp – ngay cả
những bức ảnh chụp nhanh bằng máy tự động – đều là những ví dụ tiêu biểu
của những hình ảnh có tính tái hiện. Những bức ảnh loại này được thực hiện
để phục vụ cho nhu cầu tham khảo và lưu giữ dưới mọi hình thức. Xã hội
ngày nay đã hình thành và phát triển một nhu cầu thiết yếu cho những bức
ảnh như vậy và khó mà tưởng tượng rằng một xã hội hiện đại mà lại thiếu
vắng chúng.
Vì những bức ảnh chụp bắt hiện thực rất tốt, chúng giúp chúng ta nhớ lại
những sự việc đã đổi thay. Ký ức của ta tất nhiên không phải là tónh tại.
Cách chúng ta quan sát sự kiện cũng thay đổi liên tục như chính các sự kiện
ấy. Nhờ có thể cô lập được từng khoảnh khắc thời gian và từng tầm nhìn,

Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 10
những bức ảnh có thể nhấn mạnh lòch sử và củng cố hồi ức của ta. Nghó cũng
khôi hài, những bức ảnh có sức mạnh như vậy đôi lúc tự thân chúng lại có
thể có một ý nghóa hiện thực tác động mạnh đến chúng ta hơn cả những sự
kiện đã tạo ra các bức ảnh đó.
Ngày nay chúng ta sử dụng hình ảnh theo nhiều phương cách đến độ chúng
ta nghiễm nhiên chấp nhận chúng như là sự thật. Nhiều khi chính chúng ta
cũng hoài nghi cả hiện thực khi hiện thực không giống như những gì nhiếp
ảnh đã tái hiện. Cụ thể nhất là khi chúng ta đi mua hàng hóa ở các siêu thò,
ở đó chúng ta đánh giá các món hàng xem chúng giống bức ảnh màu quảng
cáo về chúng đến đâu. Trong trường hợp này thì hiện thực chỉ trở thành sự
thật ở mức độ mà nó giống với ảnh chụp!

Sáng tạo ảo tưởng

Khả năng của con người có thể hoán đổi giữa thực thể và hình ảnh chính là
điều giúp ta hiểu được việc chụp ảnh có liên quan đến những yếu tố gì.
Chụp một bức ảnh là một cách sáng tạo ra một ảo tưởng (illusion), và vì khả
năng hoán đổi nói trên, việc một nhà nhiếp ảnh muốn phủ lấp những bức
ảnh của họ trong một sự-thật-giả-tạo cũng không phải là điều khó thực hiện.
Một mặt, chiếc máy ảnh có thể thu gọn một khoảng thời gian dài trở thành
một khoảnh khắc, đúc kết thành một bức ảnh duy nhất mà trong thực tế phải
mất nhiều phút hay nhiều giờ để xảy ra. Do đó máy ảnh có thể ghi nhận
nhiều hơn khả năng cảm nhận của nhà nhiếp ảnh. Mặt khác, máy ảnh có thể
bành trướng một khoảnh khắc trở thành một hiện thực mới chỉ nhìn thấy
được trong hình ảnh; nếu cọng với tính liên tục về sắc độ và tính chi tiết tối
đa thì bức ảnh chụp không những khác biệt hoàn toàn với mọi loại hình ảnh
khác mà còn trở thành một loại hình ảnh có sức mạnh thuyết phục nhất.
Điều này đặt ra một trách nhiệm lớn cho những ai muốn tạo ra những hình
ảnh chỉ toàn sự việc thật; bởi vì người ta dễ dàng chấp nhận những bức ảnh
như vật là sự thật. Nếu sử dụng có trách nhiệm, nhiếp ảnh nhờ đó sẽ là một

Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 11
chứng nhân của công bằng và chân lý. Sử dụng vô trách nhiệm, nhiếp ảnh
chỉ là một công cụ tuyên truyền.

Phân tích và tổng hợp

Vậy thì nhiếp ảnh khác với các hình thức tạo hình khác như thế nào? Một
họa só muốn tạo ra một ảo tưởng của hiện thực phải phác thảo hình ảnh trên
một không gian chọn lọc rồi thêm vào màu sắc và chi tiết để cho phong phú
hơn. Người họa só phải mường tượng hình ảnh của mình như là một chuỗi
mảnh vụn rời rạc, sau đó tổng hợp hay xây dựng lên, từng thành phần một,
thêm bớt, chỉnh sửa, làm chủ đề phức tạp dần lên đi tới trạng thái hoàn
chỉnh cuối cùng. Trong khi đó nhà nhiếp ảnh lại gặp vấn đề khác: Hình ảnh
của họ thực tế lại được vẽ bằng vò trí của máy ảnh và ống kính; việc chọn
lựa vò trí đặt máy và ống kính sẽ xác đònh hình ảnh. Một khi đã chọn lựa
xong thì công việc của nhà nhiếp ảnh bây giờ không phải là lấy cho đủ chi
tiết mà là loại bỏ những chi tiết nào không cần thiết.
Các nhà nhiếp ảnh thường bắt đầu với toàn bộ hình ảnh. Giống như các họa
só, họ giới hạn tầm nhìn của mình bằng cách áp đặt một cái khung (frame)
trên thế giới thực, nhưng rồi họ lại chọn lọc bên trong cái khung ấy bằng
cách sử dụng ánh sáng và bóng tối để tạo ra cảm giác về hình khối và chất
liệu cho thực thể; rồi loại bỏ những yếu tố không quan trọng cho đến khi chỉ
còn lại ý tưởng hình ảnh mong muốn.
Cách làm việc của nhà nhiếp ảnh do đó, về cơ bản, mang tính phân tích hơn
là tổng hợp. Nhiếp ảnh chắt lọc sự quan trọng từ sự hỗn độn và tạo ra trật tự,
cấu trúc cho hình ảnh. Cách tạo hình như vậy hoàn toàn trái ngược với cách
tạo hình của hội họa cho dù nhà nhiếp ảnh và người họa só có cùng mục đích
trong đầu. Những bức tranh được tạo ra còn những bức ảnh được chụp bắt.

Nhiếp ảnh như một kinh nghiệm


Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 12
Nhưng những bức ảnh cũng thể được tạo ra từ hiện thực nội tại của tâm tư
và cảm xúc cũng như từ thực thể và sự việc của thế giới bên ngoài. Điều
này rất quan trọng đối với các nhà nhiếp ảnh vì nó có thể giải thoát họ khỏi
nhu cầu chụp một bức ảnh về một cái gì đó cụ thể; giống như các họa só, các
nhà nhiếp ảnh có quyền tạo ra những hình ảnh chỉ đơn thuần là hình ảnh.
Khi nhận ra rằng nhiếp ảnh dựa trên hiện thực nhưng không nhất thiết phải
tái lập hiện thực, nhà nhiếp ảnh có thể mở toang cánh cửa dẫn tới vô vàn
khả năng tạo hình và tận hưởng sự tự do sáng tạo mà các nghệ só của các
phương tiện truyền thống xưa nay vẫn được hưởng. Như vậy nhiếp ảnh
không phải lúc nào cũng minh họa cho một ý tưởng khác mà tự thân nhiếp
ảnh có thể được trình bày như một kinh nghiệm.
Những bức ảnh không hề giống gì mấy với những sự vật tồn tại trước ống
kính thường được gọi là những bức ảnh không mang tính tái hiện
(nonpresentational) hay trừu tượng (abstract). Những bức ảnh như vậy dù có
mô tả rõ một khung cảnh trong thế giới thực vẫn hàm chứa một mức độ trừu
tượng; chúng đánh đố với tâm tư và cảm xúc của ta, buộc mỗi chúng ta phải
xem xét chúng trong ánh sáng của óc tưởng tượng riêng tư. Những gì mà
mỗi người chúng ta thấy được trong những bức ảnh như vậy có thể phản ánh
ý kiến của riêng ta cũng mạnh mẽ như là chúng bộc lộ ý kiến của những
người khác. Những tấm ảnh như thế đóng vai trò của một chiếc gương soi
hơn là một khung cửa sổ; chúng có thể buộc ta phải dò dẫm lại tâm tư, tình
cảm của mình, và thường là chúng kích động đủ loại phản ứng từ đủ loại
người xem khác nhau.

Nhìn bằng con mắt nhiếp ảnh

Dù ta muốn những hình ảnh của mình mang chức năng, vai trò gì đi nữa thì
ta cũng phải nghó tới hình ảnh trong phạm trù những gì mà công cụ và chất
liệu của ta có thể thực hiện được. Nói một cách thực tiễn, chúng ta phải hiểu
các chất liệu nhiếp ảnh và cách xử lý liên quan hoạt động ra sao để mường

Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 13
tượng ra hình ảnh của ta. Nói theo nhà nhiếp ảnh bậc thầy Edward Weston
thì đó là “nhìn bằng con mắt nhiếp ảnh,” một tiến trình trong đó chúng ta tập
trung vào một thực thể hay quan sát một sự kiện, xác đònh xem ta muốn tạo
ra loại hình ảnh nào từ thực tại đó, và rồi thấy được hình ảnh cuối cùng trong
tâm trí trước khi bấm máy. Tuy những bức ảnh lừng danh đôi khi là kết quả
của một sự ngẫu nhiên hay duyên may, hầu hết chúng đều được sáng tạo ra
bởi những nhà nhiếp ảnh có khả năng thấy được và hình dung trước hình ảnh
sẽ ra sao.
Từ máy ảnh đi đến hình ảnh, từ kỹ thuật đi đến nghệ thuật, là mối tương
quan trọng yếu của kinh nghiệm nhiếp ảnh. Thực thể có thăng hoa thành
hình ảnh được hay không, có tạo được ý nghóa đối với kẻ khác hay không thì
điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào bàn tay và con mắt của nhà nhiếp ảnh.



Phần I
CÔNG CỤ NHIẾP ẢNH




Bốn nguyên tắc của máy ảnh


Về nguyên tắc thì mọi máy ảnh chỉ đơn thuần là một chiếc hộp kín, không
lọt sáng, một đầu có khe hở cho ánh sáng đi vào và ở đầu kia có một bộ
phận để chứa phim. Nó tạo ra hình ảnh bằng cách tích tụ những tia sáng
được phản xạ từ cảnh vật và rọi thành hình ảnh trên mặt phim nhạy sáng.
Muốn vậy, một máy ảnh phải có những bộ phận cơ bản sau:


Lý thuyết nhiếp ảnh


NGUYỄN VĂN THẢO (Sưu tầm)


Trang 14
1. Một ống kính (lens) để thu gom ánh sáng và tạo thành hình ảnh – cũng
giống như mắt con người.
2. Một hệ thống kính ngắm (viewfinder) để cho ta thấy hình ảnh sẽ được thu
vào.
3. Một cơ phận canh nét (focusing mechanism) để điều khiển vò trí của ống
kính và làm cho hình ảnh rõ nét.
4. Một màn trập (shutter) để xác đònh thời điểm và thời gian sẽ mở ra cho ánh
sáng ăn vào phim.
5. Một khẩu độ (aperture), nằm bên trong ống kính, điều khiển lượng ánh sáng
sẽ tác dụng vào phim.
6. Muốn dùng máy ảnh thì một loại phim (film) nhạy sáng phải được đặt trong
máy ảnh để ghi nhận hình ảnh.
7. Hầu hết các máy ảnh đều có một cơ phận lên phim (film-advancing
mechanism) để thay thế đoạn phim đã cho lộ sáng bằng đoạn phim mới sau
khi chụp xong một hình ảnh.
8. Một hộp tối (lightproof chamber) để bảo vệ phim khỏi bò tác dụng của ánh
sáng bên ngoài, ngoại trừ ánh sáng đi qua ống kính trong lúc cho lộ sáng –
trong lúc chụp.

Tuy dựa trên cùng nguyên tắc, giữa các máy ảnh lại có sự khác biệt quan
trọng do thiết kế kỹ thuật của chúng. Ta có thể tạm chia ra bốn loại máy ảnh
chính, căn cứ theo cơ phận kính ngắm:

1. Máy ảnh kính ngắm thẳng (viewfinder)
2. Máy ảnh ngắm qua gương phản chiếu một thấu kính (single-lens reflex hay
SLR)
3. Máy ảnh ngắm qua gương phản chiếu hai thấu kính (twin-lens reflex hay
TLR)
4. Máy ảnh ngắm trực tiếp qua kính mờ (view camera hay large-format
camera)

Xem chi tiết: LY THUYET NHIEP ANH


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét