2.11. Phải xem xét tác hại của tiếng ồn và chấn động và có biện pháp hạn chế ảnh hưởng đến
khu vực xung quanh.
2.12 Trước khi khoan cọc phải kiểm tra lại đường cơ tuyến, lập các mốc cao độ, các cọc định
tim cọc khoan. Các mốc cao độ và cọc định tim phải được đặt ở vị trí không bị ảnh hưởng khi
khoan và phải được bảo vệ cẩn thận.
2.13. Trước khi thi công khoan ở những vùng có nhiều bom mìn trong chiến tranh cần phải
khảo sát thăm dò và có biên pháp rà pháp bom mìn.
CHƯƠNG 3 : CÔNG TÁC KHOAN TẠO LỖ
A. THIẾT BỊ KHOAN TẠO LỖ :
3.1. Công tác tạo lỗ khoan có thể chia thành hai dạng chủ yếu theo phương thức bảo vệ thành
vách lỗ khoan như sau :
1.
Khoan tạo lỗ không có ống vách, dùng bentonite để giữ vách;
2.
Khoan tạo lỗ có ống vách.
Thiết bị lấy đất, đá trong lòng lỗ khoan có các kiểu sau: chòong đập đá; gàu ngoạm; gàu xoay
để hút bùn theo chu trình thuận, nghịch v.v
3.2. Việc tạo lỗ trong lòng đất có thể thực hiện bằng các công nghệ, thiết bị khoan khác nhau.
Mỗi công nghệ khoan cần có qui định các thông số khoan cụ thể để đảm bảo chất lượng tạo lỗ.
B. ỐNG VÁCH :
3.3. Theo đặc điểm kỹ thuật có thể chia ống vách thành hai loại:
1. Ống vách thuộc thiết bị khoan có kích thược về đường kính, chiều dài mỗi ống được chế tạo
theo tính năng, công suất của từng loại máy khoan. Ống vách này được rút lên trong quá trình
đổ bê tông;
2. Ống vách theo yêu cầu thi công không phụ thuộc thiết bị khoan và được để lại trong kết cấu
với mục đích :
- Giữ thành vách;
- Hoặc làm ván khuôn đối với phần cọc ngậm trong nước, cao hơn đáy sông;
- Bảo vệ cọc bê tông cốt thép trong trường hợp sông có vận tốc lớn và nhiều phù sa.
C. CHẾ TẠO ỐNG VÁCH :
3.5. Ống vách được chế tạo bằng thép bản cuốn và hàn thành từng đoạn ống tại các xưởng
cơ khí chuyên dụng. Đường kính ống vách theo yêu cầu thiết kế, chiều dày ống vách thường
từ 6-:-16 mm; chiều dài các đoạn ống vách thường từ 6-10m phụ thuộc vào đặc điểm thiết bị,
vật tư và cẩu lắp, các yêu cầu kỹ thuật của cọc. Ống vách sử dụng để thi công cọc khoan nhồi
phải có chứng chỉ đảm bảo chất lượng.
3.6. Tại công trường, các đoạn ống vách của cọc được nối bằng đường hàn. Việc hàn nối ống
vách phải được thực hiện trên bệ gá. Nếu chiều dài ống vách cần hạ lớn hơn chiều cao của
cẩu, thì có thể kết hợp giữa việc hạ ống vách và nối ống vách cho đến khi đủ chiều cao thiết
kế, nhưng phải bố trí các giá đỡ để ống vách sau khi nối đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật về độ
thẳng đứng, kín và sức chịu tải khi đóng hạ ống vách.
D. ĐỊNH VỊ VÀ LẮP ĐẶT ỐNG VÁCH :
3.7 Công tác định vị, lắp đặt ống vách phải tuân thủ theo Qui phạm thi công và nghiệm thu cầu
cống và cần lưu ý những điểm sau :
1.
Khi lắp đặt ống vách ở trên cạn : công tác đo đạt định vị thực hiện bằng máy kinh vĩ và
thước thép; dùng cần cẩu để lắp đặt.
2.
Khi lắp đặt ống vách vùng nước sâu :
ngoài việc sử dụng các loại máy móc thiết
bị trên để do đạt và định vị cần dùng thêm hệ thống khung dẫn hướng. Khung
dẫn hướng dùng để định vị ống vách phải đảm bảo ổn định dưới tác dụng của
lực thuỷ động
3.8 Định vị cọc trên mặt bằng cần dựa vào các mốc toạ độ chuẩn được xác định và xây dựng
trước. Vị trí, kích thước và cao độ chân ống vách phải được định vị và hạ đúng theo qui định
của thiết kế.
E. THIẾT BỊ HẠ ỐNG VÁCH :
3.9. Tuỳ thuộc vào điều kiện địa chất công trình; kích thước ống vách; chiều sâu hạ để tính
toán và chọn thiết bị hạ ống vách cho phù hợp. Thiết bị hạ ống vách thường có những dạng
sau :
1.
Sử dụng thiết bị xi lanh thuỷ lực kèm theo máy khoan để xoay lắc ống vách hạ hoặc nhổ
ống vách lên.
2.
Sử dụng búa rung đóng ống vách xuống kết hợp với việc lấy đất bên trong lòng ống vách
bằng máy khoan, gầu ngoạm, hoặc hút bùn.
3.
Hạ ống vách bằng kích thuỷ lực ép xuống.
F. CAO ĐỘ ĐỈNH VÀ CHÂN ỐNG VÁCH :
3.10. Tuỳ theo điều kiện địa chất, thuỷ văn; phương pháp, loại thiết bị khoan v.v mà quyết
định đặt cao độ đỉnh và đáy ống vách cho phù hợp.
3.11. Trong trường hợp khoan cọc nhồi ở vùng bị ảnh hưởng của nước thuỷ triều, nếu dùng
dung dịch vữa sét (bentonnite) để giữ ổn định vách, thì đỉnh ống vách phải cao hơn mức nước
cao nhất tối thiểu là 2m. Khi khoan trên cạn, ngoài những yêu cầu trên cần phải đặt ống vách
cao hơn mặt đất hiện tại tối thiểu 0,3m.
3.12. Khi khoan nhồi bằng loại máy khoan không có ống vách đi kèm phải dùng bentonite để
giữ vách, thì tuỳ điều kiện địa chất cụ thể mà đặt chân ống vách phụ (ống vách không thuộc
thiết bị máy khoan) tại cao độ sao cho áp lực của cột dung dịch bentonite luôn lớn hơn áp lực
chủ động của đất cộng với hoạt tải thi công phía bên ngoài thành vách. Nên đặt chân ống vách
vào tầng đất không thấm nước nằm ở phía dưới mực nước ngầm.
3.13. Chân ống vách phải đặt phía dưới đường xói lở cục bộ đã được tính toán tại vị trí khoan
tối thiểu là 1m.
G. CHUẨN BỊ KHOAN :
3.14. Trước khi thi công cọc khoan nhồi, cần phải chuẩn bị đủ hồ sơ tài liệu, thiết bị máy móc
và mặt bằng thi công, đảm bảo các yêu cầu sau:
-
Khoan thăm dò địa chất tại vị trí có lỗ khoan.
-
Chế tạo lồng cốt thép.
-
Thí nghiệm để chọn tỷ lệ thành phần hỗn hợp bê tông cọc.
-
Lập các qui trình công nghệ khoan nhồi cụ thể để hướng dẫn, phổ biến cho cán bộ,
công nhân tham gia thi công cọc khoan nhồi làm chủ công nghệ.
Khi sử dụng máy khoan không có ống vách đi kèm thì cần phải bổ sung các yêu cầu dưới đây:
-
Sản xuất các ống vách thép theo chiều dài mà thiết kế thi công yêu cầu.
-
Làm các thí nghiệm để chọn tỷ lệ pha trộn thành phần vữa sét phù hợp với yêu cầu
của lỗ khoan.
3.15. Dựa trên cơ sở phương pháp và thiết bị máy khoan, tuỳ theo từng vị trí cụ thể của cọc
mà phải chuẩn bị mặt bằng để đắp đặt máy khoan. Khi khả năng chịu tải của đất nền không
đảm bảo để đặt máy và thiết bị thi công có thể chọn giải pháp gia cố nền đất sau :
-
Dùng xe ủi san và nén chặt đất.
-
Đào bỏ lớp đất yếu thay đất tốt.
-
Gia cố đất bằng vôi hoặc xi măng v.v
-
Lát mặt bằng tà vẹt, ván dầy bằng gỗ hoặc lát bằng thép tấm, thép hình.
Khi kê bằng thép tấm cần chống trượt và xoay chân chống máy khoan.
3.16. Đối với các máy khoan xoắn ốc hay máy khoan gầu xoay dùng để thi công trên cạn, máy
cơ bản (bộ phận chính của máy) phải được đặt trên các tấm tôn dày 20mm. Các chân máy
phải được kê cứng và cân bằng để khi khoan không bị nghiêng hoặc di động.
3.17. Đối với các máy khoan tuần hoàn hoặc thuận nghịch, đầu khoan được treo bằng giá
khoan hoặc bằng cần cẩu, trước khi khoan phải định vị giá khoan cân bằng, đúng tim cọc thiết
kế. Các sàn công tác phải đảm bảo ổn định dưới tải trọng thi công và tải trọng động.
3.18. Định vị máy khoan cọc như sau :
a. Đối với máy khoan xoay lắc ống vách, có thể chọn một trong ba phương pháp sau đây để
xác định vị trí lắp đặt máy:
+ Vẽ chu vi ngoài chân của ống vách trên mặt đất.
+ Đóng ít nhất 3 cọc nhỏ để làm mốc trên chu vi đặt máy.
+ Làm một vành đai định vị bằng với chu vi ngoài của chân ống vách.
b. Đối với máy khoan gầu xoa, di chuyển máy khoan để đầu khoan vào trúng tim cọc đã xác
định.
c. Đối với phương pháp khoan tuần hoàn ngược, có thể chọn một trong ba thiết bị như búa
rung, búa xung kích hoặc kích thuỷ lực để hạ ống vách xuống.
Khi định vị, phải kiểm tra xem ống vách đã nằm đúng vào vị trí của cọc chưa, nếu bị sai
lệch phải lắp “bàn thao tác” để điều chỉnh lại.
H. ĐO ĐẠT TRONG KHI KHOAN :
3.19. Mục tiêu của công tác đo đạt trong khi khoannhằm đạt được các mục tiêu sau :
- Định vị chính xác vị trí khoan;
- Theo dõi chiều dày lớp địa chất của lỗ khoan;
- Xác định vị trí, cao độ đầu khoan.
3.20. Định vị tim đầu khoan hoặc tim ống vách bằng các thiết bị đo đạt công trình, theo các cọc
mốc đã được xây dựng từ trước. Trong quá trình khoan phải theo dõi tim cọc bằng máy kinh
vĩ, đo đạt độ sâu lỗ khoan, đồng thời phải luôn quan sát và ghi chép sự thay đổi ác lớp địa chất
qua mùn khoan lấy ra.
I. KHOAN LỖ :
3.21. Phải lựa chọn thiết bị khoan đủ năng lực và phù hợp với điều kiện địa chất, thuỷ văn của
công trình để đảm bảo cho việc tạo lỗ khoan đạt yêu cầu thiết kế. Trong quá trình khoan nếu
xảy ra sự cố, hiện tượng bất thường (sụt lỡ thành vách, lỗ khoan không thẳng, có sự sai lệch
về đường kính lỗ khoan thực tế so với yêu cầu của thiết kế v.v ), thì nhà thầu phải nghiên cứu,
đề xuất giải pháp xử lý. Phương án xử lý sự cố của nhà thầu chỉ được thực hiện khi được chủ
đầu tư, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế thống nhất chấp thuận.
3.22. Phải chờ đến khi bê tông cọc bên cạnh trong cùng một móng đạt tối thiểu 70% cường độ
thiết kế mới được khoan tiếp. Việc quyết định chọn thời điểm khoan còn phụ thuộc vào khoảng
cách giữa các cọc trong móng.
3.23. Đối với những lỗ khoan sử dụng dung dịch vữa sét để giữ thành vách, cần bù phụ dung
dịch liên tục trong quá trình khoan, ngừng khoan hoặc đổ bê tông. Không được để cao độ
dung dịch trong lỗ khoan hạ xuống dưới mức qui định gây sụt lỡ vách.
3.24. Khi ngừng khoan lâu phải rút đầu khoan ra khỏi hố khoan, tránh khoan bị chôn vùi khi
sập vách, miệng hố khoan phải được đậy nắp.
3.25. Khi đưa mũi khoan lên để xả đất hoặc nối dài cần khoan phải rút từ từ, không được cho
đầu khoan va chạm vào vách gây sụt lở.
3.26. Sai số cho phép trong công tác khoan tạo lỗ được qui định tại Điều 7.4 của Qui phạm
này.
3.27. Sai số cho phép của lỗ cọc khoan nhồi đã thi công xong không được vượt quá các qui
định nêu trong Điều 7.5 (Bảng 1 và 2) của Qui phạm này.
J. CAO ĐỘ DUNG DỊCH KHOAN :
3.28. Cao độ dung dịch khoan giữ ổn định thành vách phải cao hơn mực nước ngầm hoặc
mực nước mặt hơn 2m. Tại những nơi nước ngầm hoặc có áp lực ngang khác cần phải tính
toán kỹ để quyết định cao độ này.
3.29. Trong quá trình khoan phải luôn theo dõi việc cấp vữa sét cho bơm hút (phương pháp
tuần hoàn ngược). Nếu hết vữa sét dự trữ thì phải ngừng ngay khoan. Trong mọi trường hợp
cấm để dung dịch khoan trong hố khoan bị hạ thấp hơn 1m so với độ cao qui định.
K. XỬ LÝ LẮNG CẶN :
3.30. Công tác xử lý lắng cặn phải thực hiện trước khi đổ bê tông. Khi khoan cọc đến cao độ
thiết kế, không được để đọng bùn đất hoặc vữa sét ở đáy lỗ khoan làm giảm khả năng chịu tải
của cọc. Đối với mỗi cọc, sau khi khoan đều phải thực hiện việc xử lý lắng cặn kỹ lưỡng.
L. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ LẮNG CẶN LÀ LOẠI HẠT THÔ :
3.31. Loại cặn lắng có đường kính hạt tương đối lớn, để xử lý, sau khi tạo lỗ đạt tới độ sâu
thiết kế, không được nâng ngay thiết bị tạo lỗ lên mà phải tiếp tục thao tác thải đất ra ngoài cho
đến khi kiểm tra thấy sạch cặn lắng ở đáy lỗ khoan.
3.32. Đối với phương pháp khoan lỗ tuần hoàn ngược, sau khi kết thúc công tác khoan phải
nâng đầu khoan lên cách đáy khoản 20cm, tiếp tục quay mũi khoan và bơm hút vữa sét. Đồng
thời tiến hành kiểm tra dung dịch khoan trong lỗ khoan theo các chỉ tiêu trong Điều 7.4 của Qui
phạm này cho đến khi đạt được yêu cầu. Sau khi hoàn thành công việc phải rút đầu khoan lên
với tốc độ từ 2 đến 4m/phút.
3.33. Đối với phương pháp khoan xoay lắc ống vách, sau khi kết thúc thao tác tạo lỗ phải chờ
khoảng từ 15 đến 20 phút mới được thả nhẹ gầu ngoạm xuống đáy lỗ, ngoạm cặn lắng ở đáy
lỗ lên. Khi cặn lắng ở đáy lỗ còn ít, dùng bơm hút cát thả xuống đáy lỗ, khuấy nhẹ cặn lắng lên
để hút ra ngoài.
3.34 Đối với phương pháp khoan lỗ bằng gầu xoay, sau khi khoan xong để yên từ 15 đến 20
phút rồi dùng gầu khoan có lá chắn đặc biệt để lấy cặn lắng lên.
M. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CẶN LẮNG LÀ LOẠI HẠT RẤT NHỎ, NỔI TRONG NƯỚC TUẦN
HOÀN HOẶC NƯỚC TRONG LỖ :
3.35. Cần phải xử lý lắng cặn hạt nhỏ trước khi thả lồng cốt thép hoặc trước khi đổ bê tông. Có
thể dùng phương pháp bơm không khí xuống (phương pháp hút bùn không khí) hoặc phương
pháp bơm hút tuần hoàn ngươc để hút bùn:
- Nếu dùng phương pháp bơm khí xuống lỗ khoan để hút bùn, phải để đầu hút bùn hoặc miệng
phun nằm càng sâu vào trong nước càng hiệu quả.
- Nếu dùng phương pháp tuần hoàn ngược thì cần phải cho miệng ống hút bùn di động ở đáy
lỗ khoan để đẩy cặn lắng lên. Trong quá trình hút phải luôn luôn bổ sung dung dịch khoan vào
trong ống, không được để nước trong ống bị hạ thấp gây sụt lở thành vách.
3.36. Đối với các loại cọc có độ sâu nhỏ hơn 10m, thì không nên dùng phương pháp hút bùn
không khí vì hiệu quả kém; nên dùng phương pháp bơm hút tuần hoàn ngược.
CHƯƠNG 4 : DUNG DỊCH KHOAN
4.1. Tuỳ theo điều kiện địa chất, thuỷ văn, nước ngầm, thiết bị khoan mà chọn phương pháp
giữ thành vách lỗ khoan và chọn dung dịch khoan cho thích hợp.
4.2. Dung dịch vữa sét (bentonite) dùng để giữ thành vách gồm : nước, bột sét, CMC và tác
nhân phân tán khác. Dung dịch vữa sét có thể sử dụng đối với nơi có lớp địa tầng dễ sụt lở và
đảm bảo được các yêu cầu kỹ thuật sau :
- Có thể dùng ở mọi loại địa tầng.
- Dùng cho mọi loại thiết bị khoan và dạng mũi khoan.
- Giữ cho mùn khoan không lắng đọng dưới đáy hố khoan và đưa chúng theo dung dịch ra
ngoài.
4.3. Dung dịch khoan có thể là nước thường tại nơi mà địa tầng là đất dính như: đất sét, á sét,
đất thịt, hoặc gơ nai phong hoá, đá v.v
4.4. Dung dịch khoan phải chọn dựa trên cơ sở tính toán theo nguyên lý cân bằng áp lựuc
ngang, giữa cột dung dịch trong hố khoan và áp lực của đất và nước quanh vách lỗ. Đối với
các lỗ khoan có lớp địa tầng dễ sụt lở, áp lực của cột dung dịch phải luôn lớn hơn áp lực
ngang của đất và nước bên ngoài.
4.5. Trường hợp phía trên hố khoan chịu tải trọng của các thiết bị thi công nặng hoặc các công
trình xây dựng lân cận, phải sử dụng ống vách để chống sụt lở. Độ sâu của ống vách trong
trường hợp này phải căn cứ vào kết quả tính toán cụ thể, sao cho đoạn lỗ khoan không ống
vách có áp lực của cột dung dịch lớn hơn áp lực đất nước xung quanh thành vách.
4.6. Nếu áp lực nước ngầm cao hơn mức bình thường (ví dụ trong trong trường hợp nước
ngầm tràn lên cả mặt đất) thì cần phải tăng tỷ trọng dung dịch vữa sét lên cho phù hợp. Để đạt
được mục đích trên được phép trộn thêm vào dung dịch các chất có tỷ trọng cao như barit
hoặc magnetic v.v
4.7. Dung dịch dùng trong khoan nhồi phải có chất lượng tốt và không bị hư hỏng theo thời
gian. Thành phần và tính chất của dung dịch vữa sét sử dụng cho mỗi lỗ khoan cần phải bảo
đảm sự ổn định trong thời gian thi công. Các thông số của dung dịch phải được chọn thích hợp
với điều kiện của khu vực xây dựng và đảm bảo các yêu cầu quy định trong Điều 7.10. Tuỳ
theo điều kiện địa chất tại vị trí khoan cọc mà chọn các chỉ tiêu về độ nhớt và khố lượng riêng
của dung dịch cho thích hợp (tham khảo phụ lục khoan kèm theo).
A. KIỂM TRA, ĐIỀU CHẾ, ĐIỀU CHỈNH DUNG DỊCH :
4.8. Số lần thí nghiệm, vị trí lấy mẫu được phép phù hợp (tham khảo phụ lục dung dịch khoan
kèm theo) của Tiêu chuẩn này để vận dụng cho công tác khoan cọc nhồi tại công trình cụ thể.
4.9. Dung dịch vữa sét sau khi điều chế phải đảm bảo được yêu cầu giữ ổn định thành vách
đối với loại đất nơi khoan cọc. Trong quá trình sử dụng vữa sét, phải thí nghiệm và điều chỉnh
các chỉ tiêu kỹ thuật của dung dịch cho phù hợp.
B. SỬ DỤNG LẠI DUNG DỊCH VỮA SÉT :
4.10. Qua việc kiểm tra và điều chỉnh đúng qui định, dung dịch vữa sét có thể tái sử dụng
nhiều lần trong thời gian thi công. Nếu công tác kiểm tra, điều chỉnh được thực hiện đầy đủ thì
có thể sử dụng lại dung dịch vữa sét trong khoảng thời gian thi công công trình, nhưng không
được quá 6 tháng.
4.11. Nếu dung dịch bị nhiễm xi măng không thể điều chỉnh bằng chất phân tán được nữa thì
phải loại bỏ.
CHƯƠNG 5 : CÔNG TÁC CỐT THÉP
A. GIA CÔNG LỒNG CỐT THÉP :
5.1. Lồng cốt thép phải gia công đảm bảo yêu cầu của thiết kế về : qui cách, chủng loại cốt
thép, phẩm cấp que hàn, qui cách mối hàn, độ dài đường hàn v.v
5.2. Cốt thép được chế tạo sẵn tại nhà máy hoặc ở công trường và được hạ xuống hố khoan.
Lồng cốt thép phải được gia công đúng thiết kế. Các cốt dọc và ngang ghép thành lồng cốt
thép bằng cách buộc hoặc hàn. Các thanh cốt thép đặc biệt như : vòng đai giữ cỡ lắp dựng,
khung quay dựng lồng v.v phải được hàn với cốt thép chủ. Cốt thép dùng cho cọc phải là
thép chịu hàn .
B. CỐT THÉP CHỦ :
5.3. Đường kính cốt thép theo chỉ định của đồ án thiết kế .
5.4. Số lượng cốt thép theo chỉ định của đồ án thiết kế.
5.5. Chiều dài cốt thép chủ phụ thuộc vào đoạn chia. Lồng cốt thép phải chế tạo thành từng
đoạn căn cứ vào chiều dài tổng thể của cọc. Thông thường các đoạn chia có thể là 12 và 14m,
lớn nhất là 15m vì chiều cao của móc cẩu thường không vượt qua 15m. Lồng cốt thép của cọc
có chiều dài lớn (lớn hơn 15m) phải được phân thành từng đốt, sau đó được tổ hợp lại công
trường khi hạ lồng vào trong hố khoan. Cần lưu ý khi ghép lồng, đốt dài nhất phải đặt ở phía
dưới để việc hạ lồng cốt thép xuống lỗ khoan được dễ dàng.
5.6. Mối nối các đoạn lồng cốt thép nên dùng bằng hàn hoặc bằng phương pháp dập ép ống
nối theo tiêu chuẩn TCXD 234-1999. Chỉ sử dụng mối nối buộc cốt thép đối với các cọc có
đường kính nhỏ hơn 1,2m và chiều dài toàn bộ lồng thép không quá 25m.
C. CỐT THÉP ĐAI :
5.7. Đường kính vòng đai hay vòng lò xo của lồng cốt thép theo chỉ định của đồ án thiết kế. Khi
gia công cốt thép đai cần lưu ý những điểm sau :
- Đường kính danh định của vòng thép đai nhỏ hơn đường kính cọc 10 cm (2x5 cm lớp bê
tông phòng hộ) đối với các cọc thi công không ống vách.
- Đường kính danh định của vòng cốt thép đai nhỏ hơn đường kính cọc 6cm đối với cọc khoan
có ống vách.
- Đường kính cốt thép đai từ 6-16 mm, khoảng cách giữa các vòng đai thực hiện theo đồ án
thiết kế .
5.8. Để dễ dàng cho việc thế tạo lồng, cần phải sử dụng các cốt thép đặc biệt làm vòng đai lắp
dựng hoặc vòng cỡ. Đường kính vòng đai phải tuân thủ theo đúng hồ sơ thiết kế. Vòng đai
phải đảm bảo độ cứng để có thể giữ vững lồng thép và các ống thăm dò khuyết tật khi nâng
chuyển. Vòng đai được nối kín bằng hàn chồng hoặc hàn đối đầu.
D. THIẾT BỊ ĐỊNH TÂM LỒNG THÉP :
5.9. Khi lắp đặt lồng thép trong lỗ khoan, để định vị chính xác tâm và tránh sự va chạm của
lồng cốt thép vào thành vách, cần sử dụng các thiết bị định tâm lồng thép hoặc con đệm :
+ Các con cữ (Tai định vị): Con cữ được làm bằng cốt thép trơn, hàn vào cốt thép dọc và được
gọi là thanh trượt. Kích thước của thanh trượt được chọn căn cứ vào kích thước lồng cốt thép
và đường kinh lỗ khoan thực tế.
+ Các con đệm bằng bê tông: Để đảm bảo tầng phòng hộ lồng cốt thép và định tâm lồng thép
có thể dùng các con đệm, hình tròn bằng xi măng. Để tránh sự thâm nhập của nước gây ra gỉ
cốt thép dọc, không được cố định con đệm trên cốt thép dọc . Nên hàn cố định con đệm vào
giữa 2 thanh cốt thép dọc cạnh nhau bằng một thanh thép nhỏ .
E. CỐT THÉP TĂNG CƯỜNG ĐỘ CỨNG LỒNG THÉP :
5.10. Trong trường hợp toàn bộ hệ thống cốt thép vành đai không đủ làm cứng lồng khi nâng
chuyển, cần phải gia công tăng cường lồng các cốt thép đặc biệt. Các cốt thép này có thể
được nằm lại hoặc được tháo dỡ dần khi hạ lồng vào trong hố khoan nếu gây cản trở việc hạ
các ống đổ bê tông. Cốt thép tăng cường này gồm các loại sau :
- Các thanh giằng để chống lại sự làm méo ô van lồng cốt thép.
- Các thanh cốt thép giữ cho lồng cốt thép không đổ nghiêng và bị xoắn.
F. GIỎ CHÂN LỒNG CỐT THÉP :
5.11. Phần cốt thép dọc đầu mũi cọc được uốn vào tâm cọc gọi là giỏ chân lồng cốt thép . Việc
gia công giỏ chân lồng cốt thép phải tuân thủ đúng hồ sơ thiết kế.
G. MÓC TREO :
5.14. Móc treo phải bố trí sao cho khi cẩu lồng cốt thép không bị biến dạng lớn. Cần phải chọn
cốt thép chuyên dùng làm móc cẩu và phải gia công móc treo theo đúng vị trí móc cẩu được
tính toán trước .
H. ỐNG THĂM DÒ :
5.15. Để kiểm tra không phá huỷ các cọc đã thi công xong, cần phải đặt trước các ống thăm dò
bằng thép hoặc bằng nhựa có nắp đậy ở đáy, có kích thước phù hợp với phương pháp thăm
dò trên suốt chiều dài cọc : dùng ống 50/60 mm để thăm dò bằng siêu âm và ống 102/114 mm
để khoan lấy mẫu bê tông ở đáy hố khoan. Đối với các cọc khoan nhồi đường kính lớn hơn
1,5m hoặc có chiều dài lớn hơn 25m cần phải sử dụng ống thăm dò bằng thép.
5.16. Các ống thăm dò được hàn trực tiếp lên vành đai hoặc dùng thanh thép hàn kẹp ống vào
đai.
5.17. Đối với các ống 102/114mm dùng để khoan mẫu phải đặt cao hơn chân lồng thép 1m và
không trùng vào vị trí cốt thép chủ.
5.18. Phải đặc biệt lưu ý đến vị trí của ống thăm dò tại mối nối các đoạn lồng cốt thép đảm bảo
cho ống chắc chắn, liên tục. Đối với cọc khoan sâu không quá 20m với đường kính cọc không
quá 0,80m thì không cần đặt ống thăm dò.
I. NÂNG CHUYỂN VÀ XẾP DỠ LỒNG THÉP :
5.19. Đối với các cọc có đường kính lớn, không được nâng chuyển lồng cốt thép tại 1 hoặc 2
điểm, phải giữ lồng cốt thép tại nhiều điểm để hạn chế biến dạng .
5.20. Lồng cốt thép phải được tập kết trên nền bãi láng bằng bê tông hoặc ở những khu bãi
sạch sẽ, khô ráo. Lồng cốt thép phải được xếp trên nhiều con kê bằng gỗ để tránh biến dạng
và không được chồng lên nhau.
J. DỰNG VÀ ĐẶT LỒNG CỐT THÉP VÀO LỖ KHOAN :
5.21 Trước khi hạ lồng cốt thép vào vị trí, cần đo đạt kiểm tra lại cao độ tại 4 điểm xung quanh
và 1 điểm giữa đáy lỗ khoan. Cao độ đáy không được sai lệch vượt quá qui định cho phép (Δh
≤ ± 100 mm).
5.22 Các thao tác dựng và đặt lồng cốt thép vào lỗ khoan phải được thực hiện khẩn trương để
hạn chế tối đa lượng mùn khoan sinh ra trước khi đổ bê tông (không được quá 1 giờ kể từ khi
thu dọn xong lỗ khoan).
5.23. Khi hạ lồng cốt thép đến cao độ thiết kế phải treo lồng phía trên để khi đổ bê tông lồng
cốt thép không bị uống dọc và đâm thủng nền đất đáy lỗ khoan. Lồng cốt thép phải được giữ
cách đáy hố khoan 10cm.
5.24. Các bước cơ bản để lắp đặt và hạ các đoạn lồng cốt thép như sau :
+ Nạo vét đáy lỗ.
+ Hạ từ từ đoạn thứ nhất vào trong hố khoan cho đến cao độ đảm bảo thuận tiện cho việc kết
nối đốt tiếp theo.
+ Giữ lồng cốt thép bằng giá đỡ chuyên dụng được chế tạo bằng cốt thép đường kính lớn
hoặc thép hình.
+ Đưa đoạn tiếp theo và thực hiện công tác nối lồng cốt thép (hàn các thanh cốt dọc với nhau
hoặc nối buộc tại chỗ hay bắt nối bằng cóc hoặc nối bằng dây ép ống nối ).
+ Tháo giá đỡ và hạ tiếp lồng cốt thép xuống.
+ Lặp lại các thao tác trên đối với việc nối các đoạn tiếp theo cho đến đoạn cuối cùng.
+ Kiểm tra cao độ phía trên của lồng cốt thép.
+ Kiểm tra đáy lỗ khoan.
+ Neo lồng cốt thép để khi đổ bê tông lồng cốt thép không bị trồi lên.
5.25. Lồng cốt thép sau khi kết nối phải thẳng, các ống thăm dò phải thẳng và thông suốt ; Độ
lệch tâm của ống tại vị trí nối lồng cốt thép không được vượt quá 1cm.
CHƯƠNG 6 : CÔNG TÁC ĐỔ BÊ TÔNG CỌC KHOAN
A. YÊU CẦU VỀ VẬT LIỆU :
6.1. thành phần hỗn hợp bê tông phải được thiết kế và điều chỉnh bằng thí
nghiệm sao cho đảm bảo các yêu cầu của thiết kế.
6.2. Các loại vật liệu cấu thành hỗn hợp bê tông phải được kiểm tra về chất lượng trước khi sử
dụng và tuân thủ theo các tiêu chuẩn của Việt nam hiện hành :
+ Xi măng : dùng xi măng Portland PC 40 trở lên đảm bảo tiêu chuẩn TCVN 2682 - 1999.
+ Cốt liệu thô : dùng đá có thành phần hạt cấp phối liên tục D
min
= 5 / 25 mm, tuân thủ theo tiêu
chuẩn TCVN 4453 – 1995.
+ Cát : dùng cát vàng có Module
≥
2,5 tuân thủ theo tiêu chuẩn TCVN 4453- 1995.
+ Nước : Sạch, không có tạp chất, tuân thủ theo qui định của tiêu chuẩn TCVN 4506-87 .
+ Phụ gia : Có thể dùng phụ gia cho bê tông để tăng tính công tác của bê tông và kéo dài thời
gian ninh kết của bê tông cho phù hợp với khả năng cung cấp bê tông. Khi sử dụng phụ gia
phải tuân thủ các qui định của Nhà nước và thực hiện đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất.
+ Tỷ lệ nước / xi măng : N /XM
≤
0,45.
B. YÊU CẦU KỸ THUẬT VỀ BÊ TÔNG DƯỚI NƯỚC :
6.3. Phải bảo đảm các yêu cầu của vữa bê tông khi đổ bê tông dưới nước đúng qui trình qui
phạm hiện hành. Cường độ bê tông đổ dưới nước phải đạt yêu cầu của thiết kế. Trước khi đổ
bê tông dưới nước phải tiến hành thí nghiệm để lựa chọn thành phần cấp phối bê tông đảm
bảo yêu cầu về cường độ thiết kế.
6.4. Các chỉ tiêu về độ sụt, độ tách vữa và tách nước v.v sẽ được qui định cụ thể trên cơ sở
kết quả thí nghiệm thành phần hỗn hợp bê tông và phương pháp bơm bê tông. Hỗn hợp bê
tông trước khi đổ vào cọc phải được kiểm tra nghiệm thu đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật qui
định trong bảng 2 của Điều 7.9.
C. TRẠM BÊ TÔNG :
6.5. Phải căn cứ vào khối lượng cần đổ để tính ra công suất máy trộn. Máy trộn bê tông phải
đủ công suất đảm bảo cung cấp bê tông liên tục trong quá trình thi công. Nên bố trí máy trộn
gần vị trí thi công cọc để giảm thời gian chờ đợi do vận chuyển.
6.6. Hệ thống trạm trộn phải được kiểm tra và điều chỉnh chính xác, thường xuyên để việc cân
đong cốt liệu đảm bảo đúng và đủ.
6.7. Thời gian trộn đảm bảo theo tính năng máy trộn phải có cán bộ thí nghiệm đặc trách việc
theo dõi công tác trộn bê tông và thí nghiệm độ sụt của từng mẽ trộn và ghi sổ theo dõi đầy đủ.
D. VẬN CHUYỂN BÊ TÔNG :
6.8. Các phương tiện vận chuyển bê tông phải bảo đảm kín, không làm chảy mất vữa xi măng.
Nếu trạm trộn ở xa công trường thì phải vận chuyển bê tông bằng xe trộn tự hành. Xe trộn cấp
bê tông tươi trực tiếp vào ống dẫn, hoặc cho máy bơm bê tông. Máy bơm cung cấp bê tông
phải đảm bảo tốt, đủ công suất để thi công cọc liên tục.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét