Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

phân tích lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế

Trang 26
bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác. Trong trao đổi phải có một bên
thua để bên kia đợc.
Mặc dù còn hạn chế về tính lý luận nhng hệ thống quan điểm học thuyết
kinh tế Trọng thơng đã taọ ra những tiền đề lý luận kinh tế xã hội cho các lý
luận kinh tế thị trờng sau này phát triển. Điều này thể hiện ở chỗ họ đa ra
quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, là tiền. Mục
đích hoạt động của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng là lợi nhuận. Marx chỉ
ra rằng chủ nghĩa Trọng thơng thế kỷ XVI-XVII đã đi theo cái hình thái
chói lọi của giá trị trao đổi và đứng trên lĩnh vực thô sơ của lu thông hàng
hoá để xem xét nền sản xuất t bản chủ nghĩa .
II-/ lý luận của chủ nghĩa Trọng nông:
Cũng nh chủ nghĩa Trọng thơng, chủ nghĩa Trọng nông xuất hiện trong
khuôn khổ thời kỳ quá độ phong kiến sang chế độ t bản chủ nghĩa, nhng ở giai
đoạn phát triển kinh tế trởng thành hơn. Vào giữa thế kỷ XVIII Tây Âu đã
phát triển theo con đờng t bản chủ nghĩa và ở nớc Anh, cuộc cách mạng công
nghiệp đã bắt đầu. ở nớc Pháp chủ nghĩa t bản công trờng thủ công đã bén rễ
ăn sâu một cách vững chắc. Điều đó đòi hỏi xét lại học thuyết của chủ nghĩa
Trọng thơng đã trở thành cấp thiết. Thời kỳ tích luỹ ban đầu đã chấm dứt và
việc dùng thơng mại để bóc lột các nớc thuộc địa đã mất hết ý nghĩa đặc biệt
của nó với t cách là nguồn làm giàu cho giai cấp t sản.
Những ngời theo chủ nghĩa Trọng nông mà đại diện tiêu biểu là Keynes
cho rằng, xã hội loài ngời phát triển theo những quy luật tự nhiên. Theo họ,
nguồn gốc duy nhất của của cải là tự nhiên, là nông nghiệp vì nông nghiệp
đem lại cho con ngời những kết quả của tự nhiên.
Những ngời Trọng nông cho rằng, lợi nhuận thơng nghiệp có đợc chẳng
qua là nhờ tiết kiệm các khoản chi phí thơng mại. Vì theo họ thơng mại chỉ
đơn thuần là việc đổi những giá trị này lấy những giá trị khác ngang nh thế
và trong quá trình trao đổi đó, nếu xét nó dới hình thái thuần tuý thì cả ngời
mua, lẫn ngời bán chẳng có gì để mất hay đợc cả. Thơng nghiệp không sinh ra
Trang 26
của cải. Trao đổi không sản xuất ra đợc gì cả . Trao đổi không làm cho tài
sản tăng lên, vì tài sản đợc tạo ra trong sản xuất, còn trong trao đổi thì chỉ có
sự trao đổi giá trị sử dụng này lấy giá trị sử dụng khác mà thôi. K.Marx trong
khi phê phán chủ nghĩa Trọng thơng cũng viết: Ng ời ta trao đổi những hàng
hoá với hàng hoá hay những hàng hoá với tiền tệ có cùng giá trị với hàng
hoá đó, tức là trao đổi những vật ngang giá, rõ ràng là không ai rút ra đợc
từ trong lu thông ra nhiều giá trị hơn số giá trị đã bỏ vào trong đó. Vậy giá
trị thặng d tuyệt nhiên không thể hình thành ra đợc . (TB.Q1.T1). Điều này
chứng tỏ sự trởng thành của các quan điểm kinh tế của phái trọng nông.
K.Marx nhận xét: Phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu nguồn
gốc của giá trị thặng d từ lĩnh vực lu thông vào lĩnh vực sản xuất trực tiếp,
và do đó đã đặt cơ sở cho việc phân tích nền sản xuất T bản chủ nhĩa (T
bản Q4).
Chủ nghĩa Trọng nông đa ra học thuyết rất cơ bản, đóng vai trò trung tâm
trong hệ thống lý luận chủ nghĩa t bản - Đó là học thuyết về sản phẩm ròng
(sản phẩm thuần tuý). Những ngời Trọng nông cho rằng sản phẩm thuần tuý
chỉ đợc tạo ra trong nông nghiệp. F.Quesnay cho rằng của cải là vật chất, tức
giá trị sử dụng. Ông nghiên cứu nền sản xuất xã hội từ mức chênh lêch giữa
đầu vào và đầu ra của giá trị sử dụng trong quá trình sản xuất; ngành công
nghiệp không có thể làm tăng thêm số lợng của giá trị sử dụng mà chỉ có thể
làm thay đổi hình thái của giá trị sử dụng, còn thơng nghiệp thì không thể làm
thay đổi ngay cả đến hình thái của giá trị sử dụng. Ông kết luận, nông nghiệp
là ngành kinh tế sản xuất duy nhất, còn công nghiệp thì chỉ có tiêu dùng chứ
hoàn toàn không có sản xuất. Công nghiệp chẳng qua là chế biến lại nguyên
liệu của nông nghiệp. Trong công nghệp ngời ta không tạo ra chất mới, chỉ là
sự kết hợp nhiều nguyên tố của các chất khác nhau đã tồn tại từ trớc. Trong
nông nghiệp không có sự kết hợp mà chỉ có sự tăng thêm về chất, tạo ra sản
phẩm thuần tuý mới.
F.Quesnay tuyên bố: Chỉ có của cải dân c ở nông thôn mới để ra của
cải quốc gia , nông dân nghèo thì xứ sở nghèo .
Trang 26
Nh vậy, chủ nghĩa Trọng nông đã giải thích nguồn gốc của sản phẩm
thuần tuý theo tinh thần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ nh đất đai là nguồn gốc
của sản phẩm thuần tuý. Trong học thuyết này, họ đã coi sản phẩm thuần tuý
là sản phẩm lao động của ngời công nhân làm thuê, bộ phận này đã biến thành
nguồn thu nhập của giai cấp t sản và địa chủ.
Tuy nhiên, phái Trọng nông đã tầm thờng hoá khái niệm của cải, không
thấy tính hai mặt của nó (hiện vật và giá trị). Ai cũng biết rằng việc làm tăng
thêm giá trị của vật phẩm thờng kèm theo việc làm giảm khối lợng thực thể
chứa đựng trong các vật phẩm đó. Giá trị và khối lợng của vật phẩm có thể
thay đổi theo chiều hớng hoàn toàn ngợc nhau.
III-/ Các lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học
thuyết kinh tế chính trị t sản cổ điển Anh:
Chủ nghĩa Trọng thơng đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế
kỷ XVII, trớc hết là Anh, một nớc phát triển nhất về mặt kinh tế. Tiền đề của
việc đó đợc tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trờng thủ công ở Anh,
đặc biệt là trong nhành dệt, sau đó là công nghiệp khai thác. Giai cấp t sản đã
nhận thức đợc rằng: muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm
thuê của những ngời nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những ngời
giàu .
Tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học của cuối thế kỷ XVII đã
chứng tỏ thời kỳ tích luỹ ban đầu của t bản đã kết thúc và thời kỳ sản xuất t
bản chủ nghĩa bắt đầu. Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thơng trở
nên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và
phát triển của sản xuất t bản chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ
điển Anh ra đời.
Theo Marx, kinh tế chính trị học cổ điển Anh bắt đầu từ William Petty và
kết thúc ở David Ricacdo.
Trang 26
1-/ William Petty Ng ời đầu tiên đa ra nguyên lý lao động quyết định
giá trị trong kinh tế chính trị học t sản:
William Petty (1623-1687) là một trong những ngời sáng lập ra học
thuyết kinh tế cổ điển ở Anh. Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, có
trinh độ tiến sĩ vật lý, là nhạc trởng, là ngời phát minh ra máy chữ. Ông là ng-
ời áp dụng phơng pháp mới trong nghiên cứu khoa học, đợc gọi là phơng pháp
khoa học tự nhiên.
Trong tác phẩm Bàn về thuế khoá và lệ phí, 1662 W.Petty nghiên cứu
về giá cả, chia giá cả thành hai loại: Giá cả tự nhiên và giá cả chính trị. Theo
ông giá cả chính trị (giá cả thị trờng) phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên,
nó thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung cầu hàng hoá trên
thị trờng, do đó khó xác định; Còn giá cả tự nhiên (tức giá trị) là do thời gian
lao động hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hởng đến mức hao
phí đó. Nh vậy, Petty là ngời đầu tiên đã tìm thấy cơ sở giá cả tự nhiên là lao
động, thấy đợc quan hệ giữa lợng giá trị và năng suất lao động. Ông kết luận
rằng: số lợng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị
hàng hoá. Giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai
thác vàng và bạc. Ông có ý định đặt vấn đề lao động phức tạp và lao động giản
đơn nhng không thành.
Nh vậy, W.Petty chính là ngời đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý
thuyết giá trị lao động. Tuy lý thuyết giá trị - lao động của ông còn có những
hạn chế cha phân biệt đợc các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả. Ông
tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ông
mới chú ý nghiên cứu về mặt lợng. Ông nhận thức đợc rằng giá trị của tiền tệ
cũng là do lợng lao động quyết định, từ đó khắc phục đợc các kiến giải không
những không thể trừu tợng hoá đợc giá trị từ giá trị trao đổi, mà còn không
trừu tợng hoá đợc giá trị trao đổi từ giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị,
mà ông đã lẫn lộn hai cái đó. Ông cũng chia lao động ra làm hai loại: một loại
lao động sản xuất ra vàng và bạc, một loại khác là lao động sản xuất ra những
hàng hoá bình thờng. Ông cho rằng chỉ có lao động khai thác vàng và bạc mới
Trang 26
có giá trị trao đổi, còn các lao động khác thì chỉ khi trao đổi hàng và tiền mới
này sinh giá trị trao đổi. Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánh giá
trị tiền tệ cũng nh ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời
vậy. Đó là ảnh hởng t tởng chủ nghĩa Trọng thơng rất nặng ở ông.
Petty đã lẫn lộn lao động với t cách là nguồn gốc của giá trị với lao động
với t cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao
động trừu tợng với lao động cụ thể. Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai
đơn vị lao động và đất đai. Ông nêu ra câu nói nổi tiếng: Lao động là cha,
còn đất là mẹ của của cải . Về phơng diện của cải nói nh vậy là đúng, chỉ rõ
nguồn gốc giá trị sử dụng. Nhng cái mà ông muốn nói đến là giá trị, ông nói:
việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuất phát từ hai yếu tố tự
nhiên, tức là đất đai và lao động. Nói nh vậy ông đã đi ngợc lại kết luận đúng
đắn của chính mình là giá trị đợc quyết định bởi thời gian lao động hao phí
trong quá trình sản xuất hàng hoá.
2-/ Adam Smith Ng ời đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý
luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thờng còn tồn tại trong lý luận
của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh
và trên thế giới. Ông là nhà t tởng tiên tiến của giai cấp t sản, ông muốn thủ
tiêu tàn tích phong kiến, mở đờng cho chủ nghĩa t bản phát triển, kêu gọi tích
luỹ và phát triển lực lợng sản xuất theo ý nghĩa t bản, xem chế độ t bản chủ
nghĩa là hợp lý duy nhất. Marx coi A.Smith là nhà kinh tế học tổng hợp của
công trờng thủ công.
A.Smith đã phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng với giá trị trao đổi. Ông nói:
Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng nh là
một vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật
nào đó mà có đợc đối với vật khác. Cái trớc gọi là giá trị sử dụng, và cái sau
gọi là giá trị trao đổi . Ông còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng
và giá trị trao đổi. Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn thờng có giá trị trao đổi
cực nhỏ, thậm chí còn không có. Ví dụ: Không có gì hữu ích bằng n ớc, nhng
Trang 26
với nó thì không thể mua đợc gì. Ngợc lại, những thứ có giá trị trao đổi rất
lớn, thờng có giá trị sử dụng cực nhỏ, thậm chí không có. Việc phân biệt rõ
ràng hai khái niệm giá trị sử dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích
rõ là giá trị trao đổi lớn hay nhỏ không liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là
công lao của A.Smith. Nhng ông cho rằng những thứ không có giá trị sử dụng
có thể có giá trị trao đổi thì lại sai lầm.
Theo A.Smith giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị trao đổi là
do hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá quyết định. Đó là khái niệm đúng
đắn về giá trị. Lao động là thớc đo thật sự để xác định giá trị trao đổi của mọi
thứ hàng hoá. Việc xác nhận lao động quyết định giá trị hàng hoá là công lao
và thành tích khoa học của ông. Nhng ông không hiểu đợc tính chất xã hội của
loại lao động này. Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêm xem lao động gì quyết định
giá trị của hàng hoá , lao động xác định giá trị hàng hoá nh thế nào thì ông rơi
vào hỗn loạn. Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá trị hàng hoá là
lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá. Lợng giá trị của hàng hoá tỷ lệ
thuận với lợng thời gian lao động hao phí trong sản xuất. Đồng thời ông còn
nghiên cứu sự phân biệt giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, ông cho
rằng trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra giá trị nhiều hơn là lao
động đơn giản. Nhng đồng thời ông lại cho rằng giá trị một hàng hóa bằng số
lợng lao động mà ngời ta có thể mua đợc nhờ hàng hoá đó. Đây là điều luẩn
quẩn và sai lầm của A.Smith, dùng giá trị quyết định giá trị. Ông đã lẫn lộn
vấn đề giá trị đã đợc quyết định nh thế nào trong sản xuất và giá trị đã biểu
hiện nh thế nào trong trao đổi.
Về cấu thành giá trị của hàng hoá. Theo A.Smith trong sản xuất t bản
chủ nghĩa, tiền lơng, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu
nhập, cũng nh mọi giá trị trao đổi. A.Smith coi tiền lơng, lợi nhuận và địa tô là
ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn. Song ông
lại tầm thờng ở chỗ coi các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá
trị trao đổi. Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị,
giá trị của hàng hoá với giá trị mới sáng tạo ra của lao động; Hơn nữa, ông
cũng đã xem thờng t bản bất biến, coi giá trị hàng hoá chỉ có (V+m).
Trang 26
A.Smith nghiên cứu quy luật giá trị và tác dụng của nó. Ông đã phân biệt
giá cả tự nhiên với giá cả thị trờng. Ông khẳng định hàng hoá đợc bán theo giá
cả tự nhiên, nếu giá cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lơng, lợi
nhuận và địa tô. Theo ông, giá cả tự nhiên là trung tâm. Giá cả thị trờng là giá
bán thực tế của hàng hoá, giá cả này nhất trí với giá cả tự nhiên khi hàng hoá
đợc đa ra thị trờng với số lợng đủ thoả mãn lợng cầu thực tế. Nhng do sự
biến động của cung cầu là cho giá cả thị trờng chênh lệch với giá cả tự nhiên.
Bản thân giá cả tự nhiên cũng thay đổi cùng với tỷ suất tự nhiên của mỗi bộ
phận cấu thành nó. Ông đã nhận thấy giá cả trong chủ nghĩa t bản đợc đặt ra
khác với trớc đây. Nhng ông không thấy đợc trong chủ nghĩa t bản quá trình
thực hiện giá trị gắn liền với việc phân phối lại giá trị dới hình thái lợi nhuận,
địa tô và lợi tức. Ông đã vấp vào vấn đề giá cả sản xuất. Có thể thấy rằng,
không những ông coi giá cả dao động xung quanh giá trị là một hiện tợng có
tính quy luật, mà còn chứng minh rã tác dụng điều tiết của quy luật giá trị đối
với sản xuất hàng hoá. Nhng do chỗ không hiểu đợc mối liên hệ nối tại giữa
giá trị và giá cả, ông không giải thích đợc sự xa rời giá cả khỏi giá trị chính là
hình thức tác động của quy luật giá trị.
Công lao chủ yếu của A.Smith về lý luận giá trị là đã phân biệt đợc giá
trị sử dụng và giá trị trao đổi, hơn nữa, ông đã cho rằng lao động là th ớc đo
thực tế của giá trị. Nhng do hạn chế về lập trờng, quan điểm và phơng pháp
nên lý luận giá trị của ông vừa có yếu tố khoa học lại vừa có yếu tố tầm thờng.
3-/ Lý luận về giá trị lao động của David Ricacdo đã đạt tới đỉnh cao
của kinh tế chính trị học cổ điển của giai cấp t sản:
David Ricacdo (1772-1823) sinh trong một gia đình giàu có làm nghề
chứng khoán, một nhà t bản có địa vị trong số các gia đình giàu có ở châu Âu.
Ông hoạt động trong thời kỳ cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành; Ph-
ơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa đã xác lập địa vị thống trị hoàn toàn và phát
triển trên cơ sở chính nó, với hai giai cấp cơ bản: giai cấp t sản và giai cấp vô
sản đối lập nhau. Mâu thuẫn giữa hai giai cấp bọc lộ rõ ràng hơn. Ông cũng
nhìn nhận đợc mâu thuẫn giai cấp trong xã hội t bản chủ nghĩa, ông đã vạch ra
Trang 26
đợc những cơ sở kinh tế của các mâu thuẫn đó. Ông công khai bảo vệ lợi ích
cho giai cấp t sản công nghiệp với ý thức để thúc đẩy sự phát triển của nớc
Anh. T tởng kinh tế của ông có nhiều điểm tiến bộ, vì nó hình thành trong thời
kỳ giai cấp t sản đang lên (giai cấp tiến bộ chống lại chế độ phong kiến, cha lộ
rõ mặt phản động của nó), còn giai cấp vô sản cha đủ mạnh, và sự giác ngộ về
sứ mệnh lịch sử của mình cha đầy đủ.
Lý luận giá trị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan điểm của
Ricacdo. Ông định nghĩa giá trị hàng hoá nh sau: Giá trị của hàng hoá hay
số lợng của một hàng hoá nào khác mà hàng hoá đó trao đổi, là do số lợng
lao động tơng đối, cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, chứ
không phải do khoản thởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định .
Cũng nh A.Smith, Ricacdo đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá là
giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Ông bác bỏ lý luận giá trị sử dụng quyết
định giá trị hàng hoá, ông đã chứng minh rằng các nhân tố tự nhiên giúp con
ngời tạo nên giá trị sử dụng, nhng không thêm một phân tử gì vào giá trị hàng
hoá cả. Ông có ý kiến kiệt xuất rằng: Tính hữu ích không phải là thớc đo giá
trị trao đổi, mặc dù hàng hoá rất cần thiết giá trị này . Giá trị khác xa với
của cải, giá trị không phụ thuộc vào việc có nhiều hay ít của cải, mà tuỳ
thuộc vào điều kiện sản xuất khó khăn hay thuận lợi . Theo ông sở dĩ có
nhiều lầm lẫn trong khoa học kinh tế chính trị là do ngời ta coi sự tăng của
cải và tăng giá trị là một, là do ngời ta quên rằng thớc đo giá trị cha phải là
thớc đo của cải vì của cải không phụ thuộc vào giá trị. Theo ông giá trị trao
đổi hàng hoá đợc quy định bởi lợng lao động chứa đựng trong hàng hoá, lợng
lao động đó tỷ lệ thuận với lao động tạo ra hàng hoá. Tính hữu ích không
tăng cùng nhịp độ với tăng giá trị , tính hữu ích là cần thiết vì vật không có
ích, nó không có đợc giá trị trao đổi .
Ricacdo cho rằng hàng hoá hữu ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do hai
nguyên nhân:
- Tính chất khan hiếm.
Trang 26
- Lợng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng.
Nh vậy là ông đã nhận thức đợc giá trị trao đổi đợc quyết định bởi lợng
lao động đồng nhất của con ngời, chứ không phải là lợng lao động hao phí cá
biệt. Về điểm này ông là ngời đầu tiên đã phân biệt đợc lao động cá biệt và lao
động xã hội. Nhng lầm lẫn của ông là cho rằng giá trị hàng hoá đợc điều tiết
bởi lợng lao động lớn nhất hao phí trong những điều kiện xấu (Về điểm này
thì Marx xác định trong điều kiện trung bình).
Ricacdo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trờng. Ông cho rằng,
không một hàng hoá nào mà giá cả không bị ảnh hởng của biến động ngẫn
nhiên hay tạm thời. Nhng nguyện vọng của các nhà t bản luôn có xu hớng
muốn rút số vốn của mình ra khỏi một công việc kinh doanh ít lãi và đầu t vào
một công việc kinh doanh có lãi hơn, nguyện vọng đó không cho phép giá cả
thị trờng của các hàng hoá dừng lâu ở một mức nào đó cao hơn nhiều hay thấp
hơn nhiều so với giá cả tự nhiên của chúng.
Đề cập vấn đề tăng giá cả, Ricacdo viết rằng, việc tăng giá cả lên có thể
là một nhân tố điều tiết một lợng cung không đủ so với một lợng cầu đang
phát triển, điều tiết việc tiền tệ sụt giá, việc đánh thuế vào những vật phẩm
thiết yếu, ông đã cố gắng tìm hiểu sự vận động của giá cả. Theo ông giá cả
không phải do cung cầu quyết định, quyết định mức giá ở trong tay những ng-
ời sản xuất, cung cầu chỉ ảnh hởng đến giá cả. Ông viết: Cái có tính chất
điều tiết giá trị là hao phí lao động sản xuất, không phải quan hệ cung cầu
và tâm trạng ngời mua . Ông viết rõ hơn chỉ khi nào không có cạnh tranh thì
tỷ lệ trao đổi có thể do nhu cầu của ng ời ta và do sự đánh giá tơng đối của
ngời ta đối với hàng hoá quyết định. Còn trong điều kiện cạnh tranh thì giá
cả rốt cuộc sẽ do cạnh tranh giữa những ng ời bán điều tiết .
Ricacdo chứng minh một cách tài tình rằng, giá trị hàng hoá giảm khi
năng suất lao động tăng lên Dự đoán thiên tài của Petty đợc ông luận
chứng. Ông gạt bỏ sai lầm của A.Smith cho rằng lao động trong nông nghiệp
có năng suất cao hơn và cho rằng sự tăng lên của của caỉ đi kèm với giá trị của
nó giảm.
Trang 26
Ricacdo đã trình bày lý luận giá trị của mình từ việc phê phán A.Smith.
Ông đã gạt bỏ tính không triệt để, không nhất quán về cách xác định giá trị
của A.Smith: Giá trị = Lao động mua đợc. Ricacdo kiên định với quan điểm:
lao động là nguồn gốc của giá trị, công lao to lớn của ông là đã đứng trên
quan điểm đó để xây dựng lý luận khoa học của mình. Đồng thời ông cũng
phê phán A.Smith cho rằng giá trị là do các nguồn gốc thu nhập hợp thành.
Theo ông giá trị hàng hoá không phải do các nguồn gốc thu nhập hợp thành,
mà ngợc lại đợc phân thành các nguồn thu nhập.
Về cơ cấu giá trị hàng hoá, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo điều
của A.Smith bỏ C ra ngoài giá trị hàng hoá. Ricacdo cho rằng: giá trị hàng hoá
không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra, mà còn là lao động cần thiết trớc đó
nữa nh máy móc, nhà xởng Tức ông chỉ biết có C1, chỉ có đến Marx mới
hoàn chỉnh đợc công thức giá trị hàng hoá = C+V+m.
Mặt hạn chế trong lý luận giá trị của Ricacdo là ở chỗ ông cha vợt qua đ-
ợc các cửa ải là không nhận đợc tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá.
Mặc dù ông và A.Smith biết rằng lao động tạo ra giá trị là một thứ lao động
không kể hình thái của nó.
Khác với A.Smith, Ricacdo cho rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong
chủ nghĩa t bản - đây là quan điểm đúng đắn của ông; Tuy nhiên, hoạt động
nh thế nào thì ông không chứng minh đợc vì ông không thể giải quyết đợc vấn
đề giá cả sản xuất, ông đã đồng nhất hoá giá trị và giá cả sản xuất. Ông cũng
cha hiểu đợc giá trị trao đổi là hình thức của giá trị. Ricacdo nói riêng và các
nhà kinh tế học t sản nói chung chỉ chú ý phân tích mặt lợng giá trị, ít chú ý
đến mặt chất và hoàn toàn không phân tích hình thái giá trị. Đây là một trong
những nhợc điểm chủ yếu của kinh tế chính trị cổ điển t sản, khuyết điểm này
là do thiếu quan điểm lịch sử, xem xét các hàng hoá, tiền tệ, t bản là hình thái
tự nhiên vĩnh viễn.
Tóm lại, Ricacdo đã đứng vững trên cơ sở lý luận giá trị lao động. Marx
đánh giá Nếu A.Smith đã đ a khoa học kinh tế chính trị vào hệ thống, thì
Ricacdo đã kết cấu toàn bộ khoa học kinh tế chính trị bằng một nguyên lý

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét