LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phân tích sự biến động của giá vàng việt nam trong thời gian qua": http://123doc.vn/document/1042759-phan-tich-su-bien-dong-cua-gia-vang-viet-nam-trong-thoi-gian-qua.htm
triển thị trường vàng Việt Nam.
Nội dung của đề tài khóa luận tốt nghiệp hướng tới là rất rộng và phức tạp.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực nhưng do những hạn chế về thời gian, tài
liệu và khả năng của bản thân, nên khóa luận không tránh khỏi có những
thiết sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường đại học Ngoại
Thương đã trang bị cho em các kiến thức quý báu trong thời gian học tập ở
trường. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Th.S Đào Thị Thu Giang, người
đã hết lòng hưỡng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm khóa
luận. Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty vàng bạc đá quý Sài
Gòn SJC, cô Phạm Thị Tuyết – phòng kinh doanh công ty vàng bạc đá quý
Sài Gòn SJC – đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, tạo điều kiện để em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2008
Tác giả
Ngô Trí Nam
5
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG VÀ THỊ
TRƯỜNG VÀNG
1. GIỚI THIỆU VỀ KIM LOẠI VÀNG
1.1 Giới thiệu về kim loại vàng
Vàng là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Au (từ La tinh aurum nghĩa là
tỏa sáng) có số hiệu nguyên tử trong bàng tuần hoàn hóa học là 79. Là kim
loại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1)
Tính chất vật lý và hóa học.
- Mềm, dễ uốn dát nhất được biết. Thực tế, 1 g vàng có thể được dập thành
tấm 1 m², hoặc 1 ounce thành 300 feet². Là kim loại mềm, vàng thường tạo
hợp kim với các kim loại khác để làm cho nó cứng thêm.
- màu vàng và chiếu sáng, có màu vàng khi thành khối, nhưng có thể có màu
đen, hồng ngọc hay tía khi được cắt nhuyễn.
- vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất
- Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước và cũng được sử
dụng trong các ngành trang sức, nha khoa và điện tử. Mã tiền tệ ISO của nó
là XAU.
- Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí và
phần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn). Nó
không bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn
6
mòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức. Các halogen có
tác dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó.
- Màu của vàng rắn cũng như của dung dịch keo từ vàng (có màu đậm,
thường tía) được tạo ra bởi tần số plasmon của nguyên tố này nằm trong
khoảng thấy được, tạo ra ánh sáng vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanh
khi hấp thụ. Vàng nguyên thuỷ có chứa khoảng 8 đến 10% bạc, nhưng
thường nhiều hơn thế. Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%)
được gọi là electrum. Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọng
lượng riêng giảm.
- Vàng tạo hợp kim với nhiều kim loại khác; hợp kim với đồng cho màu đỏ
hơn, hợp kim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạch
kim cho màu trắng, bismuth tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen. Đồ
trang sức được làm bằng các kết hợp vàng nhiều màu được bán cho du
khách ở miền Tây nước Mĩ được gọi là "vàng Black Hills".
- Trạng thái ôxi hoá thường gặp của vàng gồm +1 (vàng(I) hay hợp chất
aurous) và +3 (vàng(III) hay hợp chất auric). Ion vàng trong dung dịch sẵn
sàng được khử và kết tủa thành vàng kim loại nếu thêm hầu như bất cứ kim
loại nào khác làm tác nhân khử. Kim loại thêm vào được ôxi hoá và hoà tan
cho phép vàng có thể được lấy khỏi dung dịch và được khôi phục ở dạng kết
tủa rắn.
1.2 Ứng dụng của vàng.
Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nên
chúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và các
kim loại khác. Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong
7
ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiều
nước.
Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính và hóa
tính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loại
công nghiệp thiết yếu.
Các ứng dụng khác:
• Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu.
• Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bị
thông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và nhiều
sản phẩm khác.
• Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hoá của vàng khiến nó được sử
dụng rộng rãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt và
trở kháng thấp.
• Vàng được dùng trong nha khoa phục hồi, đặc biệt trong phục hồi
răng như thân răng và cầu răng giả.
• Vàng keo (hạt nano vàng) là dung dịch đậm màu hiện đang được
nghiên cứu trong nhiều phòng thí nghiệm y học, sinh học, v.v. Nó
cũng là dạng được dùng làm nước sơn vàng lên ceramic trước khi
nung.
• Chlorauric acid được dùng trong chụp ảnh để xử lí ảnh bạc.
• Disodium aurothiomalate dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp.
• Đồng vị vàng Au-198, (bán huỷ: 2,7 ngày) được dùng điều trị một số
ung thư và một số bệnh khác.
8
• Vàng được dùng để tạo lớp áo phủ, giúp cho các vật chất sinh học có
thể xem được dưới kính hiển vi điện tử quét.
1. Đơn vị đo lường và Cách qui đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước
- Các đơn vị đo lường của Vàng: Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối
lượng của vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ.
Một cây vàng nặng 37,50 gram. Một chỉ bằng 1/10 cây vàng. Trên thị trường
thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là ounce hay troy ounce. 1
ounce tương đương 31.103476 gram.
- Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat). Một
Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 9999 tương đương với
24K. Khi người ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng
vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Vàng dung trong ngành trang sức thông
thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.
• Thị trường vàng thế giới
o Đơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce
o 1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
o 1lượng = 1.20556 ounce
• Thị trường vàng trong nước
o Đơn vị yết giá: VND/lượng
o Công thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàng trong
nước (TN):
9
TN = (TG + phí vận chuyển) * 1.20556 * (1+thuế NK)* tỉ giá USD/VND + phí gia công
2. VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ
2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ
2.1.1 Các tính chất để vàng trở thành phương tiện lưu thông tiền tệ
Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, vàng có các tính chất cơ
bản sau đây:
- Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ,
người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ
không được coi là tiền nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương
phát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát,
người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi.
- Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết,
người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Người ta có
thể dùng lửa để nhận biết được vàng có thật hay không.
- Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao
cho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh
toán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính
chất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàng
đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về
số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứ
khác cũng cần thiết không kém.
- Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ
giá trị cũng như mới có ích trong trao đổi. Một vật mau hỏng không thể
dùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có
chất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc.
10
- Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang
theo, tiền tệ phải dễ vận chuyển. Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và
những đồng xu có kích thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không
được in khổ rộng ví dụ như khổ A4.
- Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm
vì nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa
trong việc cất trữ giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa. Vì
thế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ
và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiền
giấy và tiền xu.
- Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau
không phân biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được
làm ra cách đây 2 năm cũng có giá trị như một đồng xu như thế vừa mới
được đưa vào lưu thông. Có như vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn
vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi.
2.1.2 các tính chất của vàng để làm một loại tiền tệ
2.2 Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ.
Để đánh dấu sự phát triển của các hình thái tiền tệ trong quá khức, người ta
thường nhắc tới các chế độ bản vị tiền tệ. Đó là những tiêu chuẩn để một
quốc gia xây dựng nên thể chế tiền tệ của mình. Hay hiểu một cách đơn giản
hơn, bản vị có nghĩa là quốc gia sử dụng hàng hóa đúc tiền theo thể chế như
thế nào.
2.2.1 Chế độ đồng bản vị (hai bản vị vàng – bạc)
Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn
hẳn các kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng đã đáp ứng được
11
nhiều nhất những gì mà một đồng tiền hàng hóa (commodity money) cần có:
sự khan hiếm, tính bến, có thể chuyên chở, dễ chia nhỏ, đồng chất, và chất
lượng được duy trì lâu bền. Sự chấp nhận vàng và bạc như tiền còn được
củng cố từ một thực tế là các kim loại này được thừa nhận rộng rãi là có giá
trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức. Hơn nữa
giá trị của vàng và bạc được ổn định tương đối so với các hàng hóa khác;
ngoài ra, chất lượng của chúng có thể kiểm tra một cách chính xác và được
các chuyên gia (thợ vàng) chứng nhận.
Chế độ đồng bản vị là chế độ tiền tệ đầu tiên được thừa nhận chính thức
trong lịch sử loài người. Nguyên nhân hình thành chế độ đồng bản vị là sự
tăng của sản xuất xã hội làm cho khối lượng trao đổi ngày càng lớn, dẫn đến
việc đồng tiền bạc được sử dụng trước đó trở nên không còn phù hợp nữa.
Lúc này người ta bắt đầu sử dụng thêm vàng như kim loại thứ hai để đúc
tiền tệ. Vì vậy bạc và vàng đồng thời được coi là bản vị. Cả vàng và bạc đều
được tự do đúc thành tiền và cùng có giá trị trong thanh toán và trao đổi.
Trong chế độ đồng bản vị này có hai cách quy đổi giữa giá trị đồng tiền vàng
và giá trị đồng tiền bạc nên cũng có hai chế độ đồng bản vị.
2.2.1.1 Chế độ bản vị song song
Ở dạng tinh khiết, bản vị vàng hàng hóa kim loại hoạt động trên cơ sở giá trị
đầy đủ của các đồng xu (full-bodied coins), tức giá trị tiền tệ của chúng cũng
chính là giá trị kim loại của đồng xu. Điều này hàm ý, khi giá vàng thay đổi
so với giá bạc, sẽ làm cho tỷ lệ trao đổi giữa các đồng xu vàng và bạc thay
đổi theo. Mặc dù tiền xu được đúc mang theo nhãn hiệu riêng của từng quốc
gia làm bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưng
trong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng hỗn hợp kim loại
là vàng và bạc hay với các kim loại khác có giá trị thấp hơn. Các quốc gia
12
ngày càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng
xu; hành động này được gọi là “bào mòn giá trị thực tế của tiền xu –
debasement”. “Bào mòn giá trị thực tế tiền xu” làm cho các đồng xu mất giá
trị dần trong lưu thông, cho nên hành động này được xem như là tiền thân
của hành động phá giá trong thời hiện đại.
Quá trình đồng tiền được định giá cao loại đồng tiền bị định giá thấp ra khỏi
lưu thông được thể hiện bằng thành ngữ quen thuộc với tên gọi là Quy luật
Gresham: “đồng tiền xáu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good
money). Quy luật này được Thomas Gresham áp dụng để giải thích tại sao
phương tiện lưu thông tiền tệ của nước Anh lại giảm xuống, và trong thực tế
chỉ còn các đồng tiền bị bào mòn giá trị là tồn tại trong lưu thông. Điều này
đã thuyết phục được Nữ Hoàng Anh đi đến quyết định thay thế toàn bộ các
đồng tiền đã bị bào mòn giá trị bằng cách đúc các đồng tiền mới có giá trị
đầy đủ.
Nhược điểm của chế độ tiền tệ này cũng bắt nguồn từ chính sự thay đổi
tương quan liên tục giữa vàng và bạc. Người nắm giữ tiền sẽ không thể
quyết định được việc nắm giữ tiền nào là có lợi cho mình, do đó thường có
tâm lý lựa chọn một loại tiền được sử dụng phổ biến hơn.
2.2.1.2 Chế độ bản vị kép
Khác với chế độ bản vị song song, chế độ bản vị kép lại quy định một tỉ lệ
cố định giữa giá trị của đồng tiền vàng và bạc, không phụ thuộc vào giá trị
thực tế của hai kim loại này. Nước Mỹ đã trải qua thời kỳ đồng bản vị từ
năm 1792 đến 1861. Luật đúc tiền năm 1792 đã thông qua đồng đôla là đơn
vị tiền tệ của Mỹ có giá cố định với vàng và bạc. Như vậy, ở Mỹ đã chính
thức hình thành chế độ đồng bản vị. Giá trị của đôla được ấn định bằng
24,75 grains vàng (1grain = 0,0648 gam) hay 371,25 grains bạc. Điều này
13
nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa vàng và bạc là cố định “1 USD = 274 grains vàng
= 371,25 grains bạc”. Như vậy, cùng một khối lượng như nhau thì vàng luôn
có giá gấp 15 lần bạc (371,25 : 24,75 = 15), và tỷ lệ 15:1 này là tương đương
với giá vàng bạc trên thị trường tự do lúc bây giờ; tuy nhiên, càng về cuối
thế kỷ 18 thì giá bạc trên thị trường đã bắt đầu giảm. Ngoài ra, các nước
khác, ví dụ như Pháp, đã hình thành chế độ đồng bản vị với tỷ lệ “bạc:vàng
là 15,5:1”. Kết quả là so với nước Mỹ thì ở các nước khác vàng đã có giá trị
hơn bạc. Nếu bỏ qua chi phí giao dịch và vận chuyển thì lãi ròng thu được
khi đem 15 ounce bạc để đổi lấy 1 ounce vàng ở Mỹ rồi bán số vàng này ở
nước ngoài là 0,5 ounce bạc. Điều này đã kích thích kích thích luồng bạc
chạy vào và luồng vàng chạy ra khỏi nước Mỹ. Kết quả là với vai trò là
phương tiện lưu thông thì ở Mỹ vàng đã bị định giá thấp và bạc đã được định
giá cao, vàng từ từ biến khỏi lưu thông ở nước Mỹ; do đó, xét về mặt danh
nghĩa thì Mỹ vẫn áp dụng chế độ đồng bản vị kim loại, nhưng trên thực tế
chế độ này đã chấm dứt để nhừng chỗ cho chế độ đơn bản vị của bạc.
Chế độ đơn bản vị bạc tồn tại cho tới năm 1834, khi Quốc hội Mỹ quyết
định tăng giá vàng từ $19,394/ounce lên $20,76/ounce, trong khi đó giá bạc
vẫn giữ nguyên nhằm khôi phục lại chế độ đồng bản vị kim loại. Như vậy tỷ
lệ bạc : vàng là 16, trong khi trên thế giới vẫn là 15,5. Mộ lần nữa trong thực
tế nước Mỹ lại chỉ còn chế độ đơn bản vị kim loại là Vàng.
Năm 1879, Mỹ quyết định chuyển đổi trở lại USD ra vàng mà không chuyển
đổi ra bạc, đây là một bước quan trọng trong việc hình thành chế độ đơn bản
vị vàng (bản vị vàng) ở Mỹ. Tuy nhiên chế độ này vẫn không được chính
thức phê chuẩn cho tới khi có Đạo luật Bản vị vàng vào năm 1990.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét