Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM cổ phần kỹ thương Việt Nam

- Vốn điều lệ: Là nguồn vốn ghi trong điều lệ của ngân hàng và phải đạt mức
tối thiểu theo quy định của pháp luật. Vốn điều lệ của NHTM có thể tăng lên trong quá
trình hoạt động.
- Các quỹ của ngân hàng: Được hình thành từ nguồn lãi ròng hàng năm, khi
ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm các quỹ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, các
quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, và quỹ khác.
Vốn điều lệ và các quỹ được gọi là vốn tự có của ngân hàng, được xem là yếu
tố tài chính quan trọng cho thấy quy mô của ngân hàng.
* Nguồn tiền gửi: Đây là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng
nguồn vốn kinh doanh của NHTM, gồm: tiền gửi tiết kiệm và thanh toán của khách
hàng, nguồn huy động thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá: kỳ phiếu, chứng
chỉ tiền gửi…
* Nguồn vốn đi vay: Để đáp ứng nhu cầu chi trả trong quá trình hoạt động,
NHTM có thể đi vay mượn từ ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng khác.
* Nguồn vốn khác: Vốn tiếp nhận từ ngân sách Nhà nước để thực hiện các
chương trình, dự án theo kế hoạch tập trung của Nhà nước, vốn tiếp nhận để cho vay
uỷ thác.
1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Thiết lập dữ trữ: Để đáp ứng nhu cầu mang tính thường xuyên của khách hàng
và bản thân ngân hàng, ngân hàng sử dụng một phần nguồn vốn lập các quỹ dự trữ
dưới hình thức: tiền mặt, tiền gửi tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc các
chứng khoán có tính thanh khoản cao…
Cấp tín dụng: Đây là hoạt động chính, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra
thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, bao gồm các nghiệp vụ: Cho vay, chiết khấu thương
phiếu và chứng từ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán…
Đầu tư tài chính: NHTM sử dụng nguồn vốn ổn định để thực hiện các hình
thức đầu tư như góp vốn, liên doanh, mua cổ phần, chứng khoán và các giấy tờ có
giá…nhằm kiếm lời và chia sẻ rủi ro với nghiệp vụ tín dụng.
Sử dụng vốn cho các mục đích khác: mua sắm thiết bị, dụng cụ phục vụ cho
hoạt động kinh doanh, xây dựng trụ sở, hệ thống kho bãi và các chi phí khác.
1.1.2.3. Nghiệp vụ trung gian
Là việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng để thu lệ phí hay các
khoản hoa hồng như: Dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ uỷ thác; dịch vụ thanh toán; quản lý
tài sản quý giá; kinh doanh vàng bạc, đá quý, ngoại tệ; mua bán hộ chứng khoán, phát
hành hộ cổ phiếu, trái phiếu; tư vấn về tài chính, đầu tư…
1.2. Năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.1. Cạnh tranh giữa các NHTM
1.2.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường, khi có nhiều chủ thể
kinh tế cùng hoạt động trong một lĩnh vực và cùng hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận, cạnh tranh sẽ xảy ra trong đó những chủ thể này trở thành đối thủ của nhau.
Như vậy cạnh tranh xảy ra giữa nhiều chủ thể kinh tế có cùng mục tiêu hoạt động,
trong một môi trường kinh tế, xã hội, pháp luật cụ thể.
Đối với các NHTM, cạnh tranh là sự tranh đua giữa các ngân hàng thông qua
rất nhiều phương thức, yếu tố, hành động để giành phần thắng trên thị trường trong
việc thu hút khách hàng, mở rộng thị phần, xây dựng uy tín, thương hiệu…nhằm đạt
được mục tiêu lợi nhuận cao nhất cho ngân hàng.
Các NHTM cạnh tranh với nhau trong tất cả các hoạt động: huy động vốn, cho
vay, cung cấp dịch vụ ngân hàng. Và đối thủ cạnh tranh của một NHTM là tất cả các
tổ chức kinh tế cung cấp sản phẩm dịch vụ giống với ngân hàng, chủ yếu là các
NHTM, tổ chức tín dụng khác và các tổ chức tài chính phi ngân hàng.
1.2.1.2. Đặc trưng cạnh tranh giữa các NHTM
- Đặc thù của môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là các đối thủ
cạnh tranh có số lượng giới hạn và sự gia tăng hay giảm bớt số lượng này là rất khó
khăn và hạn chế, do việc cho phép một tổ chức được tham gia hoặc rút lui khỏi thị
trường dịch vụ ngân hàng đòi hỏi phải tuân thủ một quy trình kiểm soát chặt chẽ với
những điều kiện ngặt nghèo từ phía nhà nước, nhằm tránh cho nền kinh tế và công
chúng khỏi những tổn thất lớn do hoạt động yếu kém, không rõ ràng, minh bạch của
các tổ chức này mang lại và làm cho thị trường trở nên an toàn, lành mạnh hơn.
- Trong cạnh tranh các NHTM phải tuân theo các nguyên tắc, luật lệ thế giới:
Quá trình hội nhập đưa các hoạt động kinh tế thế giới theo một quỹ đạo chung trên cơ
sở các cam kết, hiệp định thương mại. Lĩnh vực ngân hàng rất nhạy cảm đối với nền
kinh tế của một quốc gia, phạm vi hoạt động và ảnh hưởng rộng trong khu vực và thế
giới, nên các NHTM muốn hoạt động lành mạnh và phát triển bền vững phải ký kết và
tuân thủ những nguyên tắc này.
- Công nghệ là nhân tố trung tâm của cuộc cạnh tranh giữa các NHTM: Cạnh
tranh giữa các NHTM đòi hỏi và chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở
tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng, có tính quyết định đối
với hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Công nghệ đang làm thay đổi hàng ngày
phương thức hoạt động, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho các NHTM. Các NHTM
phải thấy được hai khả năng công nghệ có thể là nhân tố giúp ngân hàng sử dụng tạo
lợi thế cạnh tranh riêng, mặt khác có thể giúp các đối thủ vuợt trước, dẫn đến nguy cơ
tụt hậu cho ngân hàng mình, để có chiến lược phát triển cho mình.
- Các NHTM cạnh tranh nhau gay gắt nhưng có sự hợp tác với nhau: Sự dễ
thay đổi của khách hàng trong quan hệ giao dịch và đặc điểm dịch vụ ngân hàng có
tính tương đồng, tính xã hội hóa và tính nhạy cảm cao là nguyên nhân làm cho cạnh
tranh giữa các NHTM trở lên quyết liệt. Mặt khác thị trường dịch vụ ngân hàng rất đặc
biệt, không ngân hàng nào có thể hoạt động bình thường nếu không có sự liên kết bình
đẳng và minh bạch với các đối thủ. Các điều kiện về vốn, mạng lưới, công nghệ của
các ngân hàng đều có hạn trong khi nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày càng cao đòi
hỏi các NHTM phải liên kết với nhau trong quá trình tác nghiệp. Đây là sự liên kết tự
nhiên, có tính quy luật và có thể dự báo trước. Trong điều kiện hội nhập sự hợp tác
giữa các NHTM sẽ càng được mở rộng cả về quy mô và chất lượng.
- Cạnh tranh giữa các NHTM phải hướng tới thị trường lành mạnh, tránh rủi ro
hệ thống: Hành vi cạnh tranh của các NHTM có tính nguy hiểm cao vì uy tín và lợi
ích, hoạt động của mỗi ngân hàng có ảnh hưởng mang tính dây truyền đến hệ thống
các quyền lợi khác nhau trong xã hội: người gửi tiền, người vay tiền, các ngân hàng, tổ
chức tín dụng khác. Đây là mối lo thường trực của cơ quan công quyền có chức năng
quản lí cạnh tranh ở mọi quốc gia, vì thế Nhà nước và các NHTM luôn hợp tác với
nhau vì mục tiêu tạo an toàn hoạt động cho toàn hệ thống.
- Cạnh tranh giữa các NHTM phụ thuộc nhiều vào môi trường bên ngoài: Lĩnh
vực kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, mặt khác các ngân hàng hoạt động trong một
môi trường nhất định ở đó có các đặc điểm kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa, xã hội
riêng do đó trong cạnh tranh các NHTM sẽ chịu sự tác động từ các nhân tố trong môi
trường đó. Mỗi diễn biến thay đổi của các nhân tố này sẽ tác động nhanh chóng và
mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh và cạnh tranh của các ngân hàng.
- Các NHTM cạnh tranh trên cơ sở có sự can thiệp của ngân hàng Trung ương:
Trong thị trường dịch vụ ngân hàng, mặc dù Nhà nước khuyến khích sự cạnh tranh
nhưng vì mục tiêu giữ ổn định nền kinh tế và bảo vệ quyền lợi của công chúng, Nhà
nước có thể can thiệp vào quá trình cạnh tranh bằng việc thực thi những chính sách
đặc thù như chính sách tiền tệ hay chính sách kiểm soát đặc biệt. Sự can thiệp này có
thể khiến cho giới hạn cạnh tranh giữa các đối thủ trên thị trường dịch vụ ngân hàng có
phần bị thu hẹp, ảnh hưởng đến sự vận hành bình thường của quy luật cạnh tranh.
- Cạnh tranh giữa các NHTM chịu sự tác động của thị trường tài chính quốc tế:
Sự mở rộng quan hệ hợp tác và phạm vi hoạt động của các chủ thể kinh tế nói chung
và các NHTM nói riêng ra thị trường quốc tế làm cho hoạt động kinh doanh của các
NHTM chịu sự ảnh hưởng từ phía đối tác, đồng thời gắn chặt với các diễn biến về tỷ
giá, lãi suất của thị trường tài chính quốc tế. Các NHTM phải có các chính kinh
doanh và cạnh tranh thích ứng với những diễn biến của thị trường tài chính quốc tế.
1.2.1.3. Nội dung cạnh tranh của các NHTM
* Cạnh tranh về chất lượng dịch vụ: Ngày nay, chất lượng hàng hoá là nhân
tố quan trọng nhất trong quyết định tiêu dùng của khách hàng. Các doanh nghiệp muốn
đạt mục tiêu kinh doanh phải nỗ lực nâng cao chất lượng hàng hoá. Hàng hoá mà
NHTM cung cấp là các dịch vụ ngân hàng, nên nâng cao chất lượng dịch vụ là nội
dung chính các ngân hàng sử dụng để tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm dịch vụ.
Công nghệ phát triển các ngân hàng đều có cơ hội để nâng cao chất lượng dịch vụ, và
khách hàng có nhiều thông tin, hiểu biết về dịch vụ ngân hàng nên nâng cao chất lượng
dịch vụ là nhân tố quyết định hướng khách hàng quan tâm, sử dụng dịch vụ của ngân
hàng, tạo ưu thế cạnh tranh. Đây là phương thức cạnh tranh lành mạnh và an toàn nhất
cho các NHTM.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng do khách hàng sử dụng đánh giá chủ yếu trên các
mặt: sự đa dạng, các tiện ích đi kèm, tính nhanh chóng, chính xác, an toàn, tiện lợi của
dịch vụ, thái độ phục vụ…Có nghĩa là để nâng cao chất lượng dịch vụ, ngân hàng phải
thực hiện những công việc để tạo ra những dịch vụ có các tính chất trên tốt hơn so với
đối thủ, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần
quan tâm tới tính độc đáo, riêng biệt của dịch vụ ngân hàng. Điều này đòi hỏi ngân
hàng phải tạo dựng được cơ sở công nghệ ngân hàng tốt, đội ngũ nhân lực ưu tú, kết
hợp chiến lược thị trường và chiến lược kinh doanh phù hợp, đúng lúc.
* Cạnh tranh về giá cả: Giá cả dịch vụ ngân hàng chính là lãi suất huy động
vốn, lãi suất cho vay, phí dịch vụ ngân hàng. Yếu tố giá cả, nhất là lãi suất tác động
mạnh đến tâm lý tiêu dùng của khách hàng, hơn nữa đây là lĩnh vực rất nhạy cảm, sự
dịch chuyển nhỏ của giá cả có thể tác động lớn tới quyết định sử dụng dịch vụ của
khách hàng. Do đó cạnh tranh về giá cả là nội dung cạnh tranh có thể tăng cường rất
tốt khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong việc thu hút khách hàng.
Trong việc xác định mức lãi suất và phí các NHTM phải đối mặt với mâu
thuẫn: nếu ngân hàng quan tâm tới khả năng cạnh tranh để mở rộng thị phần, thì các
mức lãi suất và phí phải thấp so với mặt bằng trên thị trường, điều này có nghĩa là thu
nhập của ngân hàng sẽ thấp, thậm chí thua lỗ. Ngược lại nếu ngân hàng chú trọng đến
thu nhập thì phải đưa ra mức lãi suất và phí cao đáp ứng được mục tiêu tăng thu nhập,
điều này lại dẫn đến mức giá cả không cạnh tranh. Trong khi đó mục tiêu của mọi tổ
chức kinh tế trong kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, để đạt được điều đó cần tối thiểu
hoá chi phí và tối đa hóa thu nhập. Như vậy cạnh tranh về giá cả có nhiều hạn chế, vì
nó làm giảm bớt thu nhập của các ngân hàng.
* Cạnh tranh phát triển hệ thống phân phối: Nội dung cạnh tranh này là
việc các ngân hàng đẩy mạnh phát triển hệ thống kênh phân phối và các cách để tiếp
cận, thu hút khách hàng, bao gồm:
- Phát triển kênh phân phối truyền thống: mở rộng hệ thống các chi nhánh, đại
lý, tăng cường hợp tác với ngân hàng, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
- Phát triển kênh phân phối hiện đại: ATM, Home banking, Internet banking, E
Banking…các kênh phân phối hiện đại với ưu thế chi phí giao dịch thấp, tốc độ thực
hiện nhanh, đang dần trở thành xu hướng chung trong kinh doanh ngân hàng.
- Đẩy mạnh các hoạt động quảng cáo, giới thiệu, cung cấp thông tin về sản
phẩm ngân hàng đến với khách hàng. Thiết lập các kênh thông tin giúp khách hàng
tiếp cận và tìm hiểu về sản phẩm dịch vụ tài chính dễ dàng hơn.
Dịch vụ ngân hàng có đặc tính nhanh bão hoà, không thể lưu trữ nên việc xây
dựng các kênh phân phối rất quan trọng trong kinh doanh ở các NHTM, để nhanh
chóng tiếp cận, đưa dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng, giúp nắm bắt kịp thời
nhu cầu và phản ứng của khách hàng, nhằm chủ động hoàn thiện sản phẩm dịch vụ.
* Cạnh tranh về loại hình dịch vụ ngân hàng: Đa dạng hoá dịch vụ tạo ra
nhiều lựa chọn, thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàng. Qua đó tạo cho ngân hàng lợi
thế cạnh tranh. Ngày nay kinh tế, xã hội phát triển nhu cầu dịch vụ ngân hàng gia tăng
nhanh chóng và thường xuyên thay đổi, đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng là nội dung
cạnh tranh bắt buộc các ngân hàng phải quan tâm.
* Cạnh tranh về công nghệ ngân hàng: Đây là nội dung cạnh tranh vô cùng
quan trọng, quyết định tính thành bại trong kinh doanh của một ngân hàng. Công nghệ
làm tăng năng suất lao động, giảm thiểu chi phí hoạt động cho ngân hàng, mặt khác
nâng cao chất lượng, tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ đa năng cung cấp cho khách hàng.
Vì thế các ngân hàng rất quan tâm đến vấn đề công nghệ của bản thân và đối thủ để có
chiến lược đầu tư phát triển hợp lý.
* Cạnh tranh về uy tín, thương hiệu: Các NHTM luôn cạnh tranh nhau về uy
tín, thương hiệu vì giữ được chữ tín, tạo dựng được lòng tin, thương hiệu mạnh trong
kinh doanh ngân hàng là những lợi thế rất lớn để giữ khách hàng cũ, thu hút khách
hàng mới, nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
1.2.2. Năng lực cạnh tranh của NHTM
Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và
phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao
hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động an toàn
và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi
trường kinh doanh.
Trong cạnh tranh những lợi thế NHTM đang có có thể thay đổi khi các đối thủ
không ngừng nỗ lực đổi mới, cải tiến để giành lợi thế cạnh tranh về phía mình. Do vậy
năng lực cạnh tranh của NHTM là một khái niệm động, bao gồm cả việc ngân hàng
phải liên tục duy trì và phát triển năng lực cạnh tranh.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM là nâng cao sức mạnh và lợi thế của
ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách
hàng để thu lợi ngày càng cao.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhằm mục đích tạo ra các dịch vụ
ngân hàng đa năng với giá cả cạnh tranh để thu hút khách hàng, chiếm lĩnh thị trường
nhưng vẫn đảm bảo an toàn kinh doanh và đạt tỷ suất lợi nhuận cao. Đây là việc làm
thường xuyên của các NHTM để giành thế chủ động trong cạnh tranh, được coi là điều
kiện sống còn của các ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt của
ngành ngân hàng hiện nay.
1.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
1.2.3.1. Năng lực tài chính
Năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng
vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đây là thước đo
sức mạnh của NHTM tại một thời điểm nhất định, đồng thời phản ánh tiềm năng, triển
vọng phát triển trong tương lai của ngân hàng, gồm các chỉ tiêu sau:
* Quy mô vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung và
các tài sản khác. Quy mô vốn chủ sở hữu có thể thay đổi trong quá trình hoạt động của
NHTM.
Hoạt động ngân hàng gặp rất nhiều rủi ro do chịu tác động lớn từ môi trường
kinh tế và đối tượng khách hàng đa dạng, vốn chủ sở hữu là nguồn tài chính quan
trọng hàng đầu để chống đỡ các rủi ro. Đây là nguồn vốn quan trọng dùng để đánh giá
năng lực tài chính của ngân hàng vì nó cung cấp tài chính cho các hoạt động kinh
doanh của NHTM, quyết định sức mạnh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong
tất cả các hoạt động.
- Đối với hoạt động huy động vốn: vốn tự có lớn tạo niềm tin cho khách hàng
do có chức năng bảo vệ người gửi tiền nên được khách hàng lấy làm căn cứ khi lựa
chọn ngân hàng để gửi tiền, chỉ tiêu này càng lớn càng thu hút khách hàng gửi tiền.
- Đối với hoạt động cho vay và đầu tư: Quy mô vốn cho vay và đầu tư bị giới
hạn bởi các tỷ lệ về giới hạn tín dụng trong mối tương quan với vốn tự có, do đó vốn
tự có càng lớn, càng tăng khả năng cho vay của ngân hàng đối với nhiều đối tuợng
khách hàng và nhiều khách hàng lớn, đồng thời nó là cơ sở để khách hàng tin tưởng
vào năng lực cho vay và giải ngân của ngân hàng. Ngân hàng còn có thể đạt mức lãi
suất cho vay hợp lý, cạnh tranh nhờ vào lợi thế quy mô.
- Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng
khác: vốn chủ sở hữu là nguồn đầu tư công nghệ, trang thiết bị máy móc để phát triển
dịch vụ mới và tăng năng suất, tính nhanh chóng, hiệu quả, an toàn tiện cho các dịch
vụ ngân hang hiện tại tăng cường tính cạnh tranh của ngân hàng.
Mặt khác, vốn chủ sở hữu quyết định việc mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động
của ngân hàng. Vốn tự có còn được dùng xác định quy mô huy động vốn, các tỷ lệ giới
hạn tín dụng đối với khách hàng, các tỷ lệ về an toàn hoạt động để làm căn cứ quản lý
và kiểm soát hoạt động của các NHTM. Ở Việt Nam, các tỷ lệ này được quy định
trong luật ngân hàng sẽ được đề cập trong những phần sau. Trong xu thế hội nhập,
nâng cao tính cạnh tranh của vốn tự có là yêu cầu khách quan đối với mỗi NHTM để
đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng và mở rộng hoạt động ra
thị trường tài chính quốc tế.
* Chất lượng tài sản
Chất lượng tài sản nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh
lời và năng lực quản lý của NHTM, và được đánh giá bằng các chỉ tiêu sau:
Tổng tài sản sinh lời
- Tỷ lệ tài sản sinh lời trên tổng tài sản = 
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này nói hiệu quả sử dụng nguồn vốn vào các tài sản có sinh lời. Nhìn
chung tỷ lệ này càng lớn càng tốt, ngân hàng càng có thể có được nhiều nguồn thu, tuy
nhiên vì nó còn liên quan đến các rủi ro nên tỷ lệ này như thế nào là hợp lý nhất còn
phụ thuộc vào thực tế năng lực của mỗi ngân hàng.
- Tài sản của ngân hàng được thể hiện ở bên trái của bảng cân đối kế toán,
trong đó phần lớn tài sản tập trung ở khoản mục cho vay và đầu tư. Đây là phần tài sản
mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, đồng thời là tài sản có tính rủi ro cao
nhất. Vì vậy đánh giá chất lượng tài sản chủ yếu tập trung vào chất lượng của loại tài
sản này, chính là chất lượng hoạt động tín dụng, thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Nợ quá hạn
+ Tỷ trọng nợ quá hạn = ———————
trên tổng dư nợ Tổng dư nợ
Theo quy định hiện nay của ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nếu tỷ lệ nợ quá
hạn trên tổng dư nợ của một ngân hàng lớn hơn 5% thì ngân hàng đó được xem là có
chất lượng tín dụng kém.
Nợ quá hạn
+ Tỷ trọng nợ quá hạn = ————————
trên vốn chủ Vốn chủ sở hữu
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
+ Tỷ trọng nợ quá hạn không = ————————————————
có khả năng thu hồi Tổng nợ quá hạn
Ba chỉ số trên ở mức càng thấp càng tốt, phản ánh tình trạng hoạt động tín dụng
của ngân hàng tốt: nợ quá hạn, nợ không có khả năng thu hồi ở mức thấp cho thấy quy
trình cấp tín dụng và kiểm soát tín dụng của ngân hàng hiệu quả.
Ngoài ra còn có các chỉ tiêu: tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo, mức trích lập dự
phòng, mức độ tập trung và đa dạng hoá danh mục tín dụng. Ngược lại các chỉ tiêu
trên, những chỉ tiêu này càng cao càng tốt vì chúng đảm bảo cho việc cấp và thu hồi
các khoản vay của ngân hàng.
* Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh và khả năng phát
triển của NHTM, qua đó phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
vì nó cho thấy năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng so với các đối thủ. Để
đánh giá khả năng sinh lời của NHTM người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Quy mô lợi nhuận sau thuế: là giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế của
ngân hàng trong một thời gian nhất định, thường là một quý, năm. Chỉ tiêu này càng
lớn càng tốt.
+ Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận: là chỉ tiêu cho biết tốc độ tăng trưởng lợi
nhuận của kỳ này so với kỳ trước. Tốc độ này càng cao càng tốt, chứng tỏ ngân hàng
hoạt động ngày càng hiệu quả.
+ Cơ cấu thu nhập: Cho biết thu nhập được hình thành từ nguồn nào, từ hoạt
động kinh doanh thông thường hay từ các khoản bất thường. Cơ cấu thu nhập trong đó
có tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động chính của ngân hàng lớn là cơ cấu tốt, phản ánh
tính ổn định của nguồn thu nhập và tính hiệu quả trong hoạt động.
+ Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản: ROA (Return on Assets): Tỷ lệ này cho biết
một đồng tài sản của ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập.
Lợi nhuận ròng sau thuế
ROA = ——————————— x 100%
Tổng tài sản có bình quân
ROA thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản của NHTM và là thông số chủ
yếu về tính hiệu quả của công tác quản lý, cho thấy khả năng của hội đồng quản trị
trong quá trình chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Do đó ROA
càng lớn càng tốt.
+ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – ROE (Return on Equity): Là thước đo
hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, hay nói cách khác nó thể hiện thu nhập mà các cổ
đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng.
Lợi nhuận ròng sau thuế
ROE = ———————————— x 100
Vốn chủ sở hữu và các quỹ
Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời phán ánh năng lực cạnh tranh của NHTM vì
có năng lực cạnh tranh tốt ngân hàng mới giành được thắng lợi, tạo ra mức sinh lời
cao. Mặt khác NHTM có mức sinh lời cao có điều kiện tăng quy mô lợi nhuận giữ lại,
làm gia tăng vốn tự có để mở rộng mạng lưới giao dịch, nâng cấp công nghệ, phát triển
các hoạt động để duy trì và tăng cường khả năng cạnh tranh. Khả năng sinh lời cao
cũng là yếu tố để khách hàng tin tưởng và gửi tiền vào ngân hàng, tạo ra lợi thế cạnh
tranh cho ngân hàng trong những kỳ hoạt động tiếp theo.
Ngoài ra thu nhập của ngân hàng xuất phát từ hai nguồn chủ yếu là thu nhập từ
lãi và thu nhập ngoài lãi nên có thể tính các chỉ tiêu về mức sinh lợi trong mối tương
quan với chi phí. Với thu nhập từ lãi, có thể đo lường bằng các chỉ tiêu:
Thu nhập ròng từ lãi
+ Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên- NIM: NIM = ———————————
Tổng tài sản sinh lời
Đây là chỉ tiêu đo lường thu nhập lãi ròng trên một đồng tổng tài sản sinh lời,
phản ánh năng lực của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và cán bộ, nhân viên ngân hàng
trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng chi phí. Do đó

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét