Tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư
Những từ viết tắt
QĐT:Quỹ đầu tư
NĐT:Nhà đầu tư
CCQ:Chứng chỉ quỹ
HĐQT:Hội đồng quản trị
Net Asset Value (NAV) - Giá trị tài sản ròng là một chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ cũng như là căn cứ để NĐT xác định giá
chấp nhận được của chứng chỉ quỹ giao dịch trên thị trường. NAV của quỹ
được xác định bằng hiệu số giữa tổng giá trị tài sản của quỹ với giá trị các
khoản nợ phải trả của quỹ.
CP:Cổ phiếu
CTy QLQ:Công ty quản lý quỹ
NHGS:Ngân hàng giám sát
CK:Chứng khoán
Quỹ ĐTCK:Quỹ đầu tư chứng khoán
1
Dàn ý chuyên đề
I.Tổ chức của quỹ đầu tư
1.Khái niệm
-Khái niệm
-Lợi ích của nhà đầu tư khi đầu tư qua quỹ
-Vai trò của quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán
2.Phân loại
-Dựa theo nguồn vốn huy động
-Dựa theo cấu trúc vận động vốn
-Dựa theo mô hình tổ chức và hoạt động của quỹ
II.Hoạt động của quỹ đầu tư
1.Huy động vốn
2.Mục tiêu đầu tư-xác định danh mục đầu tư của quỹ
3.Chi phí liên quan đến hoạt động của quỹ
4.Tiêu chí hoạt động của quỹ
5.Công bố thông tin
III.Hình thái quỹ đầu tư trên thế giới và ở Việt Nam
1.Trên thế giới
2.Việt Nam
2
Bài làm
I.Tổ chức của quỹ đầu tư
1.Khái niệm
-Khái niệm
Từ một số khái niệm về QĐT của Mỹ,Nhật Bản và một số quốc gia khác ta có
thể rút ra định nghĩa như sau:QĐT là một phương tiện đầu tư tập thể,là một
tập hợp tiền của các nhà đầu tư và được ủy thác cho các nhà đầu tư chuyên
nghiệp tiến hành đầu tư để mang lại lợi nhuận cao nhất cho những người góp
vốn phù hợp với mức độ chịu đựng rủi ro và tính khoản của NĐT.
Theo Luật chứng khoán ta định nghĩa QĐT là quỹ hình thành từ vốn góp của
NĐT với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các
dạng tài sản khác,kể cả bất động sản trong đó NĐT không có quyền kiểm soát
hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của Quỹ.
Công ty quản lý quỹ khác với quỹ đầu tư.
Theo khái niệm về công ty quản lý quỹ đầu tư(Fund Management) tại thị
trường chứng khoán Mỹ,công ty quản lý quỹ là công ty chuyên trách thực
hiện việc quản lý QĐT.Công ty Quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai
dạng:quản lý quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ dạng mở.Ở Việt Nam,theo Nghị
định 144/2003/NĐ-CP ban hành ngayf28/11/2003 về chứng khoán và thị
trường chứng khoán thì công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán.Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư hay nhà quản lý đầu
tư để quyết định đưa chứng khoán nào đưa vào danh mục.Ở Việt Nam, theo
Nghị định 144/2003/NĐ-CP ban hành ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị
trường chứng khoán, thì công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ đầu
tư chứng khoán. Quỹ đầu tư chứng khoán có thể ở dạng quỹ công chúng hoặc
quỹ thành viên, và là dạng đóng.
Chức năng hoạt động và các sản phẩm của công ty quản lý quỹ
3
Thực chất về hoạt động của công ty quản lý quỹ là thực hiện chức năng về
quản lý vốn tài sản thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất
làm gia tăng giá trị của quỹ đầu tư.
٭ Quản lý quỹ đầu tư (Asset management)
o Huy động và quản lý vốn và tài sản
o Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư
o Quản lý đầu tư chuyên nghiệp
Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh
nghiệm người mà được lựa chọn định kỳ căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra.
Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế. Một trong những
nhân tố quan trọng trong việc chọn lựa quỹ đầu tư tốt là quỹ đó phải được
quản lý tốt nhất.
٭Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính
o Thực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng
o Hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư thông qua các công cụ
tài chính
o Tối ưu hóa các nguồn vốn cho các nhà đầu tư
٭ Nghiên cứu
Thông qua việc phân tích đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính và
giá trị đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động quản lý đầu tư và các tư vấn như đã
nêu trên.
Cơ chế giám sát của quỹ, công ty quản lý quỹ và các cơ quan chức năng
•Cơ quan quản lý chủ quan của công ty quản lý quỹ là Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước (UBCKNN), Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
giám sát toàn bộ các hoạt động của công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư và các
ngân hàng giám sát về mặt vĩ mô. •Ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo
quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý
quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư.
4
•Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ việc đầu tư theo danh mục
đầu tư được nêu trong cáo bạch của quỹ.
•Công ty kiểm toán: thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính
xác tình hình hoạt động của công ty.
-Lợi ích của nhà đầu tư khi đầu tư qua quỹ
Ngoài những lợi ích chung như lợi nhuận,quyền tham dự đại hội nhà đầu tư
tương ứng với số vốn góp vào quỹ,NĐT còn được hưởng một số lợi ích khác
như:
Đa dạng hóa danh mục đầu tư giảm thiểu rủi ro.
Một kinh nghiệm đã được rất nhiều NĐT vận dụng là không nên để tất cả
trứng trong cùng một rổ.Thực tế hiện nay hầu như các công ty không bao giờ
để tất cả tài sản của mình vào một Ngân hàng kể cả những Ngân hàng lớn
cũng không thể đảm bảo rằng hệ thống của mình luôn hoạt động một cách có
hiệu quả,nếu vì một sự cố nào đó mà hệ thống không hoạt động điều này sẽ
dẫn tới những hậu quả không lường trước được.Do vậy để quản lý rủi ro hữu
hiệu người đầu tư thường phối hợp nhiều cổ phiếu hoặc trái phiếu hay các
công cụ khác trong cùng danh mục.Tuy nhiên phương pháp này có thể không
phù hợp với nhà đầu tư có số vốn không đủ lớn,vì vậy đáp án cho bài toán
này là mua chứng chỉ quỹ đây là phương thức giúp NĐT tránh rủi ro.Các quỹ
có thể đầu tư hàng chục hàng trăm loại cổ phiếu khác nhau.Một danh mục đầu
tư đa dạng nói chung duy trì được sự tăng trưởng tốt ngay cả khi một vài loại
cổ phiếu trong danh mục giảm giá,còn các cổ phiếu khác lại tăng giá hơn mức
mong đợi,tạo ra sự cân bằng cho danh mục.
Quản lý đầu tư chuyên nghiệp.
Sự lựa chọn và đào thải là quy luật sinh tồn của tự nhiên và trên thị trường
chứng khoán cũng vậy,những người giỏi và giàu kinh nghiệm sẽ được giữ lại
căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra,những chuyên gia không có thành tích tốt
sẽ bị thay thế.Một nhân tố đảm bảo mang lại lợi nhuận cho quỹ là ở đội ngũ
nhà quản lý tốt.Cứ như vậy các QĐT sẽ có các chuyên gia quản lý giỏi.Do
5
vậy có thể nói khi các nhà đầu tư đầu tư qua QĐT luôn được hưởng sự quản
lý đầu tư chuyên nghiệp.
Chí phí hoạt động thấp.
Các quỹ đầu tư được quản lý chuyên nghiệp nên chỉ gánh một mức hoa hồng
giao dịch thấp hơn so với các cá nhân,một quỹ tương hỗ có thể chỉ thanh toán
vài xu trên một cổ phiếu cho một giao dịch cổ phiếu lô lớn,nhưng một nhà
đầu tư có thể phải thanh toán đến 50xu hoặc nhiều hơn cho một giao dịch
tương tự,dẫn đến chi phí giao dịch thấp.NĐT không cần tốn quá nhiều thời
gian và tiền bạc vào việc tìm kiếm thông tin và phân tích vì đó là công việc
của nhà quản lý.Chẳng hạn như khi làm một DD(Due Diligence) phân tích
của tổ chức chuyên ngành ở Việt Nam tốn khoảng 300-500$ ,không phù hợp
với cá nhân.Ngoài ra còn tiết kiệm chi phí hội họp,không phải tất cả các cá
nhân cùng phải tham gia họp quỹ có thể cử đại diện thay mặt mọi người.
Bảo vệ NĐT nhỏ lẻ
Đem lại sự linh hoạt cho danh mục đầu tư
-Vai trò của quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán
Huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung và góp phần vào sự
phát triển của thị trường sơ cấp. Các quỹ đầu tư tham gia bảo lãnh phát hành
trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp,cung cấp vốn cho phát triển
các ngành.Với chức năng này các quỹ giúp ổn định thị trường sơ cấp.
Góp phần ổn định thị trường thứ cấp qua việc đầu tư trên thị trường chứng
khoán.
Tạo ra các phương thức huy động vốn đa dạng qua thị trường chứng
khoán,các QĐT hình thành dưới nhiều dạng sản phẩm tài chính khác nhau
như thời gian đáo hạn,khả năng sinh lợi,độ an toàn
Xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán,QĐT tạo ra một phương thức đầu
tư được các NĐT nhỏ ít có sự hiểu biết về chứng khoán ưu thích,góp phần
tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ.
2.Phân loại.
6
a.Dựa theo nguồn vốn huy động
☺Quỹ đầu tư tập thể(quỹ công chúng):là quỹ huy động vốn bằng cách phát
hành rộng ra công chúng,những nhà đầu tư đa phần là nhà đầu tư riêng lẻ,ít
am hiểu về thị trường chứng khoán,qua QĐT này đảm bảo an toàn giảm thiểu
rủi ro,đa dạng hóa đầu tư.Tuy nhiên quỹ này bị pháp luật quản lý chặt chẽ và
huy động được số vốn đông đảo của các NĐT.
☺QĐT tư nhân( quỹ thành viên):chỉ huy động vốn của một số ít cá nhân có
thể được lựa chọn trước.Các NĐT thường đầu tư với lượng vốn tương đối lớn
và đổi lại họ yêu cầu về quản lý quỹ rất cao,họ sẵn sàng chấp nhận khả năng
thanh khoản thấp hơn so với các nhà đầu tư nhỏ,vì thế họ khống chế việc đầu
tư trong các quỹ tư nhân.Các nhà quản lý quỹ thường kiểm soát hoạt động của
công ty nhận đầu tư,có thể là hình thức thành viên HĐQT cung cấp tư vấn có
ảnh hưởng đáng kể tới các thành viên của HĐQT của công ty nhận đầu tư.
b.Dựa theo cấu trúc vận động vốn
☺QĐT dạng đóng(Close ended Fund) phát hành CCQ/CP ra công chúng chỉ
một lần với số lượng nhất định và quỹ không thực hiện việc mua lại CP/CCQ
khi NĐT có nhu cầu bán lại.CCQ/CP của quỹ được giao dịch như bất kỳ loại
chứng khoán nào niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung,các NĐT có
thể mua bán thu hồi vốn CCQ/CP của mình trên thị trường thứ cấp.Giá cả của
CCQ có thể thoát ly NAV.
☺QĐT dạng mở(Open ended Fund) liên tục phát hành CCQ/CP ra công
chúng và thực hiện việc mua lại chúng khi NĐT có nhu cầu thu hồi vốn.Một
sự khác nhau cơ bản giữa hai loại quỹ này là ở QĐT dạng mở CCQ luôn gắn
liền NAV,CCQ/CP không giao dịch trên thị trường thứ cấp mà giao dịch
thẳng với quỹ và các đại lý được ủy quyền của quỹ.Quỹ này có quy mô không
ổn định.
☺Quỹ nửa mở (Closepen Fund) tương đối giống quỹ mở nhưng kì xác định
giá trị tài sản ròng dài hơn quỹ mở.
c.Dựa theo cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ
7
☺QĐT dạng công ty:quỹ đầu tư có tư cách pháp nhân đầy đủ theo quy định
của Nhà nước cơ quan điều hành cao nhất là HĐQT quỹ.
Chủ thể tham gia quỹ:
-Các NĐT góp vốn vào quỹ là các cổ đông và bầu ra HĐQT,HĐQT thay mặt
các nhà quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ lựa chọn công ty quản lý quỹ và
giám sát hoạt động của Công ty quản lý quỹ.hàng nam xem xét lại hoặc từ
chối các hợp đồng với công ty quản lý quỹ nếu công ty quản lý quỹ hoạt động
không hiệu quả.
-Công ty quản lý quỹ đóng vai trò như một nhà tư vấn đầu tư và họ hưởng phí
từ việc quản lý đầu tư đó,với nhiệm vụ chính là phân tích đầu tư và quản lý
danh mục đầu tư.
-Ngân hàng lưu ký là nơi bảo quản cất giữ các tài sản của quỹ đồng thời tiến
hành những giao nhận các chứng khoán cho quỹ các giao dịch.
-Ngoài ra còn có sự tham gia của đại lý chuyển nhượng được ủy quyền để
tham gia mua bán CP quỹ đối với Quỹ dạng mở.Nhà bảo lãnh phát hành giúp
chào bán và phân phối CP quỹ cho các nhà đầu tư.
☺Quỹ đầu tư dạng hợp đồng là quỹ không có tư cách pháp nhân còn được
gọi là mô hình quỹ tín thác đầu tư.Quỹ này hoàn toàn là một lượng tiền nhất
định do các NĐT đóng góp hình thành nên quỹ.
Các thành viên tham gia
-Công ty quản lý quỹ:đứng ra thành lập quỹ,huy động vốn thực hiện huy động
vốn theo những chỉ tiêu đã đề ra của quỹ.
-Ngân hàng giám sát bảo quản vốn và giám sát hoạt động của công ty quản lý
quỹ.Quan hệ giữa công ty quản lý quỹ và ngân hàng giám sát còn được thể
hiện bằng hợp động quản lý giám sát.
-Nhà đầu tư mua CCQ đầu tư góp vốn vào quỹ,NĐT không phải là cổ đông
mà chỉ là người được hưởng kết quả kinh doanh từ hoạt động đầu tư của quỹ.
II.Hoạt động của quỹ đầu tư
1.Huy động vốn
8
♠Phương thức hình thành vốn
a.Phương thức phát hành
-Đối với các quỹ đầu tư dạng công ty phát hành cổ phiếu.
-Đối với quỹ đầu tư dạng hợp đồng,thông thường lượng vốn hình thành nên
quỹ được chia thành các đơn vị.Quỹ sẽ phát hành chứng chỉ đầu tư dưới hình
thức ghi danh hoặc vô danh và có thể giao dịch trên thị trường chuyển nhượng
như cổ phiếu.
b.Định giá ban đầu
-Do các tổ chức đứng ra thành lập quỹ xác định.
-Đối với quỹ đầu tư dạng công ty thì do tổ chức bảo đảm hoặc tổ chức bảo
lãnh phát hành xác định.Đối với quỹ đầu tư dạng hợp đồng do cộng ty quản lý
quỹ định giá.
-Chi phí chào bán lần đầu được khấu trừ từ tổng giá trị huy động được.
c.Phương thức chào bán
-Chào bán qua các tổ chức bảo lãnh phát hành.
-Chào bán trực tiếp từ quỹ hoặc công ty quản lý quỹ.
d.Chi phí liên quan tới phát hành
-Chi phí chào bán
-Chi phí in ấn bản cáo bạch
-Chi phí trả cho các đại lý bán CP/CCQ đầu tư.
♠Nội dung bản cáo bạch
-Mục tiêu đầu tư của quỹ
-Mô tả chính sách đầu tư
-Giới hạn đầu tư hay những hoạt động đầu tư không được tiến hành.
-Chi phí liên quan tới hoạt động giao dịch của NĐT vào quỹ
-Lịch sử các hoạt động kinh doanh của quỹ.
-Chi tiết các rủi ro đối với NĐT
-Các thông tin liên quan đến người quản lý quỹ,công ty quản lý quỹ,nhà tư
vấn đầu tư.
9
-Thông tin liên quan đến tổ chức bảo quản tài sản,đại lý chuyển nhượng,phân
phối.
-Cách thức phân phối cổ tức lãi vốn,khoản thuế liên quan.
-Các dịch vụ cung ứng cho NĐT.
-Các quỹ do cùng một công ty quản lý quỹ thành lập.
♠Giao dịch chứng chỉ đầu tư/CP khi quỹ đã hình thành-định giá chi phí phát
hành.
♠Cơ chế vay và cho vay vốn của quỹ
-Hoạt động tín dụng là lĩnh vực bị hạn chế bởi luật pháp.
-Không được vay để tài trợ cho hoạt động đầu tư của quỹ chỉ được vay ngắn
hạn để trang trải phí cần thiết tối đa là 5% và không quá 30 ngày.
-Không được sử dụng vốn và tài sản quỹ để cho vay hoặc bảo lãnh cho vay.
2.Mục tiêu đầu tư-xác định danh mục đầu tư của quỹ.
♠Lựa chọn mục tiêu đầu tư
Mục tiêu ban đầu:
-Thu nhập:nhanh chóng có thu nhập để chia cho nhà đầu tư.
-Gia tăng NAV thông qua việc đánh giá danh mục CP theo thị giá.
-Bảo toàn vốn đầu tư.
Các quỹ thường gặp:Quỹ tăng trưởng,quỹ thu nhập và tăng trưởng,quỹ thu
nhập CP,quỹ cân bằng,quỹ ngành…
♠Phân bổ tài sản và hình thành danh mục của quỹ
Phân bổ tài sản góp phần quan trọng tối ưu hóa danh mục đầu tư và tối ưu hóa
mức sinh lợi từ các khoản đầu tư.
3.Chi phí liên quan tới hoạt động.
♠Phí liên quan tới hoạt động đầu tư
-Phí môi giới được các công ty quản lý quỹ trả cho người môi giới.
-Phí tư vấn đầu tư
-Phí lưu giữ và bảo quản tài sản cho vay.
-Lãi suất trong trường hợp quỹ phải vay ngắn hạn,thuế.
10
-Phí trả cho các tổ chức định giá các khoản đầu tư của quỹ.
♠Chi phí quản lý và điều hành quỹ
-Phí trả cho công ty quản lý quỹ
-Phí thưởng
♠Chi phí hành chính khác
-Phí lập các báo cáo
-Phí kiểm toán
-Phí dịch vụ đại hội
4.Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của một quỹ đầu tư
♠Tổng thu nhập
-Cổ tức lãi vốn và thu nhập bằng tiền khác(thu nhập thực hiện)
-Thay đổi giá trị tài sản ròng(thu nhập chưa thực hiện)
♠Tỷ lệ chi phí
Tỷ lệ này được xác định bằng tổng chi phí chia cho giá trị tài sản ròng trung
bình.Các quỹ đầu tư chỉ số thường có tỷ lệ chi phí thấp.
Quỹ có quy mô nhỏ thường có tỷ lệ chi phí cao hơn quỹ quy mô lớn,quỹ
quốc tế tỷ lệ chi phí cao hơn QĐT nội địa,QĐT CP tỷ lệ chi phí cao hơn QĐT
lãi suất cố định.Khi đánh giá tỷ lệ chi phí,cần so sánh tỷ lệ chi phí với số liệu
của các danh mục khác có cùng quy mô.
♠Tỷ lệ thu nhập
Tỷ lệ này được tính bằng giá trị thu nhập đầu tư ròng chia cho giá trị tài sản
ròng trung bình.Tỷ lệ này cũng tương tự như lợi suất cổ tức khi đánh giá hiệu
quả cổ phiếu phổ thông.
♠Tỷ lệ doanh thu
Tỷ lệ này đo tổng giá trị giao dịch mua bán do công ty quản lý quỹ tiến hành
đối với quỹ.Tỷ lệ này được xác định bằng số lượng tài sản được bán hoặc mua
chia cho giá trị tài sản ròng của quỹ trong năm.
Doanh thu luôn biến đổi theo từng loại quỹ và triết lý đầu tư của các nhà quản
lý quỹ.Nhiều nhà quản lý tìm cách kiếm lợi nhuận nhanh chóng có xu hướng
11
mua bán linh hoạt.Nhiều nhà quản lý khác lại có xu hướng mua và nắm giữ
trong dài hạn.Các quỹ mà tin tưởng vào chiến lược hợp đồng tương lai hợp
đồng lựa chọn và bán khống có thể mong đợi có một doanh thu và một chi phí
giao dịch cao.
♠Chất lượng của hoạt động quản lý quỹ
Nhà quản lý quỹ đầu tư tốt có thể điều hành hoạt động ổn định chống chọi với
thị trường tốt hơn khi thị trường đi xuống,không bao giờ để chi phí giao dịch
vượt ra ngoài tầm kiểm soát.Một quỹ hoạt động và được quản lý tốt bao giờ
cũng thu hút nhiều NĐT hơn.
5.Công bố thông tin
Đối với quỹ đầu tư việc công bố thông tin liên quan tới hoạt động đầu tư sẽ
giúp các NĐT có định hướng đúng đắn trong việc đầu tư vào công ty hay rút
vốn đồng thời làm tăng uy tín của công ty quản lý quỹ.Việc công bố thông tin
cần chính xác kịp thời.
III.Hình thái quỹ đầu tư trên thế giới và ở Việt Nam
1.Trên thế giới
a.Mỹ
Hiện nay ở Mỹ có các loại quỹ đầu tư chính sau:
+Công ty quản lý quỹ tổ chức dưới dạng công ty phát hành cổ phần,sử dụng
các nhà tư vấn đầu tư quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục
đầu tư của quỹ,người quản lý sẽ được toàn quyền quản lý danh mục đầu tư
mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu đầu tư của quỹ.Công ty quản
lý quỹ được tổ chức dưới hai dạng công ty đầu tư dạng đóng và công ty đầu tư
dạng mở.
+Đơn vị tín thác đầu tư là dạng công ty được tổ chức theo kiểu hợp đồng tín
thác thay vì lập công ty.Có hai dạng tín thác đầu tư là tín thác cố định và tín
thác tham gia.
b.Anh
12
Các loại quỹ đầu tư tồn tại dưới hai dạng quỹ tín thác đầu tư và quỹ tín thác
đơn vị.
+Quỹ tín thác đầu tư là loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn không phải là
hình thức tín thác dưới dạng pháp lý.
+Quỹ tín thác đơn vị:Một nhà đầu tư đầu tư vào quỹ tín thác đơn vị bằng việc
mua các đơn vị chứng chỉ từ nhà quản lý quỹ tín thác đầu tư.Quỹ tín thác đầu
tư được hiểu như quỹ mở.
c.Nhật Bản
Có hai loại hình quỹ đầu tư chính là quỹ tín thác đầu tư kiểu hợp đồng và quỹ
đầu tư dạng công ty.
+Quỹ đầu tư dạng hợp đồng là quỹ mà việc quản lý tài sản của quỹ theo hợp
đồng được ký giữa một công ty quản lý quỹ và những người đầu tư không
thành lập pháp nhân.
+Quỹ tín thác kiểu công ty là công ty được thành lập vì mục đích đầu tư của
quỹ.
d.Hàn Quốc
Hiện nay Hàn Quốc đã cho phép tồn tại cả hai loại hình quỹ đầu tư:tín thác
đầu tư chứng khoán dạng hợp đồng và quỹ đầu tư dạng công ty.
+Quỹ tín thác đầu tư chứng khoán là loại hình quỹ phát triển từ những năm
đầu hoạt động của thị trường chứng khoán.Các quỹ này hoạt động tương tự
như quỹ tín thác dạng hợp đồng của Anh.
+Công ty đầu tư chứng khoán là loại hình quỹ đầu tư dạng hợp đồng như kiểu
quỹ đầu tư của Mỹ được hoạt động từ năm 1988.
2.Ở Việt Nam
a.Ngày càng nhiều các quỹ đầu tư được thành lập
Đã có 3 quỹ đầu tư đang hoạt động, nhưng cách đây một tuần, Công ty Liên
doanh Quản lý quỹ đầu tư VN (VFM) đã bắt tay vào việc huy động 1.000 tỉ
đồng cho đợt đầu tiên của quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu VN (VF4) với
tổng vốn của quỹ này lên đến 8.000 tỉ đồng, chủ yếu để đầu tư vào các đơn vị
13
chuẩn bị IPO, chuẩn bị niêm yết, các cổ phiếu blue-chips Tuần trước, Công
ty CP Quản lý quỹ đầu tư Anpha (Anpha Capital) cũng đã tiến hành ký hợp
tác với gần 10 công ty để góp vốn lập ra hai quỹ đầu tư thành viên trong
nước, đó là Anpha Capital Equity Fund (ACE) và Anpha Capital Property
(ACP), với tổng vốn huy động ban đầu khoảng 30 triệu USD. Hai quỹ này
chuyên đầu tư cổ phiếu và bất động sản. Còn quỹ đầu tư Maxford Investment
Management Ltd – Hồng Kông đã giải ngân gần hết tổng vốn 30 triệu USD
vào thị trường chứng khoán (TTCK) cũng đang dự định ra mắt quỹ đầu tư thứ
hai vào đầu năm 2008 là Vietnam Focus OTC & IPO Fund. Quỹ sẽ đầu tư chủ
yếu vào các công ty chưa niêm yết và các doanh nghiệp chuẩn bị cổ phần hóa
với vốn ban đầu khoảng 25 triệu USD, sau đó sẽ nâng lên 40 triệu USD.
b.Các công ty sẵn sàng dồn sức thành lập QĐT
Theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, quỹ đầu tư ra đời là
xu thế tất yếu của nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, mà VN là điển
hình. Đây là điều hết sức tích cực, bởi các quỹ đầu tư đáp ứng nhu cầu hết sức
bức bách về hạ tầng, bến bãi, điện, đường, xây dựng, địa ốc của nước ta.
Đại diện các quỹ thì cho rằng, việc lập quỹ đầu tư không chỉ là việc góp vốn
mà còn là sự hợp lực về nhiều khía cạnh của các đơn vị mang tính chuyên
môn cao để phát huy tối đa hiệu quả dòng vốn bỏ ra. Chưa kể luồng vốn dài
hạn được huy động sẽ làm giảm áp lực về lãi suất tín dụng
Ông Phạm Khánh Lynh, Phó Giám đốc VFM, cho biết, VF4 không ngần ngại
trong việc lập thêm quỹ mới với số vốn hàng nghìn tỉ đồng. Bởi chúng tôi chỉ
lấy điển hình 11 công ty lớn sẽ cổ phần hóa vào giai đoạn 2008-2010 thì đã có
vốn pháp định trên 8 tỉ USD, đây là cơ hội lớn để VF4 đổ tiền vào đầu tư. Từ
nay đến 2010, Nhà nước sẽ đưa ra cổ phần hóa hàng loạt doanh nghiệp lớn,
hoạt động trên nhiều lĩnh vực hết sức tiềm năng, nếu không có sẵn vốn thì sẽ
bỏ lỡ mất cơ hội.
c.Nhưng nỗ lực của các QĐT
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét