Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Đầu tư nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam


CHƯƠNG MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.
Tỉnh Bình Dương với dân số trên 976 ngàn người nằm ở miền Đông Nam Bộ. Trên 13 năm
trước đây, tỉnh chủ yếu phát triển về nông nghiệp, thì nay với cơ cấu công nghiệp và dòch vụ
chiếm đến 88%GDP, Bình Dương trở thành một trong những tỉnh phát triển năng động nhất ở
Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (thời kỳ 2001-2004 là 15,3% so vơí của cả nước là
7,7%). Tính đến hết năm 2004, tỉnh đã thu hút 962 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số thu hút
là 4.209,85 triệu USD. Trong đó lónh vực công nghiệp các dự án đầu tư nước ngoài đóng góp
68,21% giá trò sản xuất công nghiệp của tỉnh; chiếm 66,98% kim ngạch xuất khẩu; chiếm
71,74% kim ngạch nhập khẩu; hơn 60,1% lượng lao động làm trong khu vực đầu tư nước ngoài
so với tổng các thành phần kinh tế … Quan trọng hơn cả, các dự án đầu tư nước ngoài mang lại
sức bật chung cho cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trong chuyển dòch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đổi mới kỹ thuật công nghệ, trong việc tạo
mội trường cạnh tranh kích thích các doanh nghiệp trong nước phát triển … Với những đóng góp
to lớn đó, thu hút đầu tư nước ngoài là một nhân tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh Bình Dương.
Tuy nhiên, trong thời gian qua các dự án ở Bình Dương chủ yếu còn ở mức quy mô nhỏ,
vốn đầu tư trung bình còn thấp; trình độ kỹ thuật công nghệ ở mức trung bình, trung bình khá;
chưa có những dự án tầm cở làm nòng cốt cho sự phát triển cao… Trong bối cảnh cả nước Việt
Nam tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư nước ngoài, nghóa là tất cả các tỉnh thành đều mời gọi đầu
tư nước ngoài, những vùng, lãnh thổ lân cận cùng khu vực cũng có những chính sách mời gọi
đầu tư nước ngoài rất hấp dẫn thì ở Việt Nam nói chung, Bình Dương nói riêng có những giải
- 5 -

pháp gì để cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài về đầu tư. Chính vì vậy, rất cần thiết có những
công trình khoa học nghiên cứu những giải pháp, những chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
của tỉnh Bình Dương. Đây là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao khả năng thu
hút đầu tư nước ngoài trong qúa trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Dương giai đoạn
2006-2010” với kỳ vọng là một phần kết qủa nghiên cứu của đề tài sẽ được ứng dụng trong
thực tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Hệ thống hóa lý luận về đầu tư nước ngoài.
- Phân tích tình hình thực hiện thu hút FDI tại Bình Dương.
- Đối chiếu việc thu hút FDI với các quốc gia và tỉnh khu vực qua đó rút ra bài học kinh
nghiệm và đánh giá khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như tác động của nó
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Bình Dương.
- Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút đầu tư nước ngoài ở tỉnh Bình Dương.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: nghiên cứu khả năng thu hút đầu tư nước ngoài tại Bình Dương trong các thời kỳ
trước đây và trong giai đoạn 2006-2010.
- Phạm vi nghiên cứu:
o Phạm vi vấn đề nghiên cứu: chỉ nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc thu hút
vốn đầu tư nước ngoài, làm rõ vai trò của thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát
triển kinh tế xã hội trên đòa bàn tỉnh Bình Dương.
o Phạm vi về thời gian: từ năm 1988 đến đầu năm 2005, trong đó số liệu chủ yếu là
năm 2004.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
- 6 -

- Phương pháp phân tích thống kê.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp tổng hợp.
5. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm
3 chương như sau:
- Chương 1: Đầu tư nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam.
- Chương 2: Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở
Bình Dương hiện nay.
- Chương 3: Giải pháp và kiến nghò nâng cao khả năng cao thu hút đầu tư nước ngoài tại
Bình Dương giai đoạn 2006-2010.
- 7 -

CHƯƠNG 1: ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM.
1.1 Đầu tư nước ngoài và hình thức đầu tư nước ngoài
1.1.1 Đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài có thể hiểu một cách tổng quát đó là các hình
thức mà người nước ngoài trực tiếp hoặc gián tiếp bỏ vốn thông qua các loại hình khác nhau
đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở một nước khác nhằm thu lợi nhuận thông qua việc tận dụng
các lợi thế sẵn có của các nước tiếp nhận đầu tư, cụ thể như: nhân công, nguyên liệu, thò trường
tiêu thụ … hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nước sở tại và thông lệ quốc tế. Theo Luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi năm 2000 thì: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một loại tài sản nào để tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy đònh của pháp luật Việt Nam.
Căn cứ vào nội dung của Luật này, nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để
các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân
Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác hơn nữa với các nước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc
lập chủ quyền và tuân thủ đầy đủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng cùng có lợi.
1.1.2 Các hình thức đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài thường có 2 dạng chủ yếu: đầu tư
trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp là loại hình đầu tư mà nhà đầu tư có thể bỏ 100% vốn hoặc toàn bộ thiết bò
để đầu tư vào một lónh vực sản xuất kinh doanh hay dòch vụ nào đó. Cũng có một hình thức
khác được xem là đầu tư trực tiếp khi nhà đầu tư nước ngoài mua lại toàn bộ hoặc từng phần
một doanh nghiệp của nước sở tại để kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh. Loại hình này chỉ
được xem là trực tiếp với điều kiện nhà đầu tư nước ngoài phải mua được số cổ phiếu hoặc hiện
vật đủ có thể chi phối, ra quyết đònh hoặc kiểm soát được công ty đó. Hiểu một cách tổng quát
- 8 -

thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức mà nhà đầu tư có thể trực tiếp và chủ động kiểm
soát và quản lý được nguồn vốn tham gia đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần trong
doanh nghiệp hoặc chứng khoán trên thò trường tài chính nhằm thu lợi nhuận. Nếu loại hình đầu
tư trực tiếp mà nhà đầu tư thu lợi nhuận trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì đầu tư
gián tiếp thu lợi nhuận qua cổ tức (thu nhập qua cổ phiếu hoặc qua chứng khoán).
Ngoài ra, còn có một hình thức phổ biến khác, đó là tín dụng quốc tế kể cả dưới dạng ODA.
Hình thức này tuy có những đặc điểm riêng so với đầu tư trực tiếp và gián tiếp nhưng theo
chúng tôi nó chỉ là một hình thức đặc biệt của đầu tư gián tiếp.
Theo thông lệ chung của quốc tế, vốn đầu tư nước ngoài có thể đóng góp dưới dạng sau:
- Các loại ngoại tệ mạnh hoặc tiền nội đòa.
- Hiện vật hữu hình bao gồm tư liệu sản xuất, nhà xưởng, nguyên vật liệu, hàng hóa, tài
nguyên (kể cả mặt đất, mặt biển).
- Hàng hóa vô hình: sức lao động, công nghệ, bí quyết công nghệ, bằng phát minh, nhãn
hiệu và uy tín thương hiệu…
Hiện nay ở Việt Nam tồn tại cả 2 loại hình đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp. Theo xu
thế phát triển, các hình thức đầu tư nước ngoài ở Việt Nam chắc chắn sẽ đa dạng hơn nữa trong
từng loại hình đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài và những tác động của nó:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vò trí rất quan trọng góp phần tăng trưởng và phát triển kinh
tế không chỉ riêng đối với các nước tiếp nhận đầu tư mà còn đối với bản thân các nước xuất
khẩu tư bản. Ngày nay trong xu thế tòan cầu hóa, hợp tác và phân công quốc tế, hội nhập và
cùng phát triển là vấn đề mang tính quy luật. Lợi ích của việc xuất khẩu tư bản và tiếp nhận
đầu tư đều có ý nghóa như nhau. Tuy nhiên lợi ích sẽ không thể chia đều, nó chỉ có thể được tận
- 9 -

dụng một khi đôi bên đều biết phát huy tốt nhất những lợi thế, hạn chế tối đa những mặt trái và
khiếm khuyết. Trên tinh thần đó, để hiểu rõ vai trò và vò trí của đầu tư nước ngoài nên xem xét
tác dụng của nó từ ở cả hai phía.
1.1.3.1 Đối với các nước tiếp nhận đầu tư:
Hiện nay nguồn FDI không phải chỉ đầu tư vào các nước có nền kinh tế chậm phát triển và
đang phát triển mà còn ở cả những nước tư bản phát triển. Nguồn FDI đều có những tác dụng
như sau:
a. Tác động tích cực: bao gồm 2 nhóm.
(i). Tác động trực tiếp, cụ thể là:
− FDI là nguồn vốn quan trọng làm tăng vốn đầu tư, giúp các nước tiếp nhận đầu tư cơ
cấu lại nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội, phát triển sản xuất, thúc đẩy tăng
trưởng.
− Ngoài FDI, các nhà đầu tư còn mang vào nước tiếp nhận đầu tư các khoa học công
nghệ mới cũng như mô hình tổ chức quản lý của các chuyên gia… Để khai thác tốt nguồn vốn,
đem lại hiệu quả kinh tế cao, chuyển giao công nghệ trở thành tất yếu. Thực tiễn cho thấy, chỉ
khi nào đội ngũ những người lao động ở các nước tiếp nhận đầu tư có khả năng sử dụng thành
thạo các thiết bò hiện đại, có năng lực tổ chức quản lý giỏi, nguồn FDI mới có điều kiện phát
huy tác dụng.
- FDI là phương thức quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu do góp phần vào việc khai
thác các lợi thế về tài nguyên, nhân lực nhằm tạo ra những sản phẩm xuất khẩu và thay thế
hàng nhập khẩu có giá trò, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế trong xu
thế tòan cầu hóa. Nhờ có công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp có vốn đầu tư tạo ra nhiều sản
phẩm đa dạng, chất lượng tốt, giá cả hợp lý, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của các
tầng lớp nhân dân.
- 10 -

- FDI góp phần vào việc tăng quy mô hoạt động các doanh nghiệp thành lập, các ngành
kinh doanh mới, phát triển sản xuất, thu hút thêm lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, giải
quyết công ăn việc làm cho lao động ở các nước đầu tư và nhận đầu tư. Đây là điều kiện và môi
trường tốt nhất để giải quyết tình trạng lao động dư thừa ở các nước chậm phát triển, đồng thời
cũng là cơ hội tốt nhất để những người lao động ở các nước nhận đầu tư có điều kiện tiếp nhận
khoa học công nghệ, rèn luyện kỹ năng lao động và năng lực tổ chức quản lý ở một trình độ
cao.
- FDI còn đem lại một số lợi thế khác cho các nước tiếp nhận đầu tư như góp phần làm tăng
nguồn thu cho ngân sách Nhà nước từ các khoản thuế và thu lợi nhuận, chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, mở thêm một số ngành dòch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- FDI do tạo ra một lượng hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngọai tệ góp phần hỗ trợ cán cân
thanh toán, sẽ giúp ổn đònh kinh tế vó mô và đẩy nhanh quá trình hội nhập hợp tác giữa nước
tiếp nhận đầu tư với các nước khác trên thế giới. Nguồn lực quan trọng này chính là nhân tố bảo
đảm cho các nước chậm và đang phát triển có điều kiện rút ngắn khỏang cách cách biệt, nâng
cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy, không ở đâu có điều kiện nâng
cao khả năng tiếp cận công nghệ hiện đại và phương thức quản lý có hiệu quả bằng các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong các lợi ích mà FDI mang lại thì lợi ích về vấn đề tạo
công ăn việc làm và nâng cao trình độ tay nghề cho thế hệ những người lao động mới, là vấn
đề có giá trò và ý nghóa to lớn hơn cả.
(ii) Tác động gián tiếp (còn gọi là tác động tràn): là tác động từ các doanh nghiệp FDI đối
với các doanh nghiệp trong nước, bao gồm các tác động chính:
- FDI tạo nên sức ép cạnh tranh trên thò trường thể hiện ở 2 mặt.
+ Doanh nghiệp FDI làm cho đối thủ cạnh tranh suy yếu hơn có nguy cơ bò thu hẹp thò
phần, làm giảm sản xuất, thậm chí rút lui khỏi thò trường.
- 11 -

+ Chính sự cạnh tranh lại kích thích các đối thủ đầu tư đổi mới vươn lên đứng vững trên thò
trường, từ đó năng suất được cải thiện.
- FDI giúp chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước.
- FDI giúp liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước để sản xuất sản
phẩm mới.
- FDI giúp lưu chuyển lao động từ doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp trong nước.
b. Các mặt hạn chế:
Tuy nhiên thu hút đầu tư nước ngoài cũng có một số hạn chế mà các nước tiếp nhận đầu tư
cần nhận thấy:
Nguồn FDI chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia chi phối. Vì vậy các nước nhận đầu tư
phải phụ thuộc vào vốn, công nghệ, thò trường và hệ thống mạng lưới tiêu thụ của các nước xuất
khẩu tư bản. Nếu các nước nhận đầu tư chỉ biết dựa vào FDI mà không chú trọng đúng mức
đến việc khai thác các nguồn đầu tư khác từ nội lực của nền kinh tế thì nguy cơ lệ thuộc và mất
độc lập về kinh tế là khó tránh khỏi. Các công ty xuyên quốc gia có thể dùng quyền lực kinh tế
của mình gây ảnh hưởng bất lợi đến tình hình kinh tế xã hội của nước chủ nhà.
− Mục tiêu của bất kỳ nhà đầu tư nào cũng đều mong muốn thu hồi vốn nhanh và có được
lợi nhuận nhiều. Do đó việc chuyển giao công nghệ cũng cơ bản là nhằm mục đích này.
Có hai khuynh hướng thường xảy ra:
o Đưa các thiết bò công nghệ hiện đại vào nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận nhanh mà
không tính đến chất lượng và số lượng lao động hiện có của nước sở tại. Kết quả là mặc dù tăng
vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, có thêm nhiều ngành nghề mới nhưng người lao động vẫn thiếu
việc làm. Số lượng lao động dư thừa vẫn không được giải quyết.
o Tận dụng các thiết bò công nghệ đã cũ và lạc hậu chuyển giao các nước tiếp nhận đầu
tư. Do máy móc thiết bò lạc hậu nên chi phí sản xuất lớn, giá thành sản phẩm cao, khả năng
- 12 -

cạnh tranh thấp, nhóm các nước thuộc dạng này khó có thể đuổi kòp các nước phát triển. Đó là
chưa tính đến các tác hại khác như ô nhiễm môi trường, không có điều kiện tiếp nhận khoa học
công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực hiện đại…
Bên cạnh đó do ưu thế về vốn, công nghệ hiện đại, thò trường, trình độ tổ chức quản lý,
mạng lưới tiêu thụ sản phẩm… các nước xuất khẩu tư bản hoàn toàn có đủ điều kiện để giành
thế chủ động trong sản xuất kinh doanh ngay tại nước tiếp nhận đầu tư. Do đó bằng con đường
cạnh tranh hợp quy luật các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoàn toàn có thể thôn tính
các công ty nội đòa là một thực tế. Dó nhiên đó là một thực tế với điều kiện các công ty nội đòa tự
đánh mất chính mình.
Ngoài ra, ảnh hưởng của FDI đối với cán cân thanh toán là một vấn đề rất được chú trọng.
Thông thường nhà nước sở tại rất khó kiểm sóat được giao dòch ngoại thương của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bởi hầu hết các giao dòch này là giao dòch trong nội bộ công ty
của các tập đòan tư bản xuyên quốc gia. Nhờ giao dòch trong nội bộ, các công ty có vốn đầu tư
có thể đònh giá các sản phẩm do mình sản xuất ra hoặc các nguồn đầu tư theo mức giá có lợi
nhất cho họ nhằm để trốn thuế hoặc né tránh sự kiểm soát của Nhà nước sở tại. Đặc điểm này
đã khiến các nước tiếp nhận đầu tư khó có khả năng kiểm soát nguồn ngọai tệ để duy trì và làm
chủ cán cân thanh toán, gây trở ngại cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, giảm tác động tích
cực của FDI lên cán cân thanh toán của nước chủ nhà.
Như vậy đối với các nước tiếp nhận đầu tư, tác dụng của FDI phải được nhìn nhận thấu đáo
trên cả hai mặt biểu hiện cụ thể của nó.
1.1.3.2 Tác động của FDI đối với chính bản thân các nước xuất khẩu tư bản
- Nhờ xuất khẩu tư bản, các công ty xuyên quốc gia có điều kiện nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn bằng cách khai thác tối đa những lợi thế về nhân lực và tài nguyên ở các nước tiếp
nhận đầu tư để giảm giá thành, tìm kiếm tỷ suất lợi nhuận cao.
- 13 -

- Mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang nhiều quốc gia nhằm khẳng đònh sức mạnh về kinh tế
và nâng cao uy tín về chính trò trên quốc tế, đồng thời thông qua việc cho vay vốn với số lượng
lớn, lãi suất thấp để áp đặt các điều kiện về chính trò và kinh tế buộc các nước tiếp nhận đầu tư
phải lệ thuộc vào mình.
- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các công ty xuyên quốc gia mở rộng sản xuất sang nhiều
nước, nhằm tránh những bất lợi về kinh tế và chính trò trong nước mình (phân tán vốn để tránh
những rủi ro), đồng thời tận dụng lợi thế của nước khác để phân công lại lao động chuyển dòch
cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi nhất cho các công ty trong hệ thống tập đoàn tư bản xuyên quốc
gia. Tạo môi trường mới để cạnh tranh, thúc đẩy và mở rộng sản xuất.
- Tận dụng cơ chế hoạt động đầu tư của mỗi nước khác nhau để thực hiện việc chuyển
giá, tránh mức thuế cao nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.
- Mở rộng thò trường tiêu thụ sản phẩm, ổn đònh và duy trì sản xuất ở một trình độ cao,
trong đó đáng chú ý là khai thác được nguyên liệu giá rẽ từ các nước tiếp nhận đầu tư.
Dó nhiên xuất khẩu tư bản cũng có những rủi ro nhất đònh, trước hết là khả năng kiểm soát và
quản lý nguồn vốn trước những biến động chính trò xã hội ở các nước tiếp nhận đầu tư. Mặt khác
các nước xuất khẩu tư bản cũng đang phải đối phó với những hạn chế về năng lực quản lý, hệ
thống chính sách và pháp luật chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, đội ngũ công nhân trình độ thấp, quy
hoạch dàn trải thiếu khoa học của nước sở tại. Tất cả những biểu hiện trên đều tạo ra những trở
ngại nhất đònh cho các nhà đầu tư.
1.2 Các yếu tố cơ bản thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: Có 4 yếu tố cơ bản thu hút đầu
tư nước ngoài là tình hình chính trò xã hội ổn đònh: ổn đònh là điều kiện tiên quyết để đảm bảo
các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên
đầu tư và đònh hướng phát triển (cơ cấu đầu tư) của nước nhận đầu tư; chính sách kinh tế vó mô ổn
đònh: ổn đònh các chính sách kinh tế vó mô trong nước giúp cho các nhà đầu tư có thể giảm bớt
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét