Thứ ba, phơng pháp chi tiêu sử dụng các thông tin từ luồng chi tiêu
để mua hàng hoá và dịch vụ cuối cùng. Vì tổng giá trị hàng hoá bán ra phải
bằng tổng số tiền đợc chi ra để mua chúng, nên tổng chi tiêu để mua hàng
hoá và dịch vụ cuối cùng phải bằng GDP
GDP= C +I +G +X - M
Trong đó: C là các khoản chi tiêu của các hộ gia đình về hàng hoá và
dịch vụ
I là tổng đầu t của khu vực t nhân
G là chi tiêu của chính phủ về hàng hoá và dịch vụ
X M là xuất khẩu ròng
2.1.2) Tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Tổng sản phẩm quốc dân đo lờng toàn bộ thu nhập hay giá trị sản
xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kỳ nhất định,
không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia.
GNP= GDP + thu nhập ròng nhận đợc từ nớc ngoài
2.2) Các chỉ tiêu tăng trởng kinh tế
Mức tăng trởng kinh tế tuyệt đối:
GDP
n
= GDP
n
- GDP
0
Tốc độ tăng trởng kinh tế:
g =
Error!
=
Error!
Tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân hàng năm của một giai đoạn:
g =
GDPo
GDPoGDPn
n
- 1
2.3) Các chỉ tiêu phát triển kinh tế
Để phản ánh nội dung khác nhau của khái niệm phát triển kinh tế cần
phải có các nhóm chỉ tiêu khác nhau:
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trởng kinh tế: tốc độ tăng trởng
kinh tế hàng năm hay bình quân năm của một giai đoạn nhất định.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội:
chỉ số cớ cấu kinh tế theo ngành trong GDP; chỉ số cơ cấu về hoạt động ngoại
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
thơng; tỷ lệ dân c sống trong khu vực thành thị trong tổng số dân; tỷ lệ lao
động làm việc trong các ngành công nghịêp, nông nghiệp và dịch vụ
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lợng cuộc sống gồm:
Thu nhập bình quân đầu ngời và tốc độ tăng trởng thu nhập bình
quân đầu ngời.
Các chỉ số về dinh dỡng: số calo bình quân/ ngời/ năm.
Các chỉ số về giáo dục: tỷ lệ ngời biết chữ, số năm đi học bình
quân Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia
và mức độ hởng thụ dịch vụ giáo dục của dân c.
Các chỉ số về y tế: tỷ lệ trẻ em trong các độ tuổi, số bác sĩ trên một
nghìn dân Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia
và mức độ hởng thụ các dịch vụ y tế của dân c.
Các chỉ số phản ánh về công bằng xã hội và nghèo đói: tỷ lệ nghèo
đói và khoảng cách nghèo đói, chỉ tiêu phản ánh mức độ bình đẳng giới, chỉ
số phản ánh công bằng xã hội. Ngoài ra, có thể có các chỉ tiêu khác nh các
chỉ tiêu phản ánh sử dụng nớc sạch hay các điều kiện về kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội khác
- Chỉ số phát triển con ngời (HDI), chỉ số này đợc tổng hợp từ ba
chỉ số: thu nhập bình quân đầu ngời, mức độ phổ cập giáo dục, tuổi thọ trung
bình. Nh vậy HDI không chỉ phản ánh mức sống vật chất, mà còn đo lờng
cả mức sống tinh thần của dân c. HDI đo lờng chính xác hơn chất lợng
cuộc sống của dân c.
3) Khái niệm về du lịch và các loại hình du lịch
3.1) Khái niệm về du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tợng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nớc phát triển mà còn ở các nớc đang phát triển, trong đó
có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nớc ta, nhận thức về nội
dung du lịch vẫn cha thống nhất.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Do hoàn cảnh khác nhau, dới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi
ngời có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Do vậy có bao nhiêu tác giả
nghiên cứu về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa.
Dới con mắt của Guer Freuler thì du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ
này là một hiện tợng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trởng về nhu
cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trờng xung quanh, dựa vào sự
phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên.
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tợng di chuyển của c dân
mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng
thấy ý tởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff du lịch là tổng hợp
các mối quan hệ và hiện tợng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lu trú tạm
thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thờng
xuyên của họ. (Về sau định nghĩa này đợc hiệp hội các chuyên gia khoa học
về du lịch thừa nhận)
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tợng xã hội đơn
thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara-
Edmod
đa ra định nghĩa: du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng
của nó không chỉ về phơng diện khách vãng lai mà chính về phơng diện giá
trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy,
tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu
cầu hiểu biết và giải trí.
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn th
Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.
Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dỡng
sức tham quan tích cực của con ngời ngoài nơi c trú với mục đích: nghỉ
ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch
đợc coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt
nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ
đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nớc, đối với ngời nớc ngoài là tình
hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ tại chỗ.
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch
thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể đợc hiểu là:
- Sự di chuyển và lu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi
của cá nhân hay tập thể ngoài nơi c trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ,
nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo
việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở
chuyên cung ứng.
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy
sinh trong quá trình di chuyển và lu trú qua đêm tạm thời trong thời gian
rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi c trú với mục đích phục hồi sức
khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh.
3.2) Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể phân nhóm theo các nhóm khác nhau tuỳ
thuộc tiêu chí đa ra. Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam phân
chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản dới đây.
3.2.1) Phân chia theo môi trờng tài nguyên
- Du lịch thiên nhiên
- Du lịch văn hoá
3.2.2) Phân loại theo mục đích chuyến đi
- Du lịch tham quan
- Du lịch giải trí
- Du lịch nghỉ dỡng
- Du lịch khám phá
- Du lịch thể thao
- Du lịch lễ hội
- Du lịch tôn giáo
- Du lịch nghiên cứu (học tập)
- Du lịch hội nghị
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
- Du lịch thể thao kết hợp
- Du lịch chữa bệnh
- Du lịch thăm thân
- Du lịch kinh doanh
3.2.3) Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
- Du lịch quốc tế
- Du lịch nội địa
- Du lịch quốc gia
3.2.4) Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch
- Du lịch miền biển
- Du lịch núi
- Du lịch đô thị
- Du lịch thôn quê
3.2.5) Phân loại theo phơng tiện giao thông
- Du lịch xe đạp
- Du lịch ô tô
- Du lịch bằng tàu hoả
- Du lịch bằng tàu thuỷ
- Du lịch máy bay
3.2.6) Phân loại theo loại hình lu trú
- Khách sạn
- Nhà trọ thanh niên
- Camping
- Bungaloue
- Làng du lịch
3.2.7) Phân loại theo lứa tuổi du lịch
- Du lịch thiếu niên
- Du lịch thanh niên
- Du lịch trung niên
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
- Du lịch ngời cao tuổi
3.2.8) Phân loại theo độ dài chuyến đi
- Du lịch ngắn ngày
- Du lịch dài ngày
3.2.9) Phân loại theo hình thức tổ chức
- Du lịch tập thể
- Du lịch cá thể
- Du lịch gia đình
3.2.10) Phân loại theo phơng thc hợp đồng
- Du lịch trọn gói
- Du lịch từng phần
4) Vị trí, vai trò của ngành du lịch và hệ thống các ngành của
nền kinh tế quốc dân
Xu hớng mang tính quy luật của cơ cấu kinh tế thế giới chỉ ra rằng tỉ
trọng nông nghiệp từ chiếm vị thế quan trọng đã dần nhờng cho công nghiệp
và cuối cùng vai trò của kinh tế dịch vụ sẽ chiếm vai trò thống soái. Hiện nay
ở các nớc có thu nhập thấp, các nớc Nam á, châu Phi nông nghiệp vẫn còn
chiếm trên 30% GNP, công nghiệp khoảng 35%. Trong khi đó các nớc có
thu nhập cao nh Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Italiatrên 70% GNP do nhóm
ngành dịch vụ đem lại, nông nghiệp chỉ đóng khoản 3-5% tổng sản phẩm
quốc dân.
Vai trò của du lịch trong ngành dịch vụ cũng ngày càng rõ nét. Theo
hội đồng du lịch và lữ hành thế giới, năm 1994 du lịch quốc tế trên toàn thế
giới đã chiếm 6% GNP, tức là có doanh thu gần 4000 tỷ đô la, vợt trên công
nghiệp ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Du lịch thu hút trên 200 triệu lao
động chiếm hơn 12% lao động trên thế giới.
ở Việt Nam xu hớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng đã đợc thể
hiện rõ qua các năm: Năm 2001, nông nghiệp chiếm 23,24% GDP, công
nghiệp chiếm 57,91% GDP, dịch vụ chiếm 38,63% GDP. Năm 2004, nông
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
nghiệp chiếm 21,76% GDP, công nghiệp chiếm 60,41% GDP, dịch vụ chiếm
38,15% GDP. Với tốc độ tăng trởng bình quân hàng năm thì du lịch đóng
góp lớn cho nền kinh tế. Du lịch đã nộp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách nhà
nớc. Ngoài ra cùng với sự phát triển của du lịch cũng dễ tạo điều kiện cho
các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Với những thuận lợi, những mặt tích
cực mà phát triển du lịch đem lại thì du lịch thực sự có khả năng làm thay đổi
bộ mặt kinh tế của nớc ta.
5) Vai trò của ngành du lịch đối với tăng trởng và phát triển
kinh tế của đất nớc
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã đợc ghi nhận nh là một sở thích,
một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngời. Ngày nay, du lịch đã trở
thành một nhu cầu không thể thiếu đợc trong đời sống văn hóa, xã hội ở các
nớc. Về mặt kinh tế, du lịch đã trở thành một trong những ngành kinh tế
quan trọng của nhiều nớc công nghiệp phát triển. Mạng lới du lịch đã đợc
thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Các lợi ích kinh tế mang lại từ du
lịch là điều không thể phủ nhận, thông qua việc tiêu dùng của du khách đối
với các sản phẩm của du lịch. Nhu cầu của du khách bên cạnh việc tiêu dùng
các hàng hoá thông thờng còn có những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu
nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, chữa bệnh, nghỉ ngơi, th giãn
Sự khác biệt giữa tiêu dùng dịch vụ du lịch và tiêu dùng các hàng hoá
khác là tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản
xuất ra chúng. Đây cũng là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính đặc thù
mà không thể so sánh giá cả của sản phẩm du lịch này với giá cả của sản
phẩm du lịch kia một cách tuỳ tiện đợc. Sự tác động qua lại của quá trình tiêu
dùng và cung ứng sản phẩm du lịch tác động lên lĩnh vực phân phối lu thông
và do vậy ảnh hởng đến các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Bên cạnh
đó, việc phát triển du lịch sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế
khác, vì sản phẩm du lịch mang tính liên ngành có quan bệ đến nhiều lĩnh vực
khác trong nền kinh tế. Khi một khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du
khách ở mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá dịch vụ tăng lên
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
đáng kể. Xuất phát từ nhu cầu này của du khách mà ngành kinh tế du lịch
không ngừng mở rộng hoạt động của mình thông qua mối quan hệ liên ngành
trong nền kinh tế, đồng thời làm biến đổi cơ cấu ngành trong nền kinh tế quốc
dân. Hơn nữa, các hàng hoá, vật t cho du lịch đòi hỏi phải có chất lợng cao,
phong phú về chủng loại, hình thức đẹp, hấp dẫn. Do đó nó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải không ngừng sáng tạo cải tiến, phát triển các loại hàng hoá. Để
làm đợc điều này, các doanh nghiệp bắt buộc phải đầu t trang thiết bị hiện
đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao đáp ứng đợc nhu cầu
của du khách.
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng làm biến đổi cán
cân thu chi của đất nớc. Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nớc có địa
điểm du lịch, làm tăng thêm nguồn thu ngoại tệ của đất nớc đó. Ngợc lại,
phần chi ngoại tệ sẽ tăng lên đối với những quốc gia có nhiều ngời đi du lịch
ở nớc ngoài. Trong phạm vi một quốc gia, hoạt động du lịch làm xáo trộn
hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hoá, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế
phát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trởng kinh
tế ở các vùng sâu, vùng xa
Một lợi ích khác mà ngành du lịch đem lại là góp phần giải quyết vấn
đề việc làm. Bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lợng
lớn lao động. Du lịch đã tạo ra nguồn thu nhập cho ngời lao động, giải quyết
các vấn đề xã hội.
Du lịch Việt Nam trong thời gian qua cũng đã đóng góp rất nhiều cho
sự tăng trởng và phát triển kinh tế của đất nớc. Tốc độ tăng trởng hơn
14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trởng của toàn bộ nền kinh tế.
6) Kinh nghiệm phát triển du lịch ở một số nớc và của Việt
Nam
Du lịch là một ngành có định hớng tài nguyên rõ rệt, điều này có
nghĩa là tài nguyên và môi trờng là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du
lịch. Trong các điều kiện đặc trng đối với sự phát triển du lịch, các chuyên
gia nghiên cứu về du lịch đều khẳng định rằng tài nguyên du lịch là yếu tố
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
quyết định và quan trọng nhất. Nhận thức rõ điều này nhiều nớc đã đa ra
những chính sách nhằm bảo vệ các tài nguyên du lịch, trong đó bảo vệ môi
trờng là một yếu tố quan trọng.
Trung Quốc là một trong những nớc đã đạt đợc thành tựu lớn trong
việc bảo vệ môi trờng để phát triển du lịch. Từ năm 1997, chính phủ Trung
Quốc đã 7 năm liền tổ chức toạ đàm trong thời gian họp quốc hội để nghe báo
cáo về môi trờng. Qua đó chính phủ Trung Quốc có những biện pháp cụ thể
để cải tạo và bảo vệ môi trờng. Các cơ chế chính sách về bảo vệ môi trờng
đợc thiết lập, tăng vốn đầu t bảo vệ môi trờng, khuyến khích mọi ngời
dân bảo vệ môi trờng. Với sự cố gắng của chính phủ, của toàn dân Trung
Quốc nạn ô nhiễm môi trờng đã đợc kiểm soát toạ thuận lợi cho du lịch
phát triển một cách bền vững. Chính phủ Trung Quốc không ngừng tăng vốn
đầu t vào bảo vệ môi trờng, từ năm 1996 đến năm 2000, Trung Quốc đã chi
360 tỉ nhân dân tệ. Nhờ đó Trung Quốc đã xây dựng và bảo vệ hơn 1227 khu
bảo tồn thiên nhiên, hàng triệu hecta rừng với nhiều chủng loại động thực vật
phong phú rất phù hợ cho phát triển du lịch sinh thái- một loại hình du lịch có
xu thế tăng trong thời gian gần đây. Để bảo vệ sự phong phú của sinh vật,
Trung Quốc là một trong những nớc tham gia ký kết rất sớm công ớc tính
đa dạng sinh vật. Đồng thời chính phủ Trung Quốc tập trung sửa đổi và đa
ra luật mở để nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ môi trờng. Tính đến nay,
đã có 6 bộ luật, hơn 30 đạo luật về bảo vệ môi trờng đã đợc ban hành, do đó
môi trờng Trung Quốc đã đợc kiểm soát và cải tạo đáng kể.
Môi trờng không chỉ ảnh hởng đến sự phát triển du lịch mà nó còn
ảnh hởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của con ngời, do đó việc bảo
vệ môi trờng đợc nhiều nớc quan tâm nh Singapo, Nhật Bản Nhờ đó, du
lịch ở những nớc này đã phát triển mạnh, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh
tế nói chung.
Bởi vị trí, vai trò của du lịch đem lại không chỉ về mặt kinh tế mà còn
về mặt xã hội, văn hoá, môi trờnglà rất lớn nên trong những năm qua du
lịch đã đợc Đảng và nhà nớc quan tâm phát triển. Trải qua hơn 40 năm hình
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
thành và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đợc sự quan tâm lãnh đạo
của Đảng và nhà nớc, các cấp, các ngành, sự hởng ứng của nhân dân, sự
giúp đỡ, hỗ trợ quốc tế và nỗ lực của toàn ngành, du lịch Việt Nam đã có
những phát triển vợt bậc, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với du lịch các
nớc trong khu vực, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong chiến lợc phát
triển kinh tế- xã hội. Tuy nhiên du lịch Việt Nam còn có những khó khăn, hạn
chế cả về chủ quan lẫn khách quan, nên phát triển cha ổn định, thiếu bền
vững, hiệu quả cha tơng xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nớc.
Hơn 40 năm phát triển và đổi mới ngành du lịch đã cho những kinh
nghiệm quý báu:
Một là: từ định hớng đúng đắn của Đảng việc quán triệt đầy đủ vai
trò và tác dụng nhiều mặt của du lịch, cũng nh những mặt trái, những hiện
tợng tiêu cực có thể phát sinh và đi liền với hoạt động du lịch ở mọi cấp, mọi
ngành hiện nay là rất cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn. Trong tình hình
thế giới hiện nay với xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và xã hội hoá du lịch,
quan hệ về mọi mặt giữa các nớc vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh trì
phát triển du lịch là hớng chiến lợc, yếu tố góp phần trực tiếp vào sự phát
triển kinh tế- xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá
và hiện đại hoá đất nớc.
Hai là: du lịch chỉ phát triển nhanh, bền vững khi có một chiến lợc
quốc gia về phát triển du lịch và đợc cụ thể hoá bằng chơng trình hành động
quốc gia. Cần có một sự chỉ đạo tập trung thống nhất, đúng hớng và nhanh
chóng từ cấp cao trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và nhà nớc đến các cấp
thừa hành ở các bộ, ngành trung ơng và địa phơng, tạo môi trờng cho du
lịch phát triển đúng hớng và hiệu quả.
Ba là: quản lý nhà nớc về du lịch cần tăng cờng trên tất cả các lĩnh
vực: cơ chế chính sách u tiên phát triển, phù hợp với điều kiện đất nớc và
hợp với thông lệ quốc tế và xu thế phát triển du lịch thế giới; phải đâu t ban
đầu bằng ngân sách nhà nớc và huy động nhiều nguồn vốn khác; có bộ máy
tổ chức tơng ứng nhiệm vụ chính trị, đảm bảo ổn định, quan tâm đào tạo phát
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét