Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Tín dụng ngân hàng - giải pháp tất yếu đối với vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2010

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển châu Á
CBCC: Cán bộ công chức
CPF: Quỹ tiết kiệm trung ương Singapore
ĐTM: Đô thị mới
GDP: Tổng sản phầm quốc nội
GPMB: Giải phóng mặt bằng
HDB: Uỷ ban phát triển nhà ở
HEPZA: Ban quản lý các khu công nghiệp –khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh
HOF: Quỹ phát triển nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh
KCN: Khu công nghiệp
KCX: Khu chế xuất
KTX: Ký túc xá
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
PCI: Thu nhập bình quân đầu người
UBND: Uỷ ban nhân dân
UNDP: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc









LỜI MỞ ĐẦU
Nhà ở là một nhu cầu cơ bản cần thiết đối với mỗi người, mỗi gia đình. Nhà ở không chỉ là
một phần của lĩnh vực bất động sản-một ngành quan trọng của nền kinh tế quốc gia, mà nó
còn mang ý nghĩa to lớn đối với mỗi người, mỗi gia đình chúng ta. Tuy nhiên, không phải ai
cũng có được căn nhà đàng hoàng cho riêng mình, đặc biệt là đối với những người có thu
nhập thấp.
Bao năm qua, Nhà nước ta đã nỗ lực đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ nhà ở cho người có thu
nhập thấp. Với những chính sách đầy ý nghĩa đó, đã mở ra cơ hội cho người có thu nhập thấp
trên toàn đất nước nói chung, và trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có được một
điều kiện nhà ở phù hợp nhất với mình. Tuy nhiên, cho tới bây giờ, còn rất nhiều người, hộ
gia đình có thu nhập thấp đang có nhu cầu về nhà ở nhưng chưa được đáp ứng. Thị trường
nhà ở cho người thu nhập thấp đang gặp phải bế tắc nhưng có tiềm năng phát triển lớn trong
tương lai. Chính tính cấp thiết, ý nghĩa kinh tế- xã hội quan trọng, và triển vọng phát triển
của thị trường nhà ở cho người thu nhập thấp đã thu hút sự quan tâm của nhóm nghiên cứu.
Dưới góc nhìn của những sinh viên chuyên ngành Tài chính-Ngân hàng, chúng tôi xem xét
và nhận định tiềm năng của việc phát triển Tín dụng ngân hàng như là một công cụ hiệu quả
hỗ trợ về tài chính cho người thu nhập thấp tạo lập nhà ở. Tuy vậy, cần làm gì để những
chính sách nhà ở cho người có thu nhập thấp của Nhà nước được các Ngân hàng hưởng ứng?
Làm sao để Ngân hàng vừa hỗ trợ vừa đạt được lợi nhuận mục tiêu? Và làm như thế nào để
tất cả những người có thu nhập thấp tại Thành phố Hồ Chí Minh đều tạo lập được nhà ở
đường hoàng để ổn định cuộc sống? Để đóng góp vào câu trả lời, nhóm nghiên cứu đã tiếp
cận và thực hiện đề tài : “Tín dụng Ngân hàng – Giải pháp tất yếu đối với vấn đề nhà ở
cho người thu nhập thấp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020”.
Đề tài có kết cấu bao gồm những nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp.
Chương 2: Thực trạng phát triển nhà ở cho người có thu nhập tại Thành phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 2001-2010.
Chương 3: Định hướng và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của Tín dụng ngân hàng hỗ trợ
vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp tại Thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020.
Với bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu hy vọng sẽ đưa đến một cái nhìn tổng quan về vấn
đề nhà ở cho người thu nhập thấp, từ đó góp phần hoàn thiện hơn các giải pháp cho vấn đề
này. Đề tài cũng hướng đến những ý tưởng mới để phát huy được vai trò của Tín dụng ngân
hàng nói riêng và các bên liên quan nói chung nhằm mục đích cuối cùng là để nhà ở với
người thu nhập thấp không còn là một giấc mơ.

Nhóm nghiên cứu



















CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NHÀ Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP
THẤP
1.1.Tổng quan về vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
1.1.1. Nhà ở
Từ thuở hồng hoang, những cư dân Việt đã yên mình trong những ngôi nhà sàn để tránh né
thú dữ. Rồi mấy nghìn năm phong kiến đi qua với mái nhà tranh phủ khói lam chiều. Để rồi
hôm nay “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó”…
Nhưng dù là nhà sàn, nhà tranh, nhà ba gian ngói đỏ, hay nhà đúc bê tông, biệt thự, nhà vẫn
chỉ là nhà. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, nhà là một công trình kiến trúc xây dựng,
một tổ hợp những không gian nhân tạo để phục vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của
con người.
Và nhà ở đơn giản là nhà để ở.
Nhưng nhà có chỉ là nhà?
Mỗi người được sinh ra, lớn lên, trưởng thành, và mất đi trong ngôi nhà của mình đã là một
hạnh phúc. Không phải ai cũng may mắn có được điều đó. Nhà không còn đơn giản là chỗ
ở, đó còn là nơi chứng kiến đời sống của con người. Một đời sống đủ sắc màu.
Nhà ở không chỉ là nhu cầu vật chất cơ bản của con người, mà còn là tâm lý “an cư mới lạc
nghiêp”. Dù cho cái nghiệp sống phải bon chen, vất vả, khó khăn như thế nào, ta vẫn sống
được nếu ta biết rằng có một nơi để tìm về yên bình - mái nhà. Bong bóng tín dụng nhà đất
Mỹ nổ bùng năm 2008, xã hội Mỹ chứng kiến hàng trăm ngàn con người buộc phải rời khỏi
ngôi nhà của họ. Nhưng Mỹ còn có đủ nhà cho công dân của họ, còn có đủ những ngôi nhà
đàng hoàng để mà các Ngân hàng tịch biên…Có những đất nước mà công dân nước đó còn
đang khát khao được sống trong những căn nhà tử tế. Nói như thế để thấy rằng những ngôi
nhà còn là một phần bộ mặt của một quốc gia.
1.1.2. Người có thu nhập thấp
Người thu nhập thấp là một khái niệm mơ hồ nếu so về mặt định lượng. Và có lẽ vì nó mơ
hồ nên dù mỗi chính sách hỗ trợ do Chính phủ hay Bộ Xây dựng ban hành đều quy định đối
tượng thụ hưởng, song vẫn chưa có một văn bản pháp quy nào thống nhất thu nhập thấp là
như thế nào? Rồi đây, dư luận đã và vẫn sẽ nói về, bàn về, lo lắng về chủ nhân của những
ngôi nhà được xây dựng theo chính sách hỗ trợ nhà ở cho người thu nhập thấp có thật là có
thu nhập thấp hay không? Và nội tình bên trong sẽ là một mớ bòng bong…
Trước hết, chúng ta cần phân biệt người thu nhập thấp với người nghèo. Người nghèo là
người có thu nhập thấp nhưng người có thu nhập thấp chưa hẳn là người nghèo. Chỉ là thu
nhập của họ thấp hơn một cái ngưỡng nào đó thôi. Vấn đề là định lượng ngưỡng ấy là bao
nhiêu.
Theo tổ chức Y tế thế giới và UNDP, một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một
nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capital Incomme, PCI) của quốc
gia . Vậy người thu nhập thấp có thể tạm hiểu là người có thu nhập bình quân thấp hơn PCI.
Ở Việt Nam, PCI tính trên từng tháng năm 2008 là 995 nghìn đồng ( Niên giám thống kê
2009 - Phụ lục 1). Trong đó PCI tính trên từng tháng ở đô thị là 1065 nghìn đồng.
Trong cuộc khảo sát chung về mức sống dân cư năm 2006, Tổng cục thống kê đã có bảng
khảo sát về thu nhập của 5 nhóm dân cư từ thấp nhất đến cao nhất. Mỗi nhóm chiếm 20%
dân số. Kết quả cho thấy một sự chênh lệch đáng kể trong thu nhập giữa những người nghèo
nhất và những người giàu nhất. Con số cụ thể được trình bày ở phụ lục 2.
Nhìn chung, nước ta vẫn là nước có thu nhập thấp so với mặt bằng chung của thế giới. Điểm
đáng chú ý là con số được nêu trong hai phụ lục trên thấp hơn nhiều các báo cáo về thu nhập
đầu người tính bằng USD do chính phủ công bố. Lý do là trong hai phụ lục, Tổng cục thống
kê đã điều chỉnh các con số theo giá trị thực tế. Với một mức thu nhập bình quân cả nước
như vậy, thì dù định lượng ở mốc nào, người thu nhập thấp ở Việt Nam cũng gặp phải hạn
chế đáng kể trong nguồn lực chi tiêu cho nhà ở.
Ở trong phạm vi đề tài này, chúng tôi thống nhất hiểu người thu nhập thấp là người với mức
thu nhập của mình, họ không đủ điều kiện để sở hữu được nhà ở phù hợp với nhu cầu nhà ở
cơ bản của họ. Chúng tôi chọn cách hiểu định tính trên để phù hợp riêng với đề tài của mình.
Đối tượng chúng tôi chọn là những người có thu nhập, có mong muốn có nhà thật sự để ở ,
nhưng thu nhập hiện tại chưa đủ điều kiện hiện thực hoá điều đó. Nhà ở cho người thu nhập
thấp được tiếp cận trên hai phương diện : nhà mua và nhà thuê.
Trong đối tượng người có thu nhập thấp, đề tài chủ yếu hướng vào các phân nhóm sau:
 Cán bộ, công nhân viên chức .
 Công nhân làm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung.
 Nhóm những trí thức trẻ ngoại tỉnh.
 Sinh viên nói chung .
Nếu xét một cách thấu đáo thì sinh viên không phải người thu nhập thấp vì họ chưa chính
thức tạo ra thu nhập. Tuy nhiên, nếu tiếp cận theo hướng thực tế thì sinh viên đang là một đối
tượng chính trong chương trình nhà ở xã hội. Nguồn tài trợ từ gia đình cũng có thể được xem
xét như khoản thu nhập của đối tượng này. Một lý do khác dẫn đến việc nhóm nghiên cứu
chọn sinh viên là một phân nhóm trong người có thu nhập thấp là vì chúng tôi muốn nghiên
cứu những tác động cụ thể của đề tài đến một trong những lưu tâm lớn nhất của sinh viên
chúng tôi, vấn đề nhà trọ.
1.1.3. Nhà ở cho người có thu nhập thấp
An cư - đó không phải là giấc mơ chỉ người khá giả mới được mơ…
Bộ phận người thu nhập thấp hiện vẫn chiếm đáng kể trong xã hội Việt Nam. Tính riêng mỗi
cá nhân, an cư mới lạc nghiệp thì với cả đất nước cũng phải thực hiện được đòi hỏi cơ bản
lạc cư cho con dân nước mình. Người giàu có thể tự lo, còn người thu nhập thấp thì đương
nhiên cần được trợ giúp từ nhà nước. Đó là bổn phận của nhà nước. Bên cạnh đó, lựa chọn
hỗ trợ phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp còn là chính sách an sinh xã hội, kích thích
tăng trưởng kinh tế bền vững mà chính phủ đã lựa chọn. Nhà ở là đòi hỏi. Nhưng với mặt
bằng giá nhà đất hiện nay ở các đô thị lớn nước ta thì nhà ở là giấc mơ đối với người thu
nhập thấp.
Đề tài xác định rằng nhà ở cho người thu nhập thấp không hoàn toàn là dạng nhà ở xã hội đã
được quy định trong Luật nhà ở năm 2006. Nhà ở xã hội chủ yếu là do nhà nước tự đầu tư
xây dựng, quản lý và xét chọn đối tượng thụ hưởng. Nhà ở cho người thu nhập thấp nhắm
đến đối tượng của phân khúc nhà ở này. Nhưng nhìn chung, nhà ở cho người thu nhập thấp
và nhà ở xã hội có rất nhiều điểm tương đồng. Do đó trong đề tài đôi lúc nhóm nghiên cứu
có sử dụng cụm từ “nhà ở xã hội’ để trình bày một số vấn đề.
Đề tài tiếp cận vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp như là một hàng hoá, có thị trường
riêng của mình dù thị trường đó chưa có đủ số lượng hàng hoá để thành hình một cách thật
sự. Bên cạnh đó, đề tài còn xem xét nó dưới khía cạnh của một phúc lợi an sinh, để từ an
sinh đến lạc nước.

1.2. Thị trường nhà ở cho người có thu nhập thấp
1.2.1. Cầu nhà ở
Ngày 13-3-2009, Bộ xây dựng đã ra công văn số 366/BXD-QLN yêu cầu UBND các tỉnh,
thành phố thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai xây dựng Chương
trình phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân Khu công nghiệp , ký túc xá cho sinh viên
(gọi chung là nhà ở giá thấp). Đặc biệt yêu cầu tất cả các tỉnh , thành phố điều tra cụ thể về
nhu cầu nhà ở của người thu nhập thấp và sớm báo cáo về Bộ xây dựng. Sau khi có kết quả
này và đặc biệt là vào ngày 1-7-2010, kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 được
báo cáo, số liệu cụ thể về lượng cầu nhà ở giá thấp hiện tại sẽ có. Theo kết quả điều tra mức
sống năm 2006, chỉ 21,5% trong 40% dân số có mức thu nhập thấp thứ nhất và thứ hai sở
hữu nhà kiên cố, trong khi gần 50% trong số họ phải ở nhà tạm bợ và nhà khác ( Phụ lục 3).
Một cách dễ dàng chúng ta xác định được rằng mức cầu nhà ở dành cho người thu nhập thấp
ở Việt Nam hiện nay rất lớn.
1.2.2. Cung nhà ở
Theo Bộ Xây dựng, từ năm 2009 đến tháng 2/2010, cả nước có 263 dự án nhà giá thấp được
đăng kí triển khai, tổng vốn đầu tư khoảng 72.710 tỷ đồng, số lượng khoảng 205.380 căn hộ,
đáp ứng nhà ở cho khảng 821.520 người. Số dự án nhà cho công nhân thuê là khoảng 264 dự
án đăng kí. Nhưng thực tế năm 2009 chỉ có 24 dự án nhà cho công nhân thuê và 31 dự án
nhà giá thấp là đã tiến hành xây dựng thực tế ( theo lời ông Nguyễn Mạnh Hà, Cục trưởng
Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng)). Như vậy, nguồn cung nhà ở
cho người thu nhập thấp là quá hạn chế.
1.2.3. Giá nhà ở
Cầu lớn hơn nhiều so với cung, nếu đúng theo quy luật thị trường, giá sẽ xác định ở một mức
cao nhưng đây lại là hàng hoá nhà ở cho người thu nhập thấp, thật khó?
Ở những dự án nhà ở cho người thu nhập thấp do Nhà nước xây dựng, thì giá là toàn quyền
do Nhà nước quyết định. Đó có thể là một mức giá ưu đãi thấp thật sự, chênh lệch lỗ, Nhà
nước chấp nhận. Nhưng nếu nhà ở cho người thu nhập thấp do các đơn vị tư nhân xây dựng
thì Nhà nước chỉ có quyền can thiệp vào giá một cách tương đối. Đó là hàng hóa thương mại.
Vì Nhà nước có những ưu đãi về quỹ đất, thuế, lãi suất vay…cho các nhà đầu tư nên Nhà
nước có quyền tác động, bảo đảm giá nhà ở cho người thu nhập thấp ở một mức hợp lý -
mức giá để loại nhà ở này vẫn là nhà ở cho người thu nhập thấp. Nhưng quyền quyết định
giá cuối cùng vẫn là thoả thuận của doanh nghiệp và người dân.
1.2.4. Phương thức giao dịch
Theo thông tư số 36/2009/TT-BXD hướng dẫn việc bán, cho thuê, cho thuê mua và quản lý
sử dụng nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị thì quỹ nhà ở xã hội do nhà
nước xây dựng và phân phối, phương thức giao dịch là xét chọn. Người có nhu cầu sẽ phải
nộp hồ sơ, sau đó sẽ được chấm điểm theo thang điểm Sau khi tập hợp đầy đủ Hồ sơ đăng
ký, chủ đầu tư dự án có trách nhiệm xem xét từng Hồ sơ đăng ký, đối chiếu với các quy định
về đối tượng, điều kiện, thứ tự ưu tiên theo quy định để lập danh sách đối tượng được mua
nhà ở thu nhập thấp thuộc dự án do mình làm chủ đầu tư.
Chủ đầu tư dự án có trách nhiệm gửi danh sách các đối tượng dự kiến được giải quyết mua
nhà ở thu nhập thấp theo thứ tự ưu tiên (trên cơ sở chấm điểm theo nguyên tắc quy định) về
Sở Xây dựng nơi có dự án để kiểm tra nhằm tránh tình trạng người thu nhập thấp được hỗ trợ
nhiều lần. Sau 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được danh sách, nếu Sở Xây dựng không có
ý kiến phản hồi thì chủ đầu tư thông báo cho các đối tượng được mua nhà ở thu nhập thấp
trong dự án của mình đến để thỏa thuận, thống nhất và ký hợp đồng. Riêng đối với nhà cho
thuê, thuê mua, phương thức giao dịch thoáng hơn, chủ yếu là thoả thuận của chủ đầu tư và
người có nhu cầu.
Còn với nhà ở cho người thu nhập thấp do tư nhân xây dựng hoặc kết hợp giữa tư nhân và
nhà nước thì phương thức giao dịch là mua bán theo thị trường, có sự giám sát của Nhà nước
để đảm bảo đúng đối tượng thu nhập thấp được thụ hưởng những ngôi nhà này.
1.3. Một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề nhà ở cho người có thu nhập thấp
1.3.1. Kinh nghiệm bốn phương
1.3.1.1. Singapore - đất nước không có người không nhà
Đó là tuyệt đối hoá. Nhưng nếu so sánh tương đối với nước ta hay kể cả nhiều nước đã phát
triển thì câu nói tuyệt đối trên vẫn hợp lý Vào năm 1960, dân số Singapore là 1,6 triệu
người, hơn 70% trong số họ phải sống trong những khu nhà chật hẹp, cũ kỹ, mất vệ sinh. 1/4
dân số sống trong những khu nhà ổ chuột, 1/3 khác sống trong những ngôi nhà tự phát ven
thành phố. (theo lời của PGS Sim Loo Lee, trưởng khoa Bất động sản, đại học Quốc gia
Singapore). Và bước đột phá được tạo ra : Uỷ ban phát triển nhà ở - Housing and
Development Board (HDB)- được thành lập. HDB- đó là biểu tượng của tư duy chiến lược.
Chiến lược tổng thể, phù hợp và hiệu quả.
Như đã trích dẫn ở trên ,những năm 60 của thế kỷ trước, người dân Singapore vô cùng khó
khăn về nhà ở. HDB đã đặt ưu tiên hàng đầu là : tăng nhanh nhất số lượng nhà ở trong một
thời gian ngắn nhất với chi phí thấp nhất. Kết thúc 5 năm đầu tiên, HDB hoàn thành 53.777
căn hộ mới, giá trung bình 4000 SGD/căn, tính ra là khoảng 45 phút là có một căn nhà mới
ra đời. Hoàn thành đúng mục tiêu. Rõ ràng mục tiêu đề ra không có hai từ “chất lượng”… Ở
Việt Nam ta hiện nay , khi chương trình giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp đang được
bàn đến và quyết tâm làm thì cũng có rất nhiều băn khoăn về chất lượng của các căn nhà giá
thấp đang được xây lên. Liệu Việt Nam bây giờ có là Singapore của những năm 60, có chọn
cách làm “nhiều nhất, nhanh nhất , rẻ nhất” mà HDB đã làm? Nhưng nếu nghĩ “nhiều,
nhanh, rẻ” thì chắc chắn chất lượng thấp thì có vẻ vội vàng. Một căn nhà 4000 SGD đó được
thiết kế đơn giản ,một khối hình hộp một hoặc hai phòng, có phòng bếp và toilet, nằm trong
những chung cư 5-7 tầng không cần thang máy. Không màu mè, không tô hồng phần vỏ,
những căn nhà ấy tiện dụng tối đa và phù hợp nhất vào những ngày tháng ấy.
Đầu năm 1970, 1/3 dân số đã sống trong những căn nhà mà HDB xây dựng. Và vào cuối
thập niên 70, người Singapore chính thức không thiếu nhà để ở. HDB - 20 năm - vấn đề có
nhà ở cho người dân được giải quyết xong. Bằng một thể chế pháp lý mạnh, một cơ chế quản
lý, giám sát chặt chẽ và đặc biệt là sự giữ gìn uy tín cao của chính quyền, Singapore đã đạt
được mục tiêu của mình.
Một điểm đáng chú ý gợi mở đến cốt lõi của đề tài nghiên cứu của chúng tôi cũng xuất hiện
từ đây. Những căn hộ xã hội được xây dựng trong giai đoạn này có chủ đầu tư là HDB
nhưng nguồn vốn chủ yếu lại đến từ hệ thống Ngân hàng.
HDB đã sử dụng cơ chế cho vay ưu đãi và mua nhà trả góp. Để đảm bảo khả năng trả góp
tiền mua nhà của người dân, Quỹ Tiết kiệm Trung Ương (CPF) ra đời. Các tổ chức tín dụng
đóng 13% và người lao động đóng 20% tiền lương của họ vào quỹ. Quỹ trả lãi bằng với lãi
suất ngân hàng và là chiếc bình phong ngăn khả năng vỡ nợ của người mua nhà. CPF cùng
với Ngân sách đã bù lỗ cho HDB.
Ngày nay, khoảng 90% dân số Singapore sống trong những căn hộ chung cư cao tầng khá
hiện đại nhưng giá bình dân. Có thể khẳng định lại: Singapore là điển h́nh nhất trong việc
giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân.
1.3.1.2. Nhà ở cho người có thu nhập thấp ở Tây Âu - nhà cho thuê
Nếu như ở Singapore, người có thu nhập thấp phần lớn sở hữu nhà ở thì ở Tây Âu, giải pháp
được lựa chọn là nhà cho thuê. Nhà cho thuê giải quyết được yêu cầu về vốn đầu tư, giá thuê
nhà phù hợp với người thu nhập thấp, thích ứng với tính linh hoạt trong việc làm của người
thu nhập thấp. Mô hình nhà cho thuê tập trung đăc biệt thích hợp ở các khu đô thị lớn của
nước ta. Đặc biệt nếu xây dựng nhà ở cho đối tượng công nhân khu công nghiệp tập trung,
sinh viên , hoặc bộ phận người dân nông thôn ly hương vào các thành phố kiếm sống thì nhà
cho thuê tập trung là mô hình khả thi nhất.
Với mặt bằng giá cả nhà đất hiện nay ở các đô thị lớn, người thu nhập thấp khó có cơ hội sở
hữu nhà. Nhà nước nên đặt mục tiêu trước mắt là giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân chứ
không phải là toàn dân sở hữu nhà ở.
1.3.2. Một số kinh nghiệm của các tỉnh thành trong nước
1.3.2.1. Đà Nẵng
Sở dĩ nhóm nghiên cứu chọn Đà Nẵng như một điểm hy vọng trong chương trình giải quyết
nhà ở cho người thu nhập thấp ở Việt Nam là vì chúng tôi rất ấn tượng với một Đà Nẵng “5
không” và “3 có”. Sau 5 năm thực hiện thành công “5 không”: không hộ đói, không mù chữ,
không lang thang ăn xin, không ma tuý, không giết người cướp của, năm 2005, Đà Nẵng bắt
tay vào làm “3 có” : có nhà ở, có việc làm, có văn minh đô thị. Đà Nẵng đã chọn con đường
đi riêng của mình : “an cư mới lạc nghiệp”. Mục tiêu của Đà Nẵng trong chương trình “có
nhà ở” là đến năm 2010, xoá bỏ toàn bộ nhà tạm, giải quyết căn bản vấn đề nhà ở cho người
dân.
Tuy nhiên, thực tế theo báo cáo của Sở xây dựng Đà Nẵng , từ năm 2006 - 2009, TP Đà
Nẵng chỉ mới đầu tư xây dựng trên 3.484 căn hộ chung cư giá thấp, tương đương khoảng
174.200 m
2
sàn. Để đẩy mạnh việc thực hiện chương trình này, ngày 27-5-2009, Chủ tịch
UBND TP.Đà Nẵng Trần Văn Minh đã ban hành chương trình xây dựng 7.000 căn nhà ở xã
hội. Diện tích mỗi căn tối đa là 70 m
2
và tối thiểu là 50 m
2
. Chương trình này được triển khai
trong hai năm 2009 - 2010, với tổng vốn đầu tư 1.700 tỉ đồng.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét