Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Bắc trung bộ






Bộ giáo dục v đo tạo Học viện chính trị - hnh chính
Quốc gia Hồ Chí Minh





Nguyễn Xuân Phong





Quan hệ giữa tăng trởng kinh tế v công bằng xã hội ở Bắc Trung Bộ việt
nam hiện nay




Chuyên ngnh: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
v chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 80 05




Tóm tắt luận án tiến sĩ triết học





Hà Nội- 2009



Luận án đợc hon thnh tại Học viện Chính trị- Hnh chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS. TS Nguyễn Tĩnh Gia
HọC VIệN CHíNH TRị-HNH CHíNH QUốC GIA Hồ CHí MINH
Phản biện 1:
GS,TS. hong chí bảo
hội đồng lý luận trung ơng
Phản biện 2:
GS, TS. PHạM QUANG PHAN
TRƯờNG ĐạI HọC KINH Tế QUốC DÂN
Phản biện 3:
PGS, TS. TRầN ĐìNH THIÊN
VIệN KINH Tế VIệT NAM


Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án
cấp nhà nớc họp tại Học viện Chính trị- Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh


Vào hồi 14 giờ 00 ngày 04 tháng 01 năm 2009









Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Th viện Quốc gia
- Th viện Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh










Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả
đ đợc công bố liên quan đến đề ti luận án

1. Nguyễn Xuân Phong (2003), Quảng Trị gắn tăng trởng kinh tế với công tác dân
số - kế hoạch hoá gia đình, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, (4), Tr.54 - 55.
2. Nguyễn Xuân Phong (2003), Quảng Trị gắn việc thực hiện tăng trởng kinh tế với
việc thực hiện chính sách xã hội, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (6), Tr. 53 - 56.
3. Nguyễn Xuân Phong (2006), Tăng trởng kinh tế bền vững ở nớc ta - vấn đề và
giải pháp, Tạp chí Doanh nghiệp, (8), Tr.16 - 17.
4. Nguyễn Xuân Phong (2006), Tăng trởng kinh tế bền vững ở nớc ta - vấn đề và
giải pháp, Tạp chí Doanh nghiệp, (9), Tr.22 - 24.
5. Nguyễn Xuân Phong (2007), Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng
xã hội, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (4), Tr.36 - 38.
6. Nguyễn Xuân Phong (2008), Quá trình nhận thức của Đảng về công bằng xã hội,
Tạp chí Lý luận chính trị, (4), Tr.46 - 50.
7. Nguyễn Xuân Phong (2008), Công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam,
Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (7), Tr.16 - 19.
8. Nguyễn Xuân Phong (2008), Công bằng xã hội trong lịch sử t tởng trớc
C.Mác, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, (5), Tr.9 - 12.


1
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo trong hơn
20 năm qua đã mang lại cho đất nớc ta những thành quả có ý nghĩa to lớn trên mọi
lĩnh vực. Kinh tế đã vợt qua thời kỳ khó khăn và đạt tốc độ tăng trởng khá cao, liên
tục trong nhiều năm, năm sau cao hơn năm trớc. Tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh. Chỉ số
phát triển con ngời (HDI) đợc cải thiện đáng kể. Tuổi thọ trung bình của ngời dân
đợc nâng cao. Đời sống nhân dân đợc cải thiện một bớc. Tình hình chính trị - xã hội
cơ bản ổn định. Quốc phòng và an ninh đợc tăng cờng. Vị thế của Việt Nam đợc
mở rộng trên trờng quốc tế. Sức mạnh về mọi mặt của nớc ta đã lớn hơn trớc nhiều.
Tuy nhiên, bên cạnh những thnh tựu chúng ta đã đạt đợc thì hàng loạt vấn đề tiêu
cực nảy sinh: chất lợng tăng trởng kinh tế cha cao, cha bền vững; hiệu quả kinh tế
không tỷ lệ thuận với tăng trởng; đạo đức xã hội có biểu hiện suy thoái, tệ nạn và tội
phạm xã hội diễn ra rất phức tạp; môi trờng sinh thái đang bị ô nhiễm; tình trạng bất
bình đẳng, phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo giữa các miền, vùng, thậm chí ngay
trên cùng một địa bàn dân c khá gay gắt. Đặc biệt, vấn đề công bằng xã hội trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trờng đang đòi hỏi phải đợc lý giải rõ về mặt lý luận và
phải hiện thực hoá trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Để sớm thực hiện thành công mục tiêu: Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh, chúng ta cần phải quán triệt tốt quan điểm chỉ đạo của Đảng: Tăng
trởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng b
ớc và từng
chính sách phát triển. Mỗi bớc tăng trởng kinh tế phải gắn chặt với quá trình nâng
cao đời sống nhân dân, xây dựng đời sống xã hội lành mạnh.
Do đó, sự kết hợp giữa tăng trởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội đang là
bài toán xã hội - chính trị khó đặt ra cho con đờng phát triển ở nớc ta. Nội dung này
luôn đợc xem là vấn đề thời sự cấp bách trong suốt thời kỳ quá độ.
Bắc Trung Bộ là vùng trong thời kỳ chiến tranh trớc đây phải chịu nhiều hy sinh,
mất mát. Kết cấu hạ tầng bị tàn phá. Lực lợng sản xuất bị huỷ hoại. Số lợng gia đình
liệt sỹ, thơng binh, đối tợng chính sách chiếm tỷ lệ lớn. Đời sống nhân dân còn rất
nhiều khó khăn. ở đây cái nghèo còn phổ biến và lại tập trung chủ yếu ở những gia
đình chính sách, có công với cách mạng, những hộ gia đình vùng sâu, vùng xa, vùng
căn cứ cách mạng xa kia. Vấn đề bức xúc đặt ra cho các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay
là phải giải quyết đợc bài toán nan giải giữa yêu cầu tập trung mọi nguồn lực cho tăng
trởng kinh tế trong khi số lợng các đối tợng thuộc diện hởng chính sách phúc lợi
xã hội lại quá lớn. Mặt khác, một số chính sách kinh tế, xã hội ở Bắc Trung Bộ khi triển
khai nhằm thúc đẩy kinh tế, giảm bất bình đẳng xã hội đã phát sinh nhiều mâu thuẫn.
Chính vì vậy, việc giải quyết bài toán tăng trởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội
ở Bắc Trung Bộ là đòi hỏi bức xúc cả về thực tiễn lẫn lý luận.
Với lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề: Quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công
bằng x hội ở Bắc Trung Bộ Việt Nam hiện nay làm đề tài luận án.

2
2. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã
hội, khảo sát quá trình thực hiện quan hệ này ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, luận án đề xuất
một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm gắn kết tốt hơn tăng trởng kinh tế với
công bằng xã hội ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong điều kiện hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
- Luận án nghiên cứu khái quát các quan niệm trong lịch sử về tăng trởng kinh tế,
công bằng xã hội, quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
- Làm rõ thực trạng việc giải quyết quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng
xã hội ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong điều kiện hiện nay, từ đó chỉ ra các mâu thuẫn cơ
bản cần khắc phục.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tăng trởng kinh tế gắn với việc
thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong điều kiện hiện nay.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu việc giải quyết quan hệ tăng trởng kinh tế và công
bằng xã hội ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong giai đoạn từ Đổi mới đến nay. Đồng thời
đa ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn quan hệ giữa tăng trởng kinh
tế và công bằng xã hội ở các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay.
3. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh; các quan điểm, đờng lối của Đảng; chính sách của Nhà nớc ta về phát
triển kinh tế-xã hội; các thành tựu khoa học, công trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nớc.
- Thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội của đất nớc, việc giải quyết quan hệ giữa
tăng trởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn
hiện nay.
3.2. Phơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Luận án còn sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu cụ thể: phơng pháp
lô gích và lịch sử; phơng pháp phân tích và tổng hợp; phơng pháp trừu tợng và cụ
thể
4. Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần khái quát hoá khái niệm tăng trởng kinh tế, công bằng xã hội
trong lịch sử trớc C.Mác và ngoài mácxít, làm rõ thêm quan điểm của Đảng ta về công
bằng xã hội, quan hệ tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
- Phân tích quá trình thực hiện quan hệ tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội ở
các tỉnh Bắc Trung Bộ trong điều kiện phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội

3
chủ nghĩa, chỉ ra các mâu thuẫn cơ bản, đề xuất một số giải pháp nhằm gắn tăng trởng
kinh tế với công bằng xã hội.
5. ý nghĩa của luận án
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu một số
chuyên đề, chơng trình lý luận nh: thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;
chính sách xã hội dới chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng trởng và phát triển kinh tế
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định
và thực thi các chính sách nhằm thúc đẩy tăng trởng kinh tế gắn với thực hiện công
bằng xã hội ở Bắc Trung Bộ.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác
giả đã đợc công bố có liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo,
luận án gồm ba chơng, sáu tiết.
tổng quan
Vấn đề tăng trởng kinh tế, công bằng xã hội và mối quan hệ giữa chúng giành
đợc sự chú ý nhiều của giới lý luận.
Có nhiều công trình nghiên cứu về tăng trởng kinh tế, chẳng hạn: "Tăng trởng
kinh tế và nghịch lý của sự tăng trởng" (Tạp chí Thông tin lý luận, số 12/1999) của
PGS. Vũ Hiền; "Việt Nam tăng trởng kinh tế và các nhân tố ảnh hởng" (Tạp chí
Kinh tế và phát triển, số 7/1995) của GS. Tào Hữu Phùng; Về thực trạng chất lợng
tăng trởng kinh tế ở nớc ta (Tạp chí Cộng sản số 23 tháng 12/2004) của Trần Đào;
Các giải pháp thúc đẩy tăng trởng kinh tế ở Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1998) do GS. Vũ Đình Bách chủ biênĐề cập đến khái niệm công bằng xã hội đã
có một số công trình nghiên cứu vấn đề này: "Về công bằng xã hội" (Tạp chí Cộng sản,
số 19/1996) của GS. Lê Hữu Tầng; Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội (Luận án
tiến sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2006) của Nguyễn Minh
Hoàn; bài viết: "Công bằng xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (Tạp
chí Cộng sản, số 19/1996) của GS. Bùi Đình Thanh; Công bằng xã hội trong điều kiện
kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay (Tạp chí Triết học số 4/2004) của Lơng Việt
Hải; Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa(Tạp chí Lý luận chính trị, số 11/2007) của GS. Nguyễn Duy Quý
Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu khái niệm tăng trởng kinh tế, công
bằng xã hội, các nhân tố tác động, chi phối đến tăng trởng kinh tế và thực hiện công
bằng xã hội ở nớc ta.
Liên quan trực tiếp tới nội dung luận án, một số công trình đã nghiên cứu quan hệ
giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội, đáng chú ý: Tăng trởng kinh tế và công
bằng xã hội ở một số nớc châu á và Việt Nam (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1998) của tập thể tác giả do Lê Bộ Lĩnh chủ biên; Tăng trởng kinh tế và công bằng
xã hội ở Nhật Bản giai đoạn Thần kỳ và Việt Nam thời kỳ Đổi mới (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà nội, 1999) của Lê Văn Sang v Kim Ngọc; Kết hợp tăng trởng kinh
tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát

4
triển kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta (Đề tài cấp bộ,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001) của nhóm tác giả do GS. Trịnh Quốc
Tuấn chủ nhiệm; Quan hệ giữa tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội ở Việt Nam
thời kỳ đổi mới - vấn đề và giải pháp (Đề tài cấp bộ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 2005) của nhóm tác giả do TS. Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm; Tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội trong xu thế hội nhập hiện nay (Tạp chí Cộng sản
số 24 tháng 12/2004) của Trơng Gia Long.
Khu vực Bắc Trung Bộ đã có một số công trình, bài viết liên quan: Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế-xã hội vùng Bắc Trung Bộ (Viện quy hoạch đô thị nông thôn, Bộ
Xây dựng, 1996); "Mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế và việc giải quyết các vấn đề
xã hội ở vùng nông thôn các tỉnh Bắc Trung Bộ trong công cuộc đổi mới ở nớc ta hiện
nay" (Luận án tiến sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2000) của Đinh Thế
Định; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Bắc Trung Bộ theo hớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 2002) của TS. Nguyễn Đăng Bằng;
Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề hộ nông thôn miền Trung - những xu hớng chủ yếu
(Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 1/2004) của Lâm Chí DũngCác bài viết này mới chủ
yếu đề cập đến các biện pháp thúc đẩy tăng trởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân.
Nh vậy, hiện nay quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội ở các tỉnh
Bắc Trung Bộ Việt Nam cha có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần tìm ra hớng giải
quyết cho một trong những vấn đề bức xúc hiện nay.
Chơng 1
Tăng trởng kinh tế v
công bằng x hội - Những vấn đề lý luận
1.1. Khái niệm tăng tr
ởng kinh tế, công bằng x hội
1.1.1. Khái niệm Tăng trởng kinh tế
- Một số quan niệm tiêu biểu trong lịch sử: thời Hy Lạp, La Mã cổ đại, các nhà t
tởng đã có quan niệm về tăng trởng kinh tế. Họ đồng nhất tăng trởng kinh tế với sự
tăng lên về lợng của nền kinh tế nh tăng sản lợng, tăng của cải, tăng t liệu tiêu
dùng Đại diện cho những quan niệm trên có Xênôphôn, Arixtốt, Platôn, Cartôn
Riêng Platôn đã đề cao vai trò của thơng mại đối với việc làm tăng của cải (tăng
trởng kinh tế - TG). Cartôn cho rằng: tăng trởng kinh tế là lợi nhuận ngoài chi phí
cho sản xuất. Nhìn chung ở thời kỳ cổ Hy Lạp, La Mã, khái niệm tăng trởng kinh tế
đợc các nhà t tởng nghiên cứu còn sơ khai, mang tính bớc đầu. Song, đây là cơ sở
cho các nhà t tởng sau này tiếp tục nghiên cứu.
Tới thời kỳ cận đại, quan niệm về tăng trởng kinh tế đợc nghiên cứu sâu sắc
hơn. Mở đầu có A.Smith và D.Ricardo. Các ông chỉ ra các yếu tố quyết định tăng
trởng kinh tế là: lao động, vốn, đất đai, tiến bộ kỹ thuật và môi trờng kinh tế-xã hội.
Nền kinh tế tăng trởng hoàn toàn do thị trờng điều tiết. J.Keynes cho rằng sản

5
lợng, tăng trởng kinh tế do vai trò của tổng cầu trong xã hội quyết định.
P.A.Samuelson cho rằng để đảm bảo tăng trởng kinh tế cần kết hợp cơ chế thị trờng
với sự quản lý của nhà nớc.
- Quan niệm trong thế giới hiện đại
+ Tăng trởng kinh tế (Economic growth) là khái niệm chỉ mức tăng về lợng của
nền kinh tế trong một thời gian nhất định.
+ Tốc độ tăng trởng kinh tế là sự tăng hoặc giảm sản lợng so với thời điểm gốc
(thờng tính một năm).
+ Các yếu tố quyết định tăng trởng kinh tế: nhìn chung những yếu tố sau đây
đợc phần lớn các nhà khoa học chấp nhận: nguồn nhân lực; nguồn tài nguyên thiên
nhiên; nguồn vốn (t bản); yếu tố công nghệ.
1.1.2. Khái niệm Công bằng xã hội
- Các quan niệm trong lịch sử trớc C.Mác: thời kỳ cổ đại nổi bật là các nhà t
tởng tiêu biểu nh Platôn, Arixtốt, Khổng Tử Các ông quan niệm: công bằng
chính là sự ngang bằng giữa các cá nhân trong cùng một đẳng cấp, tầng lớp. Arixtốt
nhấn mạnh bất bình đẳng trong xã hội và cho rằng đó là trật tự tự nhiên. Khổng Tử
quan niệm công bằng là phải làm đúng địa vị của mình. Đến thời kỳ trung đại có
S.Ôguýtxtanh quan niệm: công bằng là cái không thay đổi, vĩnh hằng, tối thợng, là
bằng lòng với sự sắp đặt trật tự đẳng cấp của chúa, con ngời chỉ đợc bình đẳng hoàn
toàn trớc chúa.
Thời kỳ cận đại các t tởng về công bằng xã hội đợc đề cập khá phong phú.
T.Hốpxơ quan niệm, công bằng vốn là bản chất của con ngời
. J.J.Rútxô phân tích lịch
sử loài ngời là một quá trình vận động từ thấp đến cao qua ba giai đoạn: hoàn toàn
bình đẳng; bất công và công bằng. Cantơ nhấn mạnh sự công bằng trong phân phối và
cho đó là cơ sở quan trọng của công bằng xã hội. Các nhà xã hội chủ nghĩa không
tởng nh Môrenli, Xanhximông, Phuriê và Ôoen cho rằng công bằng xã hội là sự
phân phối đồng đều các sản phẩm lao động cho mọi cá nhân, trên cơ sở công hữu về t
liệu sản xuất.
- Quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I Lênin: kế thừa những thành tựu của
nhân loại, các ông đã vợt lên các nhà t tởng trớc đó trong quan niệm về công bằng
xã hội. Các ông đã phân tích sâu sắc sự bất công trong xã hội t bản và đi đến kết luận
tổng quát: trong chế độ t hữu không thể có công bằng. Theo các ông, muốn đạt đợc
công bằng xã hội thì phải xoá bỏ t hữu, thực hiện nguyên tắc phân phối đúng với giá
trị thực của sức lao động. Nh vậy, dới chế độ xã hội chủ nghĩa, phân phối theo lao
động là nguyên tắc đảm bảo sự công bằng xã hội. Tuy nhiên, tình trạng bất bình đẳng
vẫn còn, đây là điều không tránh khỏi trong thời kỳ quá độ. Chỉ khi nào trong xã hội
các cá nhân đều có cơ hội phát huy mọi khả năng để vơn tới sự ngang nhau về năng
lực, thì khi đó mới có thể đạt đợc sự công bằng tuyệt đối. Công bằng tuyệt đối chỉ có
đợc ở xã hội cộng sản chủ nghĩa. Khi đó, trên lĩnh vực kinh tế, công bằng và bình
đẳng hoàn toàn thống nhất với nhau.
- Quan niệm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam

6
+ Quan niệm của Hồ Chí Minh: công bằng xã hội là mối quan hệ giữa thực hiện
nghĩa vụ và việc hởng quyền lợi tơng ứng. Điều trớc tiên là phải tạo đợc sự bình
đẳng cho mọi cá nhân khi cống hiến. Có nghĩa là ai có khả năng bao nhiêu thì có thể
tham gia đóng góp và đợc hởng thành quả tơng xứng từ chính sự đóng góp ấy.
Ngời cho rằng: Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không
ăn, tất nhiên là trừ những ngời già cả, đau yếu và trẻ con
1
. Đây chính là bản chất
nhân văn truyền thống dân tộc và tính nhân ái vô sản. Công bằng xã hội có thể thực
hiện ngay cả những lúc nền kinh tế khó khăn, càng khó khăn thì càng phải công bằng.
+ Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam:
Trong thời kỳ trớc 1986, về mặt lý luận Đảng ta xác định phân phối công bằng là
chủ yếu theo lao động trong nền kinh tế duy nhất hai thành phần là quốc doanh và tập
thể. Các thành phần kinh tế khác mặc dù còn đóng vai trò tích cực cho tăng trởng kinh
tế nhng bị xoá bỏ nhanh chóng. Quan hệ sản xuất bị đẩy quá cao so với trình độ của
lực lợng sản xuất. Mặt khác, do thực hiện cơ chế phân phối tập trung, bao cấp nên
thực tế lợi ích chung (tài sản quốc doanh, tài sản tập thể) và lợi ích của ngời lao động
đều bị vi phạm. Phân phối duy nhất theo lao động đợc thực hiện trong khuôn khổ của
cơ chế kế hoạch hoá tập trung làm cho nó bị biến dạng thành phân phối bình quân.
Động lực phát triển kinh tế - xã hội bị triệt tiêu, kinh tế đất nớc bị khủng hoảng.
Đến thời kỳ Đổi mới đánh dấu bằng Đại hội VI, Đảng ta đã có quan niệm mới về
công bằng xã hội, đó là: thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động,
hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông
qua phúc lợi xã hội
2
. Qua một thời gian dài, quan niệm về công bằng xã hội của Đảng
ta từng bớc đợc hoàn thiện cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội hiện
thời. Nguyên tắc phân phối trên đây là nguyên tắc phân phối công bằng trong thời kỳ
quá độ ở nớc ta.
Nh vậy, công bằng đợc nhận thức một cách khái quát là Hởng thụ tơng ứng với
cống hiến. Cống hiến ở đây là những đóng góp cả về tiền của và sức lực trong hiện tại
và cả trong quá khứ. Và hởng thụ là những cái đợc nhận nh: phần thởng, đền đáp,
ghi danh Công bằng xã hội trở thành động lực mạnh mẽ cho tăng trởng kinh tế, bởi
nó tác động trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể xã hội. Do đó, công bằng xã hội cũng
là một trong những điều kiện để đảm bảo tăng trởng kinh tế lâu dài. Mặt khác, chính
việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trờng mà tình trạng phân
hoá xã hội sẽ nảy sinh. Để khắc phục tình trạng này dới chủ nghĩa xã hội cần phải
thực hiện phân phối lại thông qua phúc lợi xã hội. Phân phối thông qua phúc lợi xã hội
thực chất cũng là việc thực hiện công bằng xã hội theo nguyên tắc Hởng thụ tơng ứng
với cống hiến.
ở phơng diện khái quát hơn, công bằng xã hội đợc hiểu là quyền đợc đảm bảo
điều kiện sống tối thiểu của mỗi cá nhân.


1
Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tr.226.
2
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tr.26.

7
Bình đẳng xã hội là sự ngang bằng nhau giữa các cá nhân về một lĩnh vực xã hội:
pháp luật, kinh tế, nhân phẩm, giới tính, tôn giáo Khi có sự ngang bằng giữa các cá
nhân về mọi phơng diện thì lúc đó có sự bình đẳng hoàn toàn. Trong khi đó công bằng
xã hội là quan hệ xác định: hởng thụ tơng xứng với cống hiến.
1.2. Quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng x hội
1.2.1. Các quan niệm khác nhau trên thế giới
- Phát triển kinh tế thị trờng hoàn toàn tự do, u tiên tăng trởng kinh tế.
Quan niệm này cho rằng: tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội ngợc chiều nhau.
Do đó, bằng mọi giá phải thúc đẩy tăng trởng kinh tế một cách nhanh chóng mà ít
chú ý đến việc giải quyết các vấn đề xã hội. Quan niệm này đã bế tắc khi các vấn đề
tiêu cực xã hội nảy sinh.
- Ưu tiên phúc lợi x hội (mô hình của Thuỵ Điển). Công bằng xã hội đợc đặt lên
vị trí hàng đầu. Nhà nớc xây dựng hệ thống phúc lợi chung và hệ thống bảo hiểm qui
mô lớn để giải quyết các vấn đề xã hội. Sau một thời gian do nhà nớc chi cho hệ thống
phúc lợi xã hội quá lớn, đã vợt quá sức tải của nền kinh tế, ảnh hởng tiêu cực tới tăng
trởng kinh tế.
- Ưu tiên thực hiện công bằng x hội hơn so với tăng trởng kinh tế. Đây là
mô hình của các nớc xã hội chủ nghĩa trớc kia: đề cao công bằng xã hội, nhng
thực chất là đề cao bình đẳng xã hội. Công hữu hoàn toàn t liệu sản xuất, đồng nhất
công bằng xã hội với chủ nghĩa bình quân, cào bằng Tình trạng này làm cho nền
kinh tế khủng hoảng, công bằng xã hội bị vi phạm. Đây là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt các nớc xã hội chủ nghĩa vào những năm 90 thế kỷ
XX.
- Quan niệm tăng trởng kinh tế và giảm bất bình đẳng ở một số nớc và vùng
lnh thổ châu á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia, Xingapo lựa chọn con
đờng phát triển: kết hợp cơ chế thị trờng với sự điều tiết của nhà nớc; xóa bỏ độc
quyền; phân phối lại thu nhập quốc dân; phát triển các doanh nghiệp qui mô vừa và
nhỏ; mở rộng hình thức cổ phần cho cả ngời lao động. Trong mấy thập niên qua các
quốc gia này đã đạt đợc mục tiêu tăng trởng kinh tế và giảm bất bình đẳng xã hội.
Tuy nhiên, một số mặt xã hội nảy sinh: tình trạng bất bình đẳng giữa các vùng, miền,
lĩnh vực, cộng đồng dân c; nạn ô nhiễm môi trờng, khai thác cạn kiệt tài
nguyênđang có nguy cơ đe dọa đến những thành quả do tăng trởng kinh tế mang
lại.
- Quan niệm của Trung Quốc: từ sự khủng hoảng kinh tế kéo dài, Trung Quốc đã
cải cách nền kinh tế năm 1978 theo hớng: Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, nhiều
thành phần kinh tế cùng phát triển, xây dựng chế độ phân phối thu nhập lấy phân
phối theo lao động là chính, u tiên hiệu suất, chú trọng công bằng, khuyến khích một
số khu vực, và một số ngời giàu lên trớc, đi con đờng cùng giàu có
3
. Với đờng
lối này, Trung Quốc đạt đợc nhiều thành công. Tuy nhiên, sự tăng trởng kinh tế


3
Trích theo: Nguyễn Kim Bảo (2003), Quá trình hình thành và phát triển lý luận xây dựng thể chế kinh tế thị trờng xã
hội chủ nghĩa, Nghiên cứu Trung Quốc, (6), Tr. 17-25

8
Trung Quốc thời gian qua là quá nóng, các vấn đề xã hội đã nảy sinh tạo sức ép lớn
đe dọa đến thành quả do công cuộc cải cách nền kinh tế mang lại.
1.2.2. Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam
Đại hội VI của Đảng đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nớc, lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm, từng bớc đổi mới chính trị phù hợp. Trong Quan niệm về quan hệ giữa
tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội, Đảng ta cũng đã có nhiều đổi mới, thể hiện:
- Tăng trởng kinh tế phải gắn với công bằng xã hội, tăng trởng kinh tế đến đâu,
thực hiện công bằng xã hội đến đó.
- Tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội là quan hệ biện chứng. Tăng trởng kinh
tế tạo tiền đề vật chất cho việc thực hiện công bằng xã hội. Công bằng xã hội vừa là
động lực, vừa là mục tiêu của tăng trởng kinh tế.
- Tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội phải gắn với phát triển văn hoá.
- Nhà nớc có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội, điều tiết thị trờng góp
phần gắn tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội.
- Phát huy sức mạnh của cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng trong việc tham gia hoạt
động phúc lợi xã hội.
- Tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội phải chú ý đúng mức tới lợi ích ngời lao
động.
Chơng 2
Quan hệ giữa tăng trởng kinh tế v công bằng x hội ở
các tỉnh bắc trung bộ hiện nay - Thực trạng
việc giải quyết v vấn đề đặt ra
2.1. thực trạng việc giải quyết quan hệ giữa tăng trởng
kinh tế và công bằng x hội ở các tỉnh bắc trung bộ hiện nay
2.1.1. Những nhân tố cơ bản tác động đến việc giải quyết quan hệ giữa tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội
- Đặc điểm tự nhiên: Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Đây là vùng có địa hình đa dạng: miền
núi, đồng bằng và ven biển. Bờ biển dài với nhiều bãi tắm nổi tiếng, nhiều đầm phá,
ao hồ Bắc Trung Bộ có lợng tài nguyên khoáng sản dồi dào nh: crômit, thiếc,
quặng sắt, đá vôi, đá hoa cơng, hồng ngọc, vàng đặc biệt ngoài thềm lục địa có
dầu mỏ nhng cha đợc khai thác. Khí hậu ở đây cực kỳ khắc nghiệt: nắng lắm, ma
nhiều kèm theo bão lũ, làm cho sản xuất và sinh hoạt ở đây gặp rất nhiều khó khăn.
- Đặc điểm về lịch sử, kinh tế, văn hoá, x hội và con ngời: Bắc Trung Bộ là
vùng gồm các tỉnh nghèo nhất cả nớc. Đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó
khăn, thu nhập bình quân đầu ngời đạt 65% mức trung bình của cả nớc. Bắc Trung
Bộ là vùng có truyền thống cần cù, hiếu học. Trong quá khứ và hiện tại đã xuất hiện
nhiều nhân tài, lãnh tụ, nhà khoa học Tính cộng đồng ở Bắc Trung Bộ đợc đề cao,
là cơ sở cho sự đoàn kết. Tuy nhiên, mặt trái nảy sinh là t tởng cục bộ địa phơng,
gia tộc, thói gia trởng, hẹp hòi. Con ngời ở đây mang nặng tính nguyên tắc nhiều
khi đến mức cứng nhắc. Với t tởng bằng lòng với những gì mình có, ngời Bắc

9
Trung Bộ ít dám mạo hiểm và áp dụng những cái mới trong sản xuất, kinh doanh. Là
vùng đất định đô của triều đại phong kiến cuối cùng ở nớc ta, Bắc Trung Bộ còn tồn
tại nhiều nét văn hoá đặc sắc. Tuy nhiên, còn không ít những hủ tục nặng nề, rờm rà
trong sinh hoạt và đời sống.
Bắc Trung Bộ là vùng đất gắn liền với nhiều biến cố của lịch sử, với các triều đại
phong kiến. Trong hai cuộc kháng chiến, Bắc Trung Bộ cống hiến nhiều sức ngời,
sức của cho nền độc lập của dân tộc. Mảnh đất này bị chiến tranh tàn phá hết sức
nặng nề. Mặc dù chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, song hậu quả của nó đến nay vẫn
còn rất lớn: gia đình thơng binh, liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng, ngời có công với
cách mạng; trẻ em sinh ra bị dị tật do ảnh hởng bởi chất độc hóa học/Dioxin và
những ngời bị ảnh hởng bởi chiến tranh chiếm tỷ lệ lớn; các cánh rừng bị thiêu trụi
đến nay cũng không thể mọc lại đợc; lợng bom mìn chiến tranh còn sót lại rất
nhiều gây nguy hiểm cho sản xuất và đời sống. Đây là những bất lợi cho Bắc Trung
Bộ trên con đờng phát triển.
Bắc Trung Bộ là nơi quần c của nhiều tộc ngời sinh sống. Có những tộc ngời
thiểu số còn mang nặng lối sống du canh, du c, trình độ rất lạc hậu. Đây thực sự là
khó khăn để họ có thể thoát khỏi đói nghèo, từng bớc giảm bớt bất bình đẳng xã hội.
2.1.2. Việc giải quyết quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội
- Từ năm 1954-1986: từ năm 1954 đến 1975 bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17, Bắc
Trung Bộ dới sự quản lý hai chế độ chính trị khác nhau. Tháng 4 năm 1975 miền
Nam đợc hoàn toàn giải phóng. Cả nớc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô
hình kế hoạch hoá tập trung với nguyên tắc phân phối theo lao động. Nhng nguyên
tắc này thực chất bị biến dạng sang phân phối cào bằng. Chính nguyên tắc này là lực
cản tăng trởng kinh tế và làm cho công bằng xã hội bị vi phạm. Khủng hoảng kinh tế
diễn ra gay gắt vào cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 tạo sức ép lớn cho việc cần phải
nghiêm túc nhận thức lại con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội, về sự vận dụng quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lợng sản xuất, về cơ chế vận hành
nền kinh tế, về nguyên tắc phân phối
- Từ 1986 đến nay: hơn 20 năm tiến hành công cuộc Đổi mới của Đảng, Bắc
Trung Bộ đã tích cực phát triển kinh tế - xã hội, từng bớc thực hiện công bằng xã
hội. Việc giải quyết quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội ở Bắc
Trung Bộ những năm qua đã đạt đợc một số thành tựu quan trọng sau:
+ Kinh tế chuyển biến về chất, tăng trởng kinh tế khá cao và tơng đối ổn định,
tạo tiền đề cơ bản cho việc giải quyết các vấn đề bất bình đẳng xã hội.
+ Tăng trởng kinh tế đã góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói, giảm
nghèo, nâng cao đời sống nhân dân nhằm giảm bất công xã hội.
+ Tăng trởng kinh tế là cở sở để thực hiện các vấn đề phúc lợi xã hội đối với các
đối tợng là thơng binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, nạn nhân
bị nhiễm chất độc hoá học, ngời già cô đơn, ngời tàn tật, trẻ em lang thang.

10
+ Phát triển y tế, giáo dục với tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là nhân,
vừa là quả.
+ Gắn tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội đã trở thành động lực khơi dậy
mọi tổ chức, doanh nghiệp, nhân dân tham gia sản xuất, kinh doanh.
2.2. vấn đề đặt ra
Trong những năm qua, các tỉnh Bắc Trung Bộ đã thực hiện khá tốt quan hệ tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số vấn đề kinh tế, xã
hội bức xúc. Chúng đang trở thành mâu thuẫn cản trở việc thực hiện quan hệ tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội.
2.2.1. Mâu thuẫn giữa nguồn tài chính hiện có rất hạn hẹp với đòi hỏi một
khối lợng tài chính lớn để đầu t cho sản xuất và thực hiện xoá đói giảm nghèo.
Bắc Trung Bộ là một trong những vùng có tỷ lệ nghèo cao hơn cả nớc. Theo chuẩn
nghèo mới
4
thì tỷ lệ hộ nghèo chiếm 35%. Mục tiêu của cả nớc phấn đấu giảm tỷ lệ
hộ nghèo từ 22% (năm 2005) xuống còn 11% (năm 2010)
5
. Thực hiện đợc mục tiêu
này là một thách thức rất lớn đối với Bắc Trung Bộ. Mặt khác, Bắc Trung Bộ là vùng
có nhiều tiềm năng về kinh tế, để có thể khơi dậy tiềm năng này đòi hỏi phải đầu t
một lợng vốn rất lớn. Do đó, mâu thuẫn cơ bản nổi lên giữa một bên là nhu cầu đòi
hỏi của việc thực hiện các chính sách xã hội, chính sách kinh tế với một bên là nguồn
tài chính rất hạn hẹp.
2.2.2. Mâu thuẫn giữa trình độ phát triển kinh tế còn thấp với nhu cầu thực
hiện công bằng xã hội. Hai cuộc chiến tranh đi qua đã để lại cho Bắc Trung Bộ
những khó khăn vô cùng lớn: t liệu sản xuất bị huỷ hoại; nhà cửa bị oanh tạc; ruộng
đất, cây trồng bị huỷ diệt. Đặc biệt số lợng đối tợng thơng binh, gia đình liệt sỹ,
ngời có công với nớc, ngời bị tàn tật, ngời bị nhiễm chất độc hoá học chiếm tỷ lệ
lớn đây là những khó khăn đòi hỏi chính sách phúc lợi phải quan tâm đến. Trong khi
đó kinh tế của các tỉnh Bắc Trung Bộ còn rất nhiều khó khăn, đang phải từng ngày,
từng giờ huy động vốn cho việc tăng trởng kinh tế. Đây là mâu thuẫn lớn đặt ra cho
Bắc Trung Bộ.
2.2.3. Mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện tốt công bằng xã hội với sự bất cập,
hạn chế về năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ: Bắc Trung Bộ có sự đóng góp
lớn cho nền độc lập dân tộc. Đảng và Nhà nớc đã quan tâm bằng nhiều chính sách
kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nhiều chính sách bị trì trệ về tiến
độ gây lãng phí rất lớn. Tình trạng thực hiện sai để rút tiền các chơng trình, dự án đã
gây hậu quả kinh tế và tạo d luận xã hội xấu Những vi phạm này ảnh hởng tiêu
cực đến quan hệ tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội.
Chơng 3
Nguyên tắc, giải pháp kết hợp
tăng trởng kinh tế v công bằng x hội


4
Chuẩn nghèo tiêu chí mới theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tớng Chính phủ áp dụng cho
giai đoạn 2006-2010 ở thành thị là 260.000đ, nông thôn là 200.000đ.
5
Xem: Phạm Gia Khiêm (2006) Xoá đói, giảm nghèo ở nớc ta- thành tựu, thách thức và giải pháp, Cộng sản, (2+3),
Tr.7-11.

11
ở các tỉnh bắc trung bộ trong điều kiện hiện nay
3.1. nguyên tắc
3.1.1. Kết hợp tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội là quá trình giải
quyết mâu thuẫn để thực hiện mục tiêu phát triển con ngời. Các tỉnh Bắc Trung
Bộ khi hoạch định các chơng trình, chính sách phải thể hiện: mỗi chính sách kinh tế
đều phải hớng tới đảm bảo công bằng xã hội; mỗi chính sách bảo đảm công bằng xã
hội đều mang nội dung, ý nghĩa góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế, để mọi ngời
dân đều đợc hởng thành quả từ tăng trởng kinh tế. Lấy con ngời làm mục tiêu
cho mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội.
3.1.2. Tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội là điều kiện, tiền đề của nhau,
công bằng xã hội phải đảm bảo nguyên tắc hởng thụ tơng ứng với cống hiến.
Quan điểm này thể hiện: tăng trởng kinh tế tạo điều kiện vật chất cần thiết để giải
quyết đợc hàng loạt các vấn đề xã hội. Ngợc lại, việc thực hiện tốt các vấn đề xã
hội, công bằng xã hội lại trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
Tăng trởng kinh tế là điều kiện để giảm bất bình đẳng xã hội. Song chính quá trình
tăng trởng kinh tế lại tạo sự bất bình đẳng mới Và nh thế, tăng trởng kinh tế và
công bằng xã hội vừa có mâu thuẫn, vừa có đấu tranh để thống nhất. Đây chính là
động lực của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
3.1.3. Khi xây dựng các cơ chế phải kết hợp chính sách kinh tế với chính sách
xã hội, gắn với đặc thù Bắc Trung Bộ. Nếu để tự nó thì chính sách kinh tế và chính
sách xã hội ít khi thống nhất. Do đó, nguyên tắc cơ bản đối với Bắc Trung Bộ là khi
xây dựng cơ chế, chính sách phải đặc biệt chú ý đến kết hợp một cách hài hoà giữa
hai loại chính sách này. Bắc Trung Bộ là vùng điển hình của cả nớc về sự khó khăn.
Trong chiến tranh, mảnh đất này đã phải chịu nhiều hy sinh, đối tợng chính sách
chiếm tỷ lệ lớn, nhiều vùng căn cứ cách mạng đến nay còn rất khó khăn Đây là
những điểm khác biệt cơ bản của Bắc Trung Bộ. Do đó, khi xây dựng chính sách kinh
tế-xã hội đòi hỏi Nhà nớc, các cấp chính quyền phải tính đến đặc thù này.
3.2. giải pháp
3.2.1. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn phù
hợp với Bắc Trung Bộ nhằm giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nông dân
trong vùng, giảm bất bình đẳng xã hội. Để hoàn thành tốt sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, Bắc Trung Bộ cần phải tiến hành thực hiện các biện pháp sau: phát
triển một nền kinh tế nông nghiệp theo hớng sản xuất hàng hóa gắn với thị trờng;
khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn
nhằm tạo việc làm; tập trung phát triển kinh tế biển gắn với quá trình xây dựng nông
thôn mới vùng ven biển; đầu t mạnh mẽ cho việc phát triển kinh tế lâm nghiệp; xây
dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn.
3.2.2. Gắn lợi ích ngời sử dụng lao động và ngời lao động; khuyến khích
nhân dân làm giàu chính đáng, thu hẹp diện hộ nghèo, ngăn chặn các hành vi
phi pháp. Trong nền kinh tế thị trờng, lợi ích giữa ngời chủ sử dụng lao động và
ngời lao động ít khi thống nhất. Do đó đòi hỏi các tỉnh Bắc Trung Bộ phải xây dựng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét