5
- Đối với doanh nghiệp: Phƣơng pháp chọn mẫu có xác suất.
- Đối với ngƣời tiêu dùng: Phƣơng pháp chọn mẫu có xác xuất nở hoa.
Phƣơng pháp thu thập thông tin nghiên cứu.
- Thông tin thứ cấp: Thu thập từ Tổng cục thống kê; Báo Cáo Thƣơng mại điện tử;
các tạp chí chuyên ngành; internet và thông tin của các nghiên cứu liên quan.
- Thông tin sơ cấp: Thu nhập ý kiến ngƣời tiêu dùng sử dụng dịch vụ Selling
Online tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua bảng câu hỏi; bên cạnh sẽ có bài phỏng
vấn gồm các câu hỏi chuẩn bị sẵn để thu thập ý kiến từ phía các doanh nghiệp hiện đang
cung cấp dịch vụ Selling Online.
5. Điểm mới của đề tài nghiên cứu
Trƣớc khi thực hiện nghiên cứu này, nhóm chúng tôi đã tham khảo qua một số đề
tài nghiên cứu trƣớc đây có liên quan, và có một số nhận xét nhƣ sau:
- Đối với đề tài: “Phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế” năm 2003. Về mặt ƣu: đề tài đã khái quát đƣợc các vấn đề về internet,
khía cạnh liên quan mật thiết đến Selling Online; Đƣa ra cái nhìn khái quát về thƣơng
mại điện tử, qua đó thấy đƣợc phần nào các hoạt động Selling Online; Đề xuất đƣợc các
giải pháp cho phát triển thƣơng mại điện tử, cả về vi mô lẫn vĩ mô. Về nhƣợc điểm: Việc
trình bày có chƣa có trọng tâm và các giải pháp chƣa đƣợc chi tiết hóa; đồng thời không
nêu đƣợc định hƣớng phát triển cho thƣơng mại điện tử.
- Đối với đề tài: “ Sử dụng internet và thái độ ngƣời tiêu dùng hƣớng đến việc
mua sắm qua mạng” cũng trong năm 2003. Về ƣu điểm: nhìn chung nghiên cứu đã trình
bày rất rõ ràng các vấn đề về internet và thực trạng các vấn đề mua sắm qua mạng trên
thế giới và Việt Nam; các giải pháp rất chi tiết và rõ ràng về mọi khía cạnh cũa hoạt
động mua sắm qua mạng. Xong, khuyết điểm của đề tài là các giải pháp còn thiếu tính
thực tế và vẫn không định hƣớng đƣợc hƣớng phát triển cho hoạt động này.
Nhƣ vậy, sau khi tham khảo hai đề tài trên, nhóm xin tiếp thu các vấn đề nghiên
cứu thực trạng và cơ sở lý luận của các đề tài trên, vì nhìn chung các đề tài đã đáp ứng
đƣợc các vấn đề cần nghiên cứu. Bên cạnh đó thì đề tài của nhóm có một số điểm mới so
với các đề tài trên nhƣ sau:
- Các vấn đề nghiên cứu tập trung ở TP. Hồ Chí Minh, chứ không nghiên cứu một
cách chung chung nhƣ các đề tài khác, theo nhóm việc nghiên cứu vấn đề thực trang,
giải pháp này cần phải tiến hành trên một khu vực cụ thể đồng nhất các yếu tố về pháp
luật, văn hóa, công nghệ…
6
- Nhóm định hƣớng đƣợc hƣớng phát triển, các giải pháp cụ thể hơn, và đặc biệt là
mô hình mới cho hoạt động này ở TP.Hồ Chí Minh, đây là các điểm mới hoàn toàn so
với các đề tài khác.
6. Tóm tắt đề tài nghiên cứu
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bán hàng và Selling Online
Trong chƣơng này, chúng tôi tìm hiểu các vấn đề lý luận về bán hàng và Selling
Online. Thông qua đó xác định các hình thức bán hàng và Selling Online hiện tại đƣợc
sử dụng. Ngoài ra, việc nghiên cứu các công cụ hỗ trợ cho hoạt động Selling Online và
các yếu tố tác động đến hoạt động Selling Online nhƣ: môi trƣờng kinh tế, văn hóa, pháp
luật cũng sẽ đƣợc đề cập trong phần này. Trong chƣơng này lƣu ý phân biệt rõ Selling
Online và thƣơng mại điện tử qua một số sản phẩm, dịch vụ chủ yếu khi kinh doanh qua
Selling Online.
Chƣơng 2 : Thực trạng hoạt động Selling Online tại Việt Nam và TP. Hồ
Chí Minh
Chƣơng này đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động Selling Online tại TP. Hồ Chí
Minh. Trong đó sẽ tập trung vào các vấn đề thực trạng hoạt động Selling Online tại TP.
Hồ Chí Minh, từ các cấp quản lý đến các doanh nghiệp để có thể thấy đƣợc những khó
khăn, thuận lợi của Selling Online tại TP.Hồ Chí Minh đồng thời sử dụng mô hình
Micheal Porter để phân tích toàn ngành Selling Online. Bên cạnh đó là việc phân tích
các kết quả nghiên cứu của các hoạt động Selling Online ở TP. Hồ Chí Minh. Việc phân
tích này dựa trên khảo sát ngƣời tiêu sử dụng dịch vụ Selling Online.
Chƣơng 3: Các kết luận. Định hƣớng phát triển và giải pháp cho hoạt động
Selling Online tại TP. Hồ Chí Minh.
Các kết luận trong chƣơng này đƣợc rút ra từ hai nguồn. Thứ nhất, từ việc nghiên
cứu thực trạng Selling Online; thứ 2 từ việc phân tích ngƣời tiêu dùng đang sử dụng dịch
vụ Selling Online. Từ các kết luận này và việc xem xét các mô hình Selling Online đã
thành công, đề xuất mô hình Selling Online cho các doanh nghiệp, đồng thời xác định
đƣợc hƣớng phát triển và các giải pháp cho hoạt động Selling Online tại TP. Hồ Chí Minh.
7
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁN HÀNG, SELLING ONLINE.
MÔ HÌNH SELLING ONLINE HIỆN NAY
Chƣơng này trình bày các vấn đề về bán hàng, Selling Online, các lĩnh vực hoạt
động của Selling Online. Bên cạnh đó, chƣơng sẽ giới thiệu các công cụ hỗ trợ, mô hình
Selling Online của đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam và tìm hiểu một quốc gia có
hoạt động Selling Online phát triển mạnh, đó là Mỹ. Trên cơ sở đó, tạo tiền đề cho việc
nghiên cứu thực trạng ở chƣơng 2 và định hƣớng, giải pháp phát triển ở chƣơng 3. Lƣu
ý, Selling Online là lĩnh vực rộng. Do đó, với nội dung nghiên cứu của đề tài này, chúng
tôi chỉ tập trung nghiên cứu Selling Online theo hình thức B2C. Tất cả các định hƣớng,
giải pháp kiến nghị chỉ dành riêng cho B2C.
1.1 Bán hàng
1.1.1 Định nghĩa về bán hàng
Bán hàng là hoạt động thực hiện sự trao đổi sản phẩm hay dịch vụ của ngƣời bán
chuyển cho ngƣời mua để đƣợc nhận lại từ ngƣời mua tiền hay vật phẩm hoặc giá trị
trao đổi đã thỏa thuận.
Giai đoạn Bán hàng liên quan đến hầu hết hoặc nhiều hoạt động sau, bao gồm việc
tìm kiếm những khách hàng tiềm năng trong một phân đoạn thị trƣờng; thông báo về
tính năng, ƣu điểm và lợi ích của một sản phẩm hay dịch vụ để tiến tới kết thúc quá trình
mua bán (hoặc dẫn đến một thỏa thuận về giá cả và dịch vụ).
1.1.2 Vai trò của bán hàng
Bán hàng giúp cho hàng hóa đƣợc lƣu chuyển từ nơi sản xuất đến tay ngƣời tiêu
dùng. Xã hội không có bán hàng thì nền sản xuất sẽ bị đình trệ, nền kinh tế sẽ bị suy
thoái vì khủng hoảng cung cầu, xã hội vì thế không thể phát triển.
Bán hàng còn đóng vai trò lƣu thông tiền tệ trong guồng máy kinh tế.
Bán hàng giúp cho luân chuyển hàng hóa từ nơi dƣ thừa sang nơi có nhu cầu. Vì
thế bán hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cân bằng nhu cầu xã hội.
Bán hàng mang về lợi ích cho cả ngƣời mua lẫn ngƣời bán. Đối với ngƣời mua, lợi
ích của họ là có đƣợc sản phẩm. Còn đối với ngƣời bán, đó là lợi nhuận từ kinh doanh.
Mỗi vòng luân chuyển tiền – hàng đều phát sinh lợi ích cho cả hai bên.
1.1.3 Phân loại bán hàng
1.1.3.1 Căn cứ theo địa điểm bán hàng
- Bán hàng lƣu động: là cách thức bán hàng mà ngƣời bán phải đích thân tìm đến
nơi khách hàng đang hiện diện, hay đang có nhu cầu.
8
- Bán hàng tại cửa hàng, tại quầy hàng: là cách thức bán hàng mà ngƣời mua phải
tìm đến chỗ của ngƣời bán để thực hiện giao dịch, mua bán. Ngƣời bán có sẵn các cửa
tiệm, quầy hàng. Loại này có thể bán lẻ hoặc bán sỉ.
1.1.3.2 Căn cứ theo quy mô bán
- Bán sỉ: là bán hàng mà khối lƣợng hàng hóa giao dịch trong mỗi thƣơng vụ là rất
lớn. Ngƣời mua thƣờng mua về để bán lại hoặc sử dụng cho tập thể.
- Bán lẻ: là bán hàng mà hàng hóa đƣợc bán ra cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng với
số lƣợng nhỏ.
1.1.3.3 Căn cứ theo sự sở hữu hàng hóa
- Bán hàng tự sản tự tiêu: là cách thức bán hàng mà ngƣời bán tự sản xuất hàng hóa
rồi bán trực tiếp cho ngƣời mua.
- Bán hàng mua lại: là cách thức bán hàng mà ngƣời bán mua lại hàng hóa của nhà
sản xuất hay một nhà phân phối khác theo cách mua đứt bán đoạn rồi toàn quyền định
giá bán lại cho ngƣời khác.
- Bán hàng qua trung gian, môi giới, đại lý: là cách thức bán hàng mà ngƣời bán
đóng vai trò là trung gian, môi giới hay đại lý cho các nhà sản xuất. Với cách thức này
ngƣời bán không có quyền sở hữu đối với hàng hóa ở bất cứ thời kỳ hay giai đoạn nào.
1.1.3.4 Căn cứ theo hình thái của hàng hóa
- Bán hàng hóa: ngƣời bán sẽ bán những vật phẩm hữu hình.
- Bán dịch vụ: ngƣời bán cung cấp những dịch vụ cho ngƣời mua nhƣ khám bệnh,
tƣ vấn, đào tạo, chuyên chở, chăm sóc sắc đẹp, sửa xe, giải trí…
- Bán giấy tờ có giá trị: đó là các loại chứng khoán nhƣ cổ phiếu, trái phiếu…
1.1.3.5 Căn cứ theo loại hàng hóa hiện tại hay tƣơng lai
- Bán hàng hiện có: là bán những mặt hàng đã đƣợc sản xuất và đang đƣợc trƣng
bày hay còn trong kho.
- Bán hàng sẽ có: là bán những mặt hàng chƣa đƣợc sản xuất, những mặt hàng này
chỉ đƣợc sản xuất theo đơn đặt hàng của ngƣời mua.
1.1.3.6 Căn cứ theo hình thức cửa hàng
- Bán hàng tại cửa tiệm chuyên doanh: là các cửa hàng chỉ bán chuyên một mặt
hàng, một nhóm mặt hàng hay một nhãn hiệu.
- Bán hàng tại siêu thị: là loại hình cơ sở kinh doanh đặc biệt bao gồm một quần
thể phức tạp mặt bằng đƣợc xây dựng những khu vực rộng lớn, chuyên dùng. Hoạt động
theo phƣơng thức tự phục vụ là chính.
9
- Bán hàng tại trung tâm thƣơng mại: là một tổ hợp tập trung các cơ sở thƣơng mại
bán lẻ và bán buôn, kể cả dịch vụ ăn uống, khách sạn, bãi đỗ xe, các cơ sở dịch vụ sinh
hoạt xã hội, các văn phòng hội thảo, giao dịch thông tin, tƣ vấn và các dịch vụ khác,
đƣợc quy hoạch trong cùng một quần thể kiến trúc thống nhất nhằm thỏa mãn đồng bộ
một bầu không khí thƣơng mại và dịch vụ thuận lợi nhất.
- Bán hàng tại cửa tiệm tạp hóa, bách hóa: là bán nhiều loại hàng hóa thiết yếu
khác nhau. Quy mô cửa hàng nhỏ, thƣờng chỉ có một, hai ngƣời bán phục vụ khách
hàng.
Bán hàng tại sạp chợ: bán một số mặt hàng cùng chủng loại trong các sạp chợ.
1.1.3.7 Căn cứ theo đối tƣợng mua
- Bán cho ngƣời tiêu dùng: ngƣời mua mua hàng hóa nhằm mục đích tiêu dùng cá
nhân, không mua để kinh doanh hay bán lại để hƣởng chênh lệch.
- Bán cho khách hàng công nghiệp: ngƣời mua mua hàng hóa với số lƣợng lớn để
phục vụ cho sản xuất kinh doanh hay sử dụng tập thể.
- Bán cho khách hàng thƣơng nghiệp: ngƣời mua mua hàng hóa để bán lại nhằm
hƣởng phần chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán ra.
- Bán xuất khẩu: ngƣời mua mua hàng hóa để bán ra nƣớc ngoài.
1.2 Selling Online
1.2.1 Định nghĩa
Selling Online là bao gồm các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ
theo một chu trình khép kín trên các website, tất cả các hoạt động từ lựa chọn hàng hóa
đến thanh toán và giao hàng đều đƣợc thực hiện thông qua mạng internet.
Một số đặc điểm của Selling Online :
- Các bên mua, bán không phải biết nhau và cũng không cần giao dịch trực tiếp với
nhau.
- Các hoạt động giao dịch Selling Online đƣợc thực hiện trên phạm vi toàn cầu.
- Tất cả các hoạt đông Selling Online đều phải thông qua mạng internet và gần nhƣ
mạng internet cũng chính là thị trƣờng hoạt động của Selling Online, nó cung cấp tất cả
các thông tin cần thiết cho hoạt động Selling Online.
1.2.2 Vai trò của Selling Online
1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp
- Tiết kiệm chi phí: Selling Online trƣớc hết là giúp chúng ta có thể giảm đƣợc các
chi phí sản xuất, hoạt động. Trƣớc hết là chi phí văn phòng, các văn phòng không giấy
tờ (paperless office) chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao
10
tài liệu giảm nhiều lần, không phải tốn kém nhiều cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng,
nhân viên phục vụ, cũng không cần phải đầu tƣ nhiều cho kho chứa ( theo số liệu của
hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hƣớng này đạt tới 30%). Chúng ta chỉ
tốn một số tiền không nhiều để xây dựng một website bán hàng và một ít chi phí để duy
trì hoạt động của website mỗi tháng. Ngoài ra, Selling Online còn giúp giảm đáng kể các
khoản chi phí về bán hàng, tiếp thị, giao dịch… Với sự tiện lợi, nhanh chóng và chi phí
thấp của internet đã giúp cho hoạt động Selling Online tiết kiệm thời gian hơn rất nhiều
so với các hoạt động mua bán thông thƣờng ( ngƣời bán có thể cùng lúc giao dịch với
nhiều khách hàng với tốc độ cao ), chí phí giao dịch qua internet cũng chỉ bằng từ 10% -
20% so với các loại giao dịch khác, còn chi phí tiếp thị cũng rất thấp so với các hình
thức tiếp thị thông thƣờng nhƣ tivi, tạp chí…
- Cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng : Selling Online có thể cung cấp
catalogue, brochure, thông tin, bảng báo giá cho đối tƣợng khách hàng một cách cực kỳ
nhanh chóng, có thể tạo điều kiện cho khách hàng mua hàng trực tiếp từ trên mạng v.v…
Doanh nghiệp cũng có thể theo dõi các hành vi mua hàng của khách hàng dựa vào các
hệ thống quan lý để từ đó giới thiệu đƣợc những sản phẩm phù hợp hoàn toàn với nhu
cầu của khách hàng.
- Thu thập thông tin, quảng bá tiếp thị trên thị trƣờng toàn cầu, thu hút khách hàng,
đối tác mới : Selling Online giúp các doanh nghiệp dể dàng thu thập thông tin về thị
trƣờng, đối tác từ đó xây dựng những chiến lƣợc sản xuât, kinh doanh phù hợp với xu
hƣớng thế giới. Selling Online còn giúp doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, thƣơng hiệu
của mình trên toàn cầu một cách nhanh chóng, chỉ với chi phí cực rẻ thì tất cả những
thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp có thể đến với hàng triệu ngƣời trên thế giới
một cách nhanh nhất. Nhờ đó mà doanh nghiệp có thêm các bạn hàng mới và các cơ hội
kinh doanh mới đƣợc phát hiện nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, toàn khu vực, toàn
thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.
1.2.2.2 Đối với ngƣời tiêu dùng
- Ngƣời tiêu dùng có thể tìm thấy và lựa chọn bất cứ hàng hóa nào trên internet, từ
những vật dụng nhỏ nhất trong sinh hoạt hàng ngày đến những hàng hóa cao cấp, đắt
tiền với nhiều ƣu thế nổi bật nhƣ nhanh hơn, rẻ hơn, tiện dụng hơn, hiệu quả hơn và
không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
- Khách hàng cũng sẽ để dàng trong cập tìm hiểu thông tin về sản phẩm từ nhiều
nguồn khác nhau, góp phần tìm hiểu thêm đƣợc nhiều kiến thức phong phú, bổ ích. Họ
cũng có thể tham gia đƣợc hƣởng những sự giúp đỡ và hỗ trợ của cộng đồng trực tuyến.
11
- Ngoài ra, ngƣời mua cũng có thể lựa dịch vụ, sản phẩm để đƣợc cảm thấy an tâm
khi mua vì Selling Online buộc các doanh nghiệp phải cạnh tranh bằng chất lƣợng, giá
cả, dịch vụ nên cuối cùng có lợi nhất vẫn là ngƣời tiêu dùng. Các hình thức hỗ trợ của
doanh nghiệp cũng rất đa dạng nhƣ trả lời thắc mắc của khách hàng, email trả lời tự
động, thông tin cập nhật, diễn đàn ngƣời tiêu dùng, tán chuyện trên mạng…
1.2.2.3 Đối với quốc gia, xã hội
Selling Online kích thích mạnh sự phát triển của công nghệ thông tin, giúp
các nền kinh tế trong nƣớc để tiếp cận với xu hƣớng của thị trƣờng quốc tế. Điều này rất
có lợi cho các nƣớc đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp hóa có thể rút ngắn
đáng kể thời gian tiếp cận và hội nhập quốc tế.
Đi đôi với việc phát triển nền kinh tế quốc gia, Selling Online còn góp phần lớn
vào phục vụ lợi ích cộng đồng, giúp ngƣời dân nâng cao kiến thức, chất lƣợng cuộc
sống.
1.2.2 Phân loại hình thức Selling Online
1.2.2.1 B2C (Business – Consumer)
Đây là mô hình giao dịch giữa doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng, tƣơng tự nhƣ hình
thức bán lẻ trên mạng. Nó liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các
hàng hoá thực (hữu hình nhƣ là sách hoặc sản phẩm tiêu dùng) hoặc sản phẩm thông tin
(hoặc hàng hoá về nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá, nhƣ phần mềm, sách điện
tử) và các hàng hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng internet.
Các trang web khá thành công với hình thức này trên thế giới phải kể đến nhƣ
Amazon.com, Drugstore.com, Beyond.com. Tuy nhiên, tại Việt Nam thì hình thức này
phát triển chƣa cao vì nhiều lý do nhƣng lý do chủ quan nhất là ý thức của các doanh
nghiệp, họ không quan tâm, không để ý và tệ nhất là không chăm sóc nổi website cho
chính doanh nghiệp mình. Mặc dù chi phí để thành lập và duy trì website là rất ít tốn
kém cho nên doanh nghiệp Việt Nam nếu vẫn trì trệ trong việc cập nhật công nghệ thì sẽ
sớm bị các doanh nghiệp trẻ, doanh nghiệp nƣớc ngoài chiếm mất thị trƣờng béo bở 80
triệu dân với 40% là giới trẻ.
1.2.2.2 B2B ( Business – Business)
Mô hình giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau. Các doanh nghiệp sẽ thực hiện
các lệnh đăt hàng, nhận hóa đơn và tiến hành thanh toán thông qua mạng internet. Loại
hình này hoạt động rất tố trong những năm gần đây, đặc biệt là trong việc sử dụng EDI
trong mạng cá nhân hoặc mạng giá trị gia tăng WAN.
12
Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng ( Đặc biệt chu trình
đặt hàng mua hàng), quản lý kho hàng (Chu trình quản lý đặt hàng gửi hàng-vận đơn),
quản lý phân phối (đặc biệt trong việc chuyển gia các chứng từ gửi hàng) và quản lý
thanh toán (ví dụ hệ thống thanh toán điện tử hay EPS). Tại Việt Nam các trang web về
B2B rất ít xuất hiện hoặc nó bị gán nhầm cho cái tên B2B thậm chí nhiều ngƣời không
hiểu B2B là gì, cứ thấy có doanh nghiệp với doanh nghiệp là gán cho chữ B2B. Tuy có
một số nhà cung cấp B2B trong lĩnh vực IT "khá nổi tiếng" là FPT , CMC, Tinh Vân
chuyên cung cấp các giải pháp trên mạng internet nhƣ cung cấp máy chủ, hosting (Dữ
liệu trên mạng), tên miền, các dịch vụ thiết kế, bảo trì, website, các phần mềm quản lý
doanh nghiệp, kế toán doanh nghiệp, các phần mềm quản trị, các phần mềm ứng dụng
khác cho doanh nghiệp nhƣng chất lƣợng của các sản phẩm này vẫn chƣa đƣợc đảm bảo
và giá thành thì lại rất cao.
1.2.2.3 B2G ( Business – Government)
Mô hình giao dịch giữa doanh nghiệp và các tổ chức chính phủ. Mô hình này giúp
cho những giao dịch giữa các tổ chức chính phủ và các doanh nghiệp diễn ra nhanh
chóng và thuận lợi. Ngoài các hoạt động mua bán thông thƣờng thì mô cũng có thể áp
dụng cho các hoạt động thu thuế, đăng ký và đóng các loại lệ phí.
Mô hình này có 2 đặc tính :
- Thứ nhất, khu vực hành chính công có vai trò dẫn đầu trong việc.
- Thứ hai, ngƣời ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất trong việc biến các
hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn.
Ngoài ra, các chính sách mua bán trên website cũng giúp tăng cƣờng tính minh
bạch của quá trình mua hàng (giảm thiểu những rủi ro của việc không đúng quy cách).
Tuy nhiên mô hình này chiếm tỉ trọng không đáng kể vì hệ thống mua bán của chính còn
kém phát triển.
1.2.2.4 B2E (Business – Employees)
Mô hình giao dịch giữa doanh nghiệp và nhân viên, trong đó nhân viên đóng vai
trò trọng tâm. Theo một nghĩa rộng thì B2E bao gồm cả các hoạt động thu hút và giữ
chân nguồn nhân lực giỏi trong một thị trƣờng cạnh tranh. Các cổng B2E đôi khi đƣợc
coi là đồng nghĩa với một mạng nội bộ , nhƣng nó khác ở cho là tập trung vào mong
muốn của nhân viên của mạng nội bộ. Mục đích không chỉ là tăng hiệu quả, mà còn là
sự hài lòng và ý thức về cộng đồng trong tổ chức của nhân viên. Một cổng B2E có ba
đặc điểm phân biệt:
- Một điểm duy nhất của cụm từ: một URL cho tất cả mọi ngƣời trong một tổ chức.
13
- Một hỗn hợp của các tổ chức cụ thể và thành phần nhân viên đƣợc xác định.
- Các khả năng tùy biến đƣợc đánh giá cao và dễ dàng bị thay đổi cho phù hợp với
nhân viên cụ thể.
1.2.2.5 C2B (Consumer to Business )
Mô hình kinh doanh mà trong đó ngƣời tiêu dùng (cá nhân) cung cấp sản phẩm và
dịch vụ cho các công ty và các công ty trả cho họ. Mô hình kinh doanh này là một sự
đảo ngƣợc hoàn toàn của mô hình kinh doanh truyền thống nơi các công ty cung cấp
hàng hóa và dịch vụ cho ngƣời tiêu dùng.
Loại mối quan hệ kinh tế là đủ điều kiện nhƣ là một mô hình kinh doanh đảo
ngƣợc. Sự xuất hiện của Đề án C2B là do sự thay đổi lớn:
- Kết nối một nhóm lớn của ngƣời dân với một mạng hai chiều đã có những sắp
xếp này của mối quan hệ thƣơng mại có thể. Các phƣơng tiện truyền thông truyền thống
lớn các cửa hàng là một trong những hƣớng quan hệ trong khi internet là một trong hai
hƣớng.
- Giảm chi phí của công nghệ: Các cá nhân bây giờ đƣợc tiếp cận với công nghệ đã
đƣợc một lần chỉ có sẵn cho các công ty lớn (in kỹ thuật số và công nghệ mua lại, máy
tính hiệu suất cao, mạnh mẽ phần mềm)
1.2.2.6 C2G (Consumer to Government)
Mô hình kinh doanh cá nhân và chính phủ tuy chƣa xuất hiện song cùng với sự
phát triển của các loại hình thƣơng mại điện tử kể trên. Tuy nhiên, ở một số nƣớc phát
triển, chẳng hạn nhƣ tại Úc, cơ quan thuế của chính phủ đã đƣợc thông qua việc chỉ định
thuế tƣ nhân, hay công ty tài chính kế toán sử dụng phƣơng tiện điện tử để khai thuế cá
nhân. Chính phủ nhƣ là kinh doanh tiêu dùng, kinh doanh- cơ chế điều hành của phát
triển các dịch vụ của cộng đồng cá nhân thực hiện toàn diện hơn dựa trên các dịch vụ
điện tử nhƣ, các chính phủ sẽ mở rộng quan hệ với các cá nhân trong các lĩnh vực chẳng
hạn nhƣ chi trả các khoản trợ cấp xã hội.
1.2.2.7 C2C (Consumer to Consumer)
Mô hình giao dịch giữa ngƣời tiêu dùng với nhau. Nó đƣợc hình thành bởi sự phát
triển của công nghệ điện tử và thị trƣờng đấu giá trên internet. Hình thức này tuy xuất
hiện chƣa lâu nhƣng đã và đang phổ biến ngày càng rộng rãi dƣới các hình thức nhƣ
website đấu giá, mua bán, rao vặt, hiệp hội khách hàng mua sỉ để đƣợc hƣởng các chính
sách ƣu đãi từ nhà sản xuất.
Loại hình này đƣợc thực hiện theo ba dạng :
14
- Đấu giá trên một cổng, chẳng hạn nhƣ eBay, cho phép đấu giá trên mạng cho
những mặt hàng đƣợc bán trên web.
- Hệ thống hai đầu nhƣ Napster (một giao thức chia sẻ dữ liệu giữa ngƣời dùng sử
dụng diễn đàn nói chuyện IRC) và các hình thức trao đổi file và tiền.
- Quảng cáo phân loại tại một cổng nhƣ Excite Classifieds và eWanted (một thị
trƣờng mạng trao đổi qua lại nơi ngƣời mua và ngƣời bán có thể thƣơng thuyết và với
đặc thù “ngƣời mua hƣớng tới & muốn quảng cáo”).
1.2.3.8 G2C ( Government to Consumer)
Loại hình giao dịch giữa chính phủ và cá nhân. Nó chủ yếu chỉ là những giao dịch
mang tính hành chính nhƣng dựa trên những dịch vụ internet. G2C cũng nhƣ một kênh
thông tin truyền thông dựa vào công nghệ thông tin truyền thông (hoặc ICT), nhƣng
cũng có thể bao gồm các mail trực tiếp và phƣơng tiện truyền thông chiến dịch. Ngoài
ra, nó còn dung nhƣ những giao dịch nhƣ đóng thuế qua mạng, trả phí khi đăng ký hồ
sơ trực tuyến…
1.2.3.9 G2B ( government to business)
Sự tƣơng tác trực tuyến, phi thƣơng mại giữa chính phủ và các doanh nghiệp.
Trong đó, chính phủ phát triển các website G2B và cung cấp các dịch vụ cho các thành
phần kinh tế. Các dạng dịch vụ phổ biến của G2B: phổ biến nôi dung các chƣơng trình,
chính sách; doanh nghiệp truy cập và tham gia các chƣơng trình nghị sự của chính phủ;
thông tin tài trợ, kích thích tiêu dung, hỗ trợ kinh tế; quản lý thuế, đăng ký và hƣớng dẫn
các hồ sơ kinh doanh, tài chính…
1.2.3.10 G2G (government to government)
Sự tƣơng tác trực tuyến, phi thƣơng mại giữa Chính phủ tổ chức, sở, ngành này với
Chính phủ, tổ chức, sở ngành khác. Nó đƣợc sử dụng phổ biến ở Vƣơng quốc Anh, hệ
thống G2G có 2 loại chính :
- Một là tƣơng tác giữa các tổ chức, sở ngành trong nội bộ một chính phủ.
- Hai là tƣơng tác giữa các tổ chức, chính phủ khác nhau.
1.3 Mộ t số lĩnh vực hoạt động kinh doanh Selling Online hiệ n nay
1.3.1 Những sản phẩm có độ chuẩn hóa cao
Với những sản phẩm đạt mức độ tiêu chuẩn hóa cao, thông qua các thông số kỹ
thuật, ngƣời mua có thể đánh giá toàn diện và có ý niệm tƣơng đối đầy đủ về sản phẩm
mà không cần phải giám định một cách trực quan. Với đặc thù này, những sản phẩm kỹ
thuật tiêu chuẩn hóa rất phù hợp với hình thức kinh doanh trực tuyến, khi ngƣời mua
không có điều kiện trực tiếp tiếp xúc và đánh giá sản phẩm. Một số nhóm hàng sau đây
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét