Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Nghiên cứu quy trình điều khiển ra hoa của loài lan VũNữ(Oncidium) tại Viện Sinh Học Nông Nghiệp, Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

5
http://www.ebook.edu.vn
nam đều là giống nhập nội. Một số loài hoa mang hương thơm là: Oncidium
cavendishianum, Oncidium cheirophorum, Oncidium incurvum, Oncidium
lancenaum, Oncidium ornithorhynchum…vv.

Đặc điểm của cánh hoa này là có thể
lưu giữ được khoảng 35-45 ngày, đặc
biệt hoa này là có thể nở vào tất cả các
mùa trong năm ,cánh hoa có màu vàng
tươi trông rất sáng và đẹp. mùa lạnh
không nên tưới nhiều dinh dưỡng và
nước.











(
Đây là hình ảnh toàn thể
của cây lan Oncidium Gower
Ramsey)















Dưới đây là một số hình ảnh về lan vũ nữ (Oncidium Gower Ramsey)

được
xử lý tại vườn lan của Viện Sinh Học Nông Nghiệp- Trường Đại Học Nông
Nghiệp I Hà Nội.


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

6
http://www.ebook.edu.vn

Mẫu đang xử lý ra hoa bằng ảnh hưởng của dinh dưỡng.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

7
http://www.ebook.edu.vn

Mẫu đang xốc khô để xử lý ra hoa.


2.3. Yêu cầu ngoại cảnh của cây lan Oncidium.
Đặc điểm chung của các loài hoa lan là ưa ánh sáng tán xạ và vùng có bóng
mát. Nó mọc ở những vùng có khí hậu nhiệt đới (Brazil) hay các vùng cận nhiệt
đới, chúng sống bám vào các chỗ gỗ xốp mục trên thân cây trong rừng.
Nó cần nhiều ánh sáng khoảng (15.000 – 20.000 lux) và cần rất ít nắng nên có
thể trồng hoa lan dưới ánh đèn điện được.
Về nhiệt
độ thì cây phát triển rất tốt ở nhiệt độ 15-35
o
c đây là khoảng nhiệt độ
trung bình và ấm, nếu giảm nhiệt độ xuống dưới 15
o
c một vài giờ cây không chết
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

8
http://www.ebook.edu.vn
nhưng kéo dài cây sẽ không ra hoa, nếu nhiệt độ tăng quá cao cần tăng độ ẩm và
tích cực thông thoáng gió.
Chế độ nước tưới cần cung cấp cho cây là khoảng 2-3 ngày tưới một lần tùy
thuộc vào điều kiện thời tiết từng ngày, từng mùa trong năm. Vào mùa đông trời
rét cần giảm số lần tưới nước, nước tưới cũng cần phải sạch sẽ tránh nguồn nước ô
nhiễ
m sẽ làm chết cây.
Trong quá trình chăm sóc hoa cần bón phân cho hoa với các loại phân bón chủ
yếu là: phân 20-20-20 và phân 30-10-10 và có thể phun một số loại phân bón lá
hay chất kích thích sinh trưởng để điều khiển ra hoa.
Việc nuôi trồng và chăm sóc hoa lan không thể bỏ qua giai đoạn thay chậu.
thường thay chậu vào mùa xuân khi cây còn non đã mọc được khoảng một gang
tay đây là giai đoạn thay chậu tốt nhất, dùng vỏ cây loại nhỏ cho các giống cây có
rễ nhỏ và những giố
ng có rễ lớn dùng vỏ cây loại trung bình, nén chặt vỏ cây vào
chậu trồng sao cho cây đứng thẳng, vững giữ độ ẩm cao và ngừng tưới nước đến
khi cây ra rễ, một số loài lá cứng, dầy như Oncidium mule ears hay Oncidium
amplitum…vv có thể buộc chặt chúng vào các vỏ cây và thân cây, sau một thời
gian chúng bám vào thân cây và hút chất dinh dưỡng từ đó.
Đối với loài lan vũ nữ hoa có thể nở vào tất cả các mùa trong năm, chúng ưa
bóng mát nên tránh để ngoài trời.
Công việ
c tưới phân và tưới nước phải được tiến hành vào buổi sáng sớm hoặc
chiều mát nên tưới nước trước khoảng 15 phút sau đó mới tưới phân để cây hấp
thụ tốt.
Tưới đúng liều lượng nếu không cây sẽ chết hoặc rung lá.
2.4 Tình hình sản xuất hoa lan ở việt nam và trên thế giới.
2.4.1. Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới.
Hoa lan có tên trong các loại cây cỏ ngành thực vật học thuộc loại đơn t
ử diệp
của gia đình Orchidaceae. Hoa lan được thế giới phát hiện và đem về nuôi trồng
rất sớm. Năm 1769 ông sĩ quan Louis Antoinne Bougainville đi vòng quanh trái
đất với nhà thực vậy gia người pháp Philibert commerson và đã mang về loài hoa
lan để nuôi trồng trang trí cho nhà mình. Dựa vào tiêu chuẩn thực vật học thì thế
kỷ thứ XIX là thế kỷ của những người tìm hoa lan. Vì lợi ích mà họ không ngại
những nguy hiểm, cực khổ, bệnh tật đôi khi còn
đem cả tính mạng mình ra thuế
chấp với những sự nguy hiểm đang chờ họ trong rừng sâu hoang dại ở các vùng
châu mỹ, châu phi, châu á. Và đã có những người như Walter Davis quốc tịch anh
đi bộ qua rặng Kordillieren ( Anden) ở nam mỹ trên độ cao băng giá 5000m, và đi
dọc theo dòng sông Amazonas từ đầu nguồn tới cuối nguồn và đã tìm được rất
nhiều cây lan. Người đồng hương của ông là Gustave Wallis đã bị bỏ mạ
ng ở
Ecuador vì cuộc hành trình tìm hoa lan nhưng ngược hướng với ông.
Người thành công nhất trong công việc tìm hoa lan thời đại này là Benedict
Roezl người tiệp khắc cũ, ông đã tìm ở vùng nhiệt đới nam mỹ, công việc tìm hoa
lan trong rừng sâu còn được người ta lập thành bản đồ để lừa đối phương và giữ bí
mật cho riêng mình.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

9
http://www.ebook.edu.vn
Những thành công và thất bại, vui buồn lẫn lỗn trong cuộc mạo hiểm tìm
“Người đẹp của rừng thẳm” đã mang lại hàng ngàn loại hoa lan.
Từ nhiều các cuộc khai thác này mà các loài lan co nguy cơ tuyệt chủng tới 13
loài, mặt khác nhu cầu và số lượng tiêu thụ hoa của người dân chơi hoa ngày càng
tăng lên, nên đã xuất hiện nhiều vùng nuôi trồng hoa lan trên khắp thế giới và
những nơi có điều kiện tự nhiên thu
ận lợi.
Ở châu á hoa lan được biết đến và đưa vào nuôi trồng rất sớm, thế kỷ XX
người anh mới đến Singapore mở ra thời kỳ mới cho hoa lan là lập các trang trại
nuôi trồng hoa lan và tìm ra công nghệ nuôi trồng hoa lan cho hiệu quả kinh tế
cao. Các loài lan được nuôi trồng phổ thông ở đây là: Arachnis, Vanda, Oncidium,
đồng thời có một số loài hoa mới được lai tạo ra (Phan Thúc Huân- Hoa lan nuôi
trồng và kinh doanh).
Hiện nay, tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới phát triển ngày càng mạnh
m
ẽ, nó đã trở thành một ngành thương mại có giá trị kinh tế cao mang lại nhiều lợi
nhuận cho người nuôi trồng và kinh doanh hoa.
Năm 1987 toàn thế giới đã tiêu thụ 80 tỷ USD cho hoa lan
Năm 1990 đã tiêu thụ hết 100 tỷ USD.
Trên thế giới đã có hàng trăm nước xuất khẩu và nhập khẩu hoa lan, cây cảnh
(Phan Thúc Huân) – nuôi trồng và kinh doanh hoa lan 1994 )
Có thể nói Thái Lan là một nước điển hình trong ngành nuôi trồng và xuất
khẩu hoa lan ở các nước châu Á ( Phan Thúc Huân ). Hiện nay Thái Lan
đang
đứng đầu về xuất khẩu hoa lan, hàng năm đã sản xuất 31,6 triệu cây con trong đó
Dendrobium chiếm 80%, Mokara chiếm 10% và Oncidium chiếm 5%, bán và thu
được 60-70 triệu USD (Đồng Văn Khiêm).
Việc nuôi trồng để sản xuất hoa lan hiện nay ở nhiều nước đã đạt đến số lượng
hàng trăm ngàn giò lan và cành lan mỗi năm, trước đây số lượng xuất khẩu chủ
yếu là lan được khai thác trong rừng. Đến nay, việc nuôi trồ
ng hoa lan đã được áp
dụng trên quy mô công nghiệp ngày càng phát triển. Ở nhiều nước, các nhà nuôi
trồng hoa lan nghiệp dư và chuyên nghiệp đã lập ra các hội hoa lan ngày càng
nhiều. Và đã có hơn 400 hội hoa lan trên thế giới, có nhiều chuyên san về hoa lan
đã được xuất bản. Nhiều cuộc hội thảo về hoa lan trên quy mô quốc tế được triệu
tập( Phan Thúc Huân).
Hiện nay, đối với các nước châu Âu và châu Mỹ cũng như hầu hết các nước
trên thế giới, hoa lan là một đặc phẩm cao quý. Đặc biệt, đến mùa giáng sinh lan
đã được xuất nhập một cách ồ ạt từ các nước chây Á như: Thái Lan,
Singapore…sang các nước Âu Mỹ với giá rất cao, thêu bao hàng loạt máy bay ồ ạt
chở sang phục vụ người tiêu dùng( Phan Thúc Huân).

2.4.2. Tình hình sản xuất hoa lan ở Việt Nam.
Khi Đà Lạt được phát hiện, thì hoa lan được hái từ tự nhiên đến năm 1960 việc
du nhập giống hoa lan mới vào Việ
t Nam đã giúp phát triển nghề nuôi trồng hoa
lan tại đây.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

10
http://www.ebook.edu.vn
Các cây lan được nuôi trồng ở Đà Lạt nằm trong các chi: Catleya, Dendrobium,
Paphiopedillum, Oncidium, Odontoglossum, Vanda.
Một số loài lan được ưa chuộng nhất tại các vườn lan Đà Lạt và Tây Nguyên là
Long tu( Dendrobium Primulinum Lindl)
Kim điệp( Den. Chrysotosum Lindl. Var. Delacourii Gagn)
Thủy tiên trắng( den. Farmeri Paxton)
Thủy tiên vàng( Den. Thyrsiflorum Rchb.f.)
Thủy tiên mỡ gà( Den. Densiflorum Wall)
Long nhãn kim điệp( Den. Fimbriatum Hook, var.oculatum Hook)









(Lan Hoàng thảo Long tu) (
Long nhãn kim điệp)
Thủy tiên trắng(Dendrobium farmeri)
Thủy tiên mỡ gà (Dendrobium densiflorum)


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

11
http://www.ebook.edu.vn
Do ở Việt Nam có hai miền khí hậu khác nhau rõ rệt. Miền Bắc có mùa đông
lạnh giá và bão, miền Nam có khí hậu ôn hòa ấm áp, quanh năm hầu như không có
bão. Vì vậy, vấn đề sản xuất, kinh doanh hoa ở miền Bắc chỉ thích hợp với việc
trồng các loại hoa tươi và cây cảnh, đối với hoa lan chủ yếu là khai thác từ rừng
hoang và việc nuôi trồng với số lượng ít để trưng bày thưởng thức, còn việc nuôi
trồ
ng theo quy mô công nghiệp không thích hợp do có mùa bão, dẫn đến giá thành
sản xuất hoa cao, hiệu quả kinh tế kém.
Ở miền Nam Việt Nam thích hợp với việc nuôi trồng hoa lan. Từ năm 1960
đến 1970, do ảnh hưởng của ngành hoa lan, cây cảnh thế giới( Thái Lan và các
nước Tây Âu). Những cây lan thuộc các giống như: Phalaennopsis, Dendrobium,
Cattleya, Cymbidium từ Thái Lan, Singapore, Pháp và Mỹ được nhập nội vào
miền Nam Việt Nam chủ yếu là đưa về Sài Gòn( Tức TP Hồ Chí Minh ngày nay)
và Đà Lạt phát triển mạnh( Phan Thúc Huân).
Việc xuất khẩu hoa lan của Việt Nam chính thức được bắt đầu vào năm 1980
do công ty Vegetexco xuất lan cắt cành Đà Lạt( Cymbidium) và các loại hoa khác
như hoa lay ơn( Glalioluscommunis L.), hoa lys. Các công ty Việt Nam lần đầu
tiên cử đại diện đi dự hội nghị hoa quốc tế được tổ chức tại Bratislava( Tiệp
Khắc), và buộc dây quan hệ với các công ty Unicoop( Tiệp Khắc), Inovator(
Hunggari) về hoa lan, cây cảnh.
Hiện nay, mới chỉ có một số
công ty lớn, trong đó có những công ty nước
ngoài trồng phong lan tại Đà Lạt, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai với diện tích khoảng
50-60 ha trên một doanh nghiệp. Một vài địa phương khác phong lan chỉ mới
trồng ở quy mô hộ gia đình trên diện tích từ vài m
2
đến vài nghìn m
2
, cá biệt mới
có vài hộ trồng từ 1- 2 ha. Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam bườc đầu cũng đã
có những thành công trong việc nuôi cấy mô tạo giống phong lan theo công nghệ
được chuyển giao từ Thái Lan. Một số địa phương khác như Sapa, Phú Yên đã
bước đầu khảo sát và nghiên cứu phương pháp nhân giống hoàn thiện quy trình
sản xuất phong lan.
Nhìn chung tình hình sản xuất hoa lan ở Việt Nam mới chỉ phát triển mạnh mẽ
ở các tỉ
nh phía nam, đăc biệt là ở Đà Lạt và TP Hồ Chí Minh. Tháng 8/2004, Lâm
Đồng đã thành lập hiệp hội hoa lan với tên gọi giao dịch là: Dalat Orchid
Association với mục đích là tập hợp những người yêu mến và có kinh nghiệm nuôi
trồng hoa lan tiến tới phát triển và nhân rộng, sản xuất theo hướng hàng hóa. Hiện
nay mỗi năm Đà Lạt mới chỉ sản xuất khoảng 200 ngàn đơn vị lan cắt cành ( Cao
Liên- Việt Nam hương sắc T8/2004).
Và mộ
t thực tế còn tồn tại hiện nay là mỗi năm Việt Nam vẫn phải chi hàng tỷ
đồng để nhập phong lan từ các nước láng giềng để đáp ứng nhu cầu nội địa. Trong
những tháng đầu năm 2007, mặc dù kim ngạch nhập khẩu hoa lan cắt cành đã
giảm đáng kể so với những tháng trước nhưng vẫn ở mức khá cao. Theo số liệu
thống kê của tổng cục hả
i quan, kim ngạch nhập khẩu phong lan cắt cành qua
đường chính ngạch của nước ta trong tháng 2/2007 là 26,515 nghìn USD, giảm
20,17 % so với tháng 1/2007 nhưng vẫn tăng 51,76% so với tháng 12/2006. Thị
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

12
http://www.ebook.edu.vn
trường nhập khẩu lan cắt cành chính của Việt Nam trong thời gian qua là ở Thái
Lan với gần 100% lượng lan cắt cành.

2.5. Một số nghiên cứu điều khiển ra hoa cho phong lan.
Theo De Vries (1953) sự nở hoa của lan hồ điệp là do sự thọ hàn. Nghiên cứu
này được bà Trần Thanh Vân bổ sung vào năm 1974, bằng kỹ thuật khí hậu đài tại
Gif Sur Yvette( Pháp). Bà đã điều khiển thành công sự ra hoa của loài
Phalaenopsis Schilleriana dưới 1 năm tuổi bằ
ng cách đặt cây vào khí hậu đài với
nhiệt độ 17
o
C vào ban đêm và 24
o
C vào ban ngày, độ ẩm 60-80%, quang chu kỳ
thay đổi từ 6-24 giờ chiếu sáng tùy điều kiện nuôi cây.
Trong thời gian từ 2-3 tháng cây lan sẽ nở hoa toàn bộ( Nguyễn Công Nghiệp-
trồng hoa lan-2006).
Ông Hồ Minh Bạch dùng Gibberelin với nồng độ 100 ppm và B1 để kích thích
sự ra hoa của lan và đã mang lại kết quả rất tốt.
Ở nước ngoài, Jach L.Bivins, dùng chất Gibberelin với nồng độ 500-5000 ppm
để tăng kích thước và rút ngắn thời gian nở hoa của các loài hoa thuộc giống
Cymbidium.
Câu lạc bộ học viện hoa lan trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
đã dùng phân bò viên để kích thích sự ra hoa của Cattleya kết quả mang lại rất khả
quan với BLC Almakee Tip Malee, một số nghệ nhân dùng phân vô cơ (0-24- 24)
để kích thích sự trổ hoa của một số loài Vanda treo( Nguyễn Công Nghiệp-trồng
hoa lan-2006).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

13
http://www.ebook.edu.vn
PHẦN III.
Kỹ Thuật Điều Khiển Ra Hoa Loài Lan ONCIDIUM.
(Oncidium Gower Ramsey)
3.1 Đối Tượng Và Vật Liệu Nghiên cứu.
3.1.1 Đối tượng:
Cây lan vũ nữ: Giống vũ nữ Oncidium Gower Ramsey đã nuôi cấy mô và được
Viện Sinh Học Nông Nghiệp-Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội, nhập về từ
Thái Lan, hoa màu vàng tươi có chấm nâu điểm trên cánh hoa, cánh hoa nhỏ, trên
một cành có nhiều chùm hoa.
3.1.2 Vật liệu:
Phân bón, nước tưới, và các chế phẩm điều khiển ra hoa.
Phân bón chủ yếu là:
Phân 20-20-20
Phân 30-10-10
Phân A, B, B

, C, D.
Chế phẩm: Kỳ nhân tố, GA3…
3.2 Phương Pháp Điều Khiển Ra Hoa.
Đã có nhiều phương pháp nghiên cứu được tiến hành, thử nghiệm tại các trung
tâm và các viện nghiên cứu trên cả nước trong đó có Vườn Lan của Viện Sinh
Học Nông Nghiệp- Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội. Tuy nhiên hiệu quả
mang lại cũng chưa cao tỷ lệ ra hoa chỉ khoảng 5-15% nên việc tìm ra công thức
và quy trình kỹ thuật để
điều khiển việc ra hoa của lan vũ nữ đồng loạt là một công
việc rất quan trọng trong sản xuất hoa thương mại. Do thời gian nghiên cứu có hạn
nên ở bài này chỉ đề cập đến một số thí nghiệm và các công thức điển hình mang
lại hiệu quả cao.
3.2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến sự xuất hiện ngồng hoa.
Ở đây ta tiến hành bố trí thí nghiệm làm 3 công thức, mỗ
i công thức 15 cây, 3
lần lặp lại.
Một tuần tưới phun dinh dưỡng 2 lần + phun nước xen kẽ giữa các lần phun
dinh dưỡng lượng phun là 1lit/1m
2
.
Các công thức thí nghiệm:
Công thức I(CT Đối Chứng): phun phân loại 20-20-20 (1g/l).
Công thức II: công thức này ta tiến hành phun luân phiên các loại phân
Phân A(2g/l) phun 2 lần
Phân B(1g/l) phun 3 lần
Phân C(3ml/l) phun 1 lần
Phân D(3ml/l) phun 1 lần.
Công thức III: phun luân phiên.
Phân A(2g/l) phun 2 lần
Phân B

(1,5g/l) phun 3 lần
Phân C(3ml/l) phun 1 lần
Phân D(3ml/l) phun 1 lần.

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Phan Văn Trường- Lớp 0404-K11

14
http://www.ebook.edu.vn
3.2.1.1 Các chỉ tiêu theo dõi.
3.2.1.1.1 Thí nghiệm trong mái nhà có lưới đen che tối 15%.
Kết quả thí nghiệm:
Công thức I:
Cây Số chồi mới/cây Chiều cao chồiSố lá/chồi
ngày 22/12 05/01 19/01 02/02 22/12 05/01 19/01 02/02 22/12 05/01 19/
01
02/02
1 0 0 1 1 0 0 6 13 0 0 3 4
2 0 00 000000 0 00
3 0 1 1 1 0 2 8 13.5 0 0 2 4
4 1 2 2 2 0.5 6 10 15 0 2 3 5
5 0 1 1 1 0 10 16.6 20 0 3 4 4
6 0 00 100030 0 00
7 0 00 000000 0 00
8 0 1 1 1 0 5 8.5 13 0 1 2 3
9 1 1 2 2 0.5 10 22 25.5 0 2 4 4
10 0 00 100050 0 01
11 0 1 1 1 0 1.5 5.5 11.5 0 0 2 3
12 0 1 1 1 0 1.5 5 10.5 0 0 1 2
13 0 00 000000 0 00
14 0 1 1 2 0 1 4.5 9 0 0 1 3
15 0 00 000000 0 00

Công thức II:
Cây Số chồi mới/cây Chiều cao chồiSố lá/chồi
ngày 22/12 05/01 19/01 02/02 22/12 05/01 19/01 02/02 22/12 05/01 19/
01
02/02
1 0 00 000000 0 00
2 0 00 10006.50 0 02
3 0 00 000000 0 00
4 0 1 1 1 0 0.5 4 6.5 0 0 0 1
5 0 00 000000 0 00
6 0 1 1 1 0 4.5 9 17.5 0 0 3 4
7 0 00 20004.50 0 02
8 0 00 000000 0 00
9 0 01 1001.590 0 13
10 0 00 000000 0 00
11 1 2 2 2 2 4.5 7 13 0 1 3 4
12 0 00 000000 0 00
13 0 00 100060 0 02
14 0 0 1 1 0 0 6 12 0 0 2 3
15 0 0 1 1 0 0 6.5 17.5 0 0 1 3





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét