Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Qua quá trình học tập tại trờng và qua một thời gian nghiên cứu thực
tế em đã nhận thức đợc ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xoá đói
giảm nghèo đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội của Bắc Giang nói
riêng và của Việt Nam nói chung. Chính vì vậy em đã chọn và nghiên cứu
đề tài này: Những giải pháp cơ bản thực hiện xoá đói giảm nghèo tỉnh
Bắc Giang. Nhằm mở rộng phần nhận thức của mình hơn về vấn đề nan
giải đó và cũng hy vọng đóng góp một ý kiến nhỏ bé của mình vào sự phát
triển của tỉnh nhà trên con đờng phát triển chung của đất nớc.
Kết cấu của đề tài bao gồm 3 phần chính sau:
Chơng I: Một số vấn đề lý luận chung về xoá đói giảm nghèo.
Chơng II: Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở Bắc Giang.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp chủ yếu xoá đói giảm nghèo
ở Bắc Giang trong thời gian tới.
Trong chuyên đề này em đã sử dụng những phơng pháp nghiên cứu
nh: phơng pháp duy vật biện chứng; phơng pháp duy vật lịch sử; phơng ph-
ơng pháp so sánh; phơng pháp quy nạp; phơng pháp diễn dịch; phơng pháp
phân tích để hoàn thành chuyên đề.
Do nhận thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn nên chuyên
đề không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Rất mong đợc sự đóng
góp ý kiến của thầy cô, của ban lãnh đạo viện, của các bạn để bài viết này
hoàn chỉnh hơn. Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo cùng
các cô chú Ban Nguồn Nhân Lực và các vấn đề Xã Hội - Viện chiến lợc
phát triển - Bộ kế hoạch và đầu t đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn !
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ch ơng I
Một số vấn đề lý luận chung về xoá đói
giảm nghèo
I. Các quan niệm về đói, nghèo.
1. Quan niệm về đói, nghèo.
Xã hội loài ngời đã phát triển qua nhiều nấc thang lịch sử do trình độ
lực lọng sản xuất quyết định. Bằng lao động sản xuất, con ngời nkhai thác
thiên nhiên để tạo ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và
những nu cầu khác. Năng xuất lao động ngày càng cao thì của cải ngày
càng nhiều, các nhu cầu sống đợc đáp ứng đầy đủ hơn, trái lại năng xuất
lao động thấp, của cải vật chất thu đợc ít, con ngời rơi vào cảnh nghèo đói.
Tuy nhiên, ở trong các thời đại khác nhau, cũng có nhiều cách lý giải
khác nhau về quan niệm, nguyên nhân và cách giải quyết đối với hiện tợng
nghèo đói.
Trong thời kỳ tiền sử mông muội, loài ngời trong khi bức ra, tách
khỏi thế giới động vật trong giới tự nhiên để trở thành ngời và tổ chức thành
đời sống xã hội thì cùng với bớc ngoặc vĩ đại ấy, con ngời đã phải thờng
xuyên đối mặt với đói nghèo. ở đây, nghèo đói là hệ quả trực tiếp của lạc
hậu, mông muội là điển hình của sự thống trị của tự nhiên đối với con ngời.
Khi xuất hiện con ngời vvới thân phận nô lệ, một thứ hàng hoá có thể
mua bán, một công cụ biết nói ( chế độ chiếm hữu nô lệ ) hoặc là những kể
đi làm thuê kiếm miếng cơm manh áo qua ngày ( chế đọ phong kiến) thì
nghèo đói mới diễn ra nh hệ quả của áp bức xã hội, của chế độ ngời bóc lột
ngời. Trong các chế độ xã hội này sự giàu có ở cực này dựa trên sự bóc lột,
sự bần cùng hoá ở cực khác. Cực này càng giàu thì cực kia càng nghèo.
Sự ra đời và phát triển cuả Chủ nghĩa T bản vẫn chủ yếu dựa trên ph-
ơng thức cớp đoạt, bóc lột, bần cùng hoá đối với ngời lao động. Và nguồn
gốc sâu xa của nghèo đói trên đây là ở chế độ t hữu t bản chủ nghĩa về t
liệu sản xuất, ở chế độ áp bức, bóc lột và tình trạng nô dịch của con ngời.
Do đó, chỉ xoá bỏ chế độ t hữu, bóc lột đó thì mới có thể giải phóng giai
cấp vô sản và quần chúng lao động khỏi cảnh nghèo đói lầm than, làm cho
họ trở thành ngời lao động tự do và làm chủ tiến tới một xã hội công bằng
văn minh, đạt đợc sự hài hoà giữa ôựi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chính vì vậy sau Cách Mạng Tháng Mời năm 1917, trong bớc
chuyển từ Chính sách cộng sản thời chiến sang Chính sách kinh tế mới
(NEP) Lênin là ngời chủ trơng phát triển kinh tế hàng hoá, dùng lợi ích vật
chất, coi đó nh là một nhân tố kích thích, một đòn bẩy kinh tế khuyến
khích ngời lao động, giải phóng sức sản xuất, làm cho nền kinh tế khởi sắc,
từng bớc thoát khỏi sự trì trệ, trên cơ sở đó đã xoá đợc căn bản tình trạng
nghèo đói đang hoành hành khắp nớc Nga.
Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghiã Mác-Lênin, trong công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc nớc ta, Hồ Chí Minh đã để lại
cho chúng ta những t tởng quý báu về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là
quan niệm của Ngời về chủ nghĩa xã hội là xa lạ với nghèo đói, bần cùng
và lạc hậu. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất
hơn nữa, thực hành tiết kiệm. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết
kiệm là tay trái của hạnh phúc. Đây là con đờng lâu dài và chắc chắn đối
với công tác xoá đói giảm nghèo nói riêng và không ngừng nâng cao đời
sống nhân dân nói chung. Đặc biệt là t tởng của Ngời: Làm cho ngời
nghèo thì đủ ăn, ngời đủ ăn thì khá giàu, ngời khá giàu thì giàu thêm.
Theo Ngời, xoá đói phải tiến tới giảm nghèo và tăng giàu. Đói, nghèo là
một cửa ải phải vợt qua, phải tiến tới giàu có, giàu có nữa giàu có mãi, dân
có giàu thì nớc mới mạnh. Cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội nh một xã
hội giàu có, phồn thịnh về kinh tế ,lành mạnh về xã hội,văn minh và văn
hoá. Quan niệm trên đây chứa đựng ý nghĩa giải phóng to lớn sức sản xuất,
giải phóng t tởng và tiềm năng xã hội, hớng tới một sự phát triển năng động
của toàn xã hội vì hạnh phúc của con ngời.
Nếu điểm xuất phát tới chủ nghĩa xã hội lại quá thấp và sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội còn là mới mẻ, đang từng bớc phải tìm tòi về
con đờng, cách đi, mô hình, cách làm nh ở nớc ta thì vấn đề đói nghèo
đói vẫn còn tồn tại là vấn đề khó tránh khỏi.
Đối với Việt Nam để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn
so với các nớc, con đờng phát đi của chúng ta là phát triển rút ngắn đồng
thời gắn liền với việc giảm tối đa cái giá phải trả - trong đó có việc giải xoá
đói giảm nghèo. ở Việt Nam,đó là nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
2. Các khái niện về đói nghèo.
2.1.Các khái niệm về nghèo.
Khái niệm về nghèo khổ của UNDP 1998.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Năm 1998, UNDP công báo một bản báo cáo nhan đề Khắc phục sự
nghèo khổ của con ngời đã đa ra những định nghĩa về nghèo nh sau:
Sự nghèo khổ của con ngời : Thiếu những quyền cơ bản của con ng-
ời nh biết đọc, biết viết và đợc nuôi dỡng tạm đủ.
Sự nghèo khổ về tiền tệ : Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả
năng chi tiêu tối thiểu.
Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả
năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu.
Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn đợc xác
định nh sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lơng thực và phi l-
ơng thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi đợc xác định khác nhau ở
những nớc khác nhau.
Sự nghèo khổ tơng đối: Sự nghèo khổ đợc xác định theo những
chuẩn mực có thể thay đổi với thời gian ở nớc này hay nớc khác. Ngỡng
này có thể tăng lên đồng thơì với thu nhập.
Sự nghèo khổ tuyệt đối: Sự nghèo khổ đợc xác định bằng một chuẩn
mực nhất định. Chẳng hạn nh ngỡng quốc tế của sự nghèo khổ là 1USD/ng-
ời/ngày.
Khái niệm về nghèo đói của Ngân hàng thế giới
(WB).
Ngỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ hàng hoá l-
ơng thực hàng ngày trong năm 1993 và đợc gọi là ngỡng nghèo về lơng
thực, thực phẩm. Ngỡng nghèo này thòng thấp bởi vì nó không tính đến số
tiền chi tiêu cho những sản phẩm phi lơng thực khác.
Ngỡng nghèo thứ hai là ngỡng nghèo chung bao gồm cả chi tiêu
cho lơng thực thực phẩm và chi tiêu cho sản phẩm phi lơng thực.
Xuất phát từ nhu cầu calo tối thiểu cần thiết cho mỗi cơ thể theo thể trạng
con ngời: WB đã đa ra con số phổ biến đợc sử dụng là 2100 kilo calo cho
một ngời mỗi ngày. Mỗi gia đình Việt Nam phải mất bao nhiêu tiền để
mua đợc một rổ hàng hoá lơng thực đủ để cung cấp 2100 calo cho mỗi ngời
một ngày. Vì vậy, nghèo đói theo đĩnh nghĩa của WB là những hộ không có
khả năng chi trả cho số hàng hoá lơng thực của mình để đủ cung cấp 2100
calo cho mỗi ngòi một ngày.
Khái niệm về nghèo đói trong khu vực Châu á - Thái
Bình Dơng do ESCAP tháng 9/1993.
Nghèo tuyệt đối: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không đợc
hởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngòi, mà những nhu cầu
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
này đã đợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong
tục tập quán của địa phơng.
Nghèo tơng đối: Là tình trạng một bộ phận dân c sống dới mức trung
bình của cộng đồng.
2.2. Các khái niệm về đói.
Đói là tình trạng của một bộ phận dân c nghèo có mức sống dới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy
trì cuộc sống. Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.
Tài liệu của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội đã phân loại đói làm hai
dạng (theo mốc đánh giá năm 1993):
Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân c có thu nhập dới mức
thu nhập là 12 kg gạo/ngời/tháng. Hay là tình trạng của một bộ phận dân c
ở nông thôn có thu nhập dói mức 20.400 đồng/ngòi/tháng và ở thành thị là
24.500 đồng/ngời/tháng.
Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân c có mức thu nhập
dới mức 8 kg gạo/ngời/tháng và ở thành thị là 16.300 đồng/ngòi/tháng.
Ngoài ra còn có khái niệm khác nhằm làm rõ hơn tình trạng nghèo
đói ở Việt Nam.
Nghèo đói kinh niên: ( tơng ứng với nghèo truyền từ đời này qua đời
khác) là bộ phận dân c nghèo đói nhiều năm liền cho tới thời đang xét.
Nghèo đói cấp tính:( hay còn gọi là nghèo mới ) là bộ phậ dân c rơi
vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân nh phá sản và các
rủi ro khác, tại thời điểm đang xét.
II .Các quan niệm về xoá đói, giảm nghèo.
1. Khái niệm về xoá đói, giảm nghèo.
1.1 Khái niệm về xoá đói.
Xoá đói là làm cho bộ phận dân c nghèo có mức sống dới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
sống, từng bớc nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để
đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
1.2 Khái niệm giảm nghèo.
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân c nghèo nâng cao mức sống,
từng bớc thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lợng
ngời nghèo giảm xuống. Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình
chuyển bộ phận dân c nghèo lên một mức sống cao hơn.
ở khía cạnh khác giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện
lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời
sống mọi mặt của mỗi ngời.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ở góc độ nớc nghèo: Giảm nghèo ở nớc ta chính là từng bớc thực
hiện quá trình chuyển đổi các trình đọ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng
trong xã hội sang trình độ sản xuất mới, cao hơn. Mục tiêu hớng tới là trình
độ sản xuất tiến tiến của thời đại.
ở góc độ ngời nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ
ngời có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh
nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bớc thoát khỏi tình
trạng.
2. Các cách xác định mức nghèo đói và bất bình đẳng .
2.1 Cách cách tính xác định mức độ nghèo đói.
Sau khi xác định đợc ngỡng nghèo (sẽ đợc nêu ở phần sau), có thể
tính toán đợc một số chỉ tiêu thống kê tóm tắt để mô tả quy mô, mức độ và
tính nghiêm trọng của đói nghèo. Những thống kê này bao gồm chỉ số đếm
đầu ngời (xác định tỉ lệ đói nghèo), khoảng cách đói nghèo (xác định mức
độ sâu của đói nghèo) và bình phơng khoảng cách đói nghèo (xác định tính
nghiêm trọng của đói nghèo). Foster, Green và Thodbecke (1984) đã chỉ ra
rằng 3 thớc đo xác định mức độ đói nghèo có thể đợc tính bằng công thức
sau:
=
=
M
i
z
yi(z
N
P
1
1
Trong đó y
i
là đại lợng xác định phúc lợi( ở đây chi tiêu tính trên đầu
ngời) cho ngời thứ i, z là ngỡng nghèo, N là số ngời có trong mẫu dân c, M
là số ngời nghèo và
có thể đợc diễn giải nh là đại lợng đo mức độ quan
tâm đến sự bất bình đẳng giữa những ngời nghèo.
Khi
=0, đẳng thức trên tơng đơng với M/N, tức là bằng số ngời
nghèo chia cho tổng số ngời ở trong mẫu. Thớc đo xác định quy mô đói
nghèo và đợc sử dụng rất phổ biến này đợc gọi là tỷ số đếm đầu ng ời hay
chỉ số đếm đầu khi chuyển sang tính dới dạng %. Mặc dù chỉ số đếm đầu
dễ đợc diễn giải song nó không nhạy cảm với khoảng cách của những ngời
nghèo so với ngỡng nghèo.
Khi
=1, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói. Chỉ số này cho biết
sự thiếu hụt trong chi tiêu của các hộ nghèo so với ngỡng nghèo và nó đợc
biểu hiện nh mức trung bình của tất cả mọi ngời trong quần thể . Khoảng
cách nghèo đói đợc tính đơn giản nh là tổng tất cả các khoảng cách nghèo
đói ở trong quần thể, có thể đợc sử dụng để xác định chi phí tối thiểu để
xoá bỏ nghèo đói trong điều kiện mọi khoản chuyển nhợng đợc chuyển đến
đúng đối tợng. Tuy nhiên, việc chuyển giao các khoản chuyển nhợng theo
định hớng mục tiêu thờng đi kèm với hao hụt và chi phí hành chính và bởi
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vậy chi phí thực tế để xoá bỏ nghèo đói thờng là bội số của khoảng cách
nghèo đói .
Khi
=2, ta có chỉ số khoảng cách nghèo đói bình phơng. Chỉ số
này thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cờng độ ) của nghèo đói và tăng
thêm trọng số cho nhóm ngời nghèo nhất trong số những ngời nghèo.
Không giống nh một số thớc đo mức độ nghèo đói khác, 3 đại lợng này có
tính chất rất hữu ích là nó có thể tính nh là tổng số các số hạng đợc phân
nhỏ (chẳng hạn, mức đói nghèo chỉ số đếm đầu ngời trên toàn quốc sẽ bằng
bình quân gia quyền của nghèo đói ở khu vực nông thôn và thành thị , hay
bằng bình quân gia quyền của chỉ số đếm tỉ lệ nghèo đói ở các vùng khác
nhau).
2.2 .Các cách tính xác định sự bất bình đẳng.
Ba thớc đo xác định mức độ bất bình đẳng đợc sử dụng trong báo cáo
gồm: Tỷ số giữa chi tiêu của nhóm ngời có mức chi tiêu cao nhất với chi
tiêu của nhóm ngời có mức chi tiêu thấp nhất, hệ số Gini , và chỉ số Theil
L. Cũng giống nh thớc đo nghèo đói đã đề cập ở trên, các đại lợng này đều
đợc tính dựa vào mức chi tiêu trên đầu ngời nh là thớc đo của phúc lợi, nếu
đợc sử dụng khác đi sẽ đợc giải thích rõ.
Tỉ số chi tiêu của nhóm giàu nhất chia cho chi tiêu của nhóm ng ời
nghèo nhất là một đại lợng đợc sử dụng rất phổ biến ở cả các nớc phát triển
và đang phát triển, (một nhóm bao gồm 20% dân số) .Hạn chế chính của
thớc đo xác định sự bất bình đẳng này là bỏ qua chi tiêu của 60% dân số là
những ngời có mức chi tiêu trung bình và nó cũng không tính đến sự phân
bố chi tiêu trong các nhóm ngời nghèo nhất và ngời giàu nhất.
Hệ số Gini là thớc đo xác định sự bất bình đẳng nhận giá trị trong
khoảng từ 0 (khi tất cả mọi ngời có mức chi tiêu hoặc thu nhập nh nhau)
đến 1 (khi một ngời nắm giữ mọi thứ của xã hội !). Hệ số Gini càng tiến tới
gần 1 thì sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn. Đối với hầu
hết các nớc đang phát triển, hệ số Gini chi tiêu hoặc thu nhập nằm trong
khoảng từ 0,3-0,6 .
Hệ số Gini minh hoạ trên đồ thị đợc biểu thị bằng phần diện tích
nằm dới đờng cong Lorenz chia cho phần diện tích nằm phía dới đờng chéo
công bằng. Do vậy đờng cong Lorenz càng cách xa đờng công bằng bao
nhiêu thì hệ số Gini càng lớn bấy nhiêu. Tuy là một thớc đo xác định sự bất
bình đẳng đợc sử dụng rất phổ biến song hệ số Gini còn có một số hạn chế.
Những hạn chế đó là : (a) hệ số Gini không phải lúc nào cũng tăng lên khi
lấy tiền của một ngời và chuyển sang cho một ngơì khác giàu hơn; và (b)
không thể phân tách hệ số Gini theo các nhóm con (chẳng hạn nh các khu
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nông thôn và đô thị hoặc cho 7 khu vực hành chính ở Việt Nam) và sau đó
tổng hợp lại để rút ra hệ số Gini của quốc gia.
Chỉ số Theil L là đại lợng xác định sự bất bình đẳng dựa trên lý
thuyết thông tin/ xác suất. Chỉ số Theil L biến thiên từ 0 (công bằng tuyệt
đối ) đến
(bất bình đẳng tuyệt đối ) song chỉ số này ít khi lớn hơn 1.
Cũng giống nh hệ số Gini, chỉ số Theil L càng lớn thì sự bất bình đẳng
trong phân phối chi tiêu (hoặc thu nhập) càng cao. Chỉ số Theil L đợc tính
nh sau:
=
=
N
i
i
Ny
Y
L
1
ln
Trong đó, giống nh trên, y
i
là đại lợng xác định phúc lợi cho ngời thứ
i, N là số lợng ngời có trong quần thể và Y là tổng của các đại lợng xác
định phúc lợi của tất cả các cá nhân (tức là tổng chi tiêu hoặc tổng thu nhập
).
Thớc đo chỉ số Theil L có 2 u điểm chính : (a) làm tăng trọng số của
những ngời có thu nhập thấp ; (b) không giống nh hệ số Gini, nó có thể đợc
phân ra theo các nhóm con (nói một cách chính xác, chỉ số Theil L quốc
gia là bình quân gia quyền của các chỉ số của các nhóm con trong đó trọng
số là các tỷ trọng trong quần thể dân c). Ưu điểm thứ hai này rất quan trọng
vì nó cho phép xem xét các yếu tố dẫn đến thay đổi trong sự bất bình đẳng
ở cấp độ quốc gia.
Một thớc đo xác định sự bất bình đẳng có liên quan khác là chỉ số
Theil T về sự bất bình đẳng. Chỉ số này nhận giá trị biến thiên từ 0 đến
log(N). Bản báo cáo này sử dụng chỉ số Theil L vì chỉ số này nhạy cảm hơn
chỉ số Theil T đối với sự bất bình đẳng ở phần thấp trong đồ thị phân phối
thu nhập.
3.Các tiêu thức và chuẩn mức đánh giá nghèo đói.
3.1 Các tiêu thức đánh giá nghèo đói.
Để xác định ngỡng nghèo có nhiều chỉ tiêu, chuẩn mực đánh giá
khác nhau.
a) Tiêu thức về chỉ tiêu chất lợng cuộc sống (PQLI) chỉ số PQLI bao
gồm ba mục tiêu cơ bản là tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù
chữ.
b) Tiêu thức về chỉ tiêu phát triển con ngời (HDI) do UNDP đa ra
của bao hệ thống ba tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ ngời lớn, thu nhập
bình quân trên đầu ngời trong năm.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
c) Tiêu thức về chỉ tiêu nhu cầu dinh dỡng: Tính mức tiêu dùng qui
ra kilocalo cho một ngời trong một ngày.
d) Tiêu thức về thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu ngời:
Đây là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nớc và tổ chức quốc tế đang dùng
để xác định giàu nghèo. Tại đại hội lần thứ II của uỷ ban giảm nghèo khổ
khu vực (ESAP) họp tại BangKoc tháng 9/1995, Ngân hàng thế giới đa ra
chuẩn mực nghèo khổ chung ccủa toàn cầu là thu nhập bình quân đầu ngơì
dới 370 USD/ ngời/năm.
Tóm lại, sự kết hợp chỉ tiêu GDP, HDI, và PQLI cho phép nhìn nhận
các nớc giàu, nghèo chính xác và khách quan hơn. Bởi nó cho phép đánh
giá khách qua, toàn diện của con ngời trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội.
3.2 Mức chuẩn đánh giá nghèo đói.
a) Mức chuẩn nghèo đói đối với quốc tế (đánh giá nớc giàu, nớc
nghèo).
ở một khía cạnh khác nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh
tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một
khu vực, một vùng, một miền. Các chỉ số xác định thế nào là nghèo cho
biết trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trình độ lực lợng sản
xuất nói riêng ở vùng, miền,quốc gia ấy ở tại một thời điểm nhất định Ví
dụ: với chỉ số nghèo là 400 USD/ngời/ năm cho biết đây là nớc nghèo đang
phát triển. Với chỉ số nghèo là 13.000 USD/ngời/năm cho biết đây là nớc
phát triển.
Nh vậy trên thế giới tơng đơng với ba nhóm nớc có ba dạnh nghèo
khác nhau: Nghèo ở các nớc có trình độ kinh tế phát triển cao; nghèo ở các
nớc có trình độ phát triển kinh tế chậm và nghèo ở các nớc có trình độ phát
triển kinh tế trung bình . Việc phân định ba dạng nghèo nh vậy có ý nghĩa
rất lớn trong việc xem xét đánh giá nghèo ở mỗi nớc thuộc dạng nào, tơng
ứng với trình độ phát triển kinh tế xã hội nào để có cách nhìn tổng quát
trong quá trình giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo.
Với cách đánh giá nghèo nh trên, nghèo ở Việt Nam mang đầy đủ
những đặc trng cơ bản này những nổi bật ở hai đặc trng:
- Nghèo dai dẳng kéo dài, nghèo từ đời nay sang đời khác.
- Nghèo có cấp độ rất lớn, khoảng cách giữa thu nhập quan sát đợc
vơí ngỡng nghèo đợc quy định ở Việt Nam và trên thế giới là rất lớn. Biểu
hiện là, Việt Nam vẫn còn một bộ phận dân c bị đói.
Đây là hai đặc trng phản ánh thực trạng ở Việt Nam là nớc còn rất
nghèo, nằm trong nhóm nớc đang phát triển với trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất còn thấp kém. Đồng thời hai đặc trng này chi phói rất nhiều
đến trình đọ giảm nghèo ở nớc ta hiện nay.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nếu căn cứ vào GDP trên đầ ngời / năm ở vào thời điểm năm 1990
để phân tích cho thấy:
Trên 25.000 USD : nớc cực giàu
Trên 20.000 25000 USD : nớc giàu
Trên 10000 20000 USD : nớc khá giàu
Trên 2500 10000 USD : nớc trung lu
Trên 500 2500 USD : nớc nghèo
Dới 500 USD : nớc cực nghèo
Việt Nam mới đạt đợc 386 USD/ngời/năm (Năm2000) đợc xếp thứ
110/171 trên thế giới, nằm trong nhóm cực nghèo.
b) Mức chuẩn nghèo đói đối với Việt Nam
Nghèo đói theo đánh giá của Bộ Lao động Thong binh
-Xã hội và Tổng cục Thống kê.
Bộ lao động TB-XH và Tổng cục Thống kê căn cứ vào nhu cầu tối
thiểu về lơng, thực phẩm vầ quy định ra thu nhập đã đa ra cách phân loại
giàu nghèo nh sau: Thu nhập/ ngời/ tháng.
Tiêu chuẩn nghèo đói năm 1993 là :
Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đầu ngời dới 8 kg/tháng ở nông
thôn, dới 13kg/tháng ở thành thị .
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu ngời dới 13 kg/tháng ở
nông thôn , dới 20kg/tháng ở thành thị .
Tiêu chuẩn nghèo đói năm 1996 là :
Hộ đói : Là hộ có thu nhập bình quân đầu ngời quy đổi ra gạo là 13
kg/tháng.
Hộ nghèo : Là hộ có thu nhập bình quân đầu ngời quy đổi ra gạo là
25 kg/tháng ở thành thị; dới 20 kg/tháng ở nông thôn đồng bằng và trung
du; dới 15 kg/tháng ở nông thôn miền núi.
Hay tổng cục Thống kê đã đa ra hộ nghèo là hộ có TNBQ đầu ngời
nh trong bảng sau:
Bảng1: Phân loại hộ đói nghèo theo tiêu chuẩn của Bộ LĐTB -
XH và TCTK ( nghìn đồng/ngời/ tháng ).
Nông thôn Thành thị % dân số
- Hộ rất nghèo < 30 <50 4,20
- Hộ nghèo 30 - 50 50-70 16,10
- Hộ dới trung bình 50 - 70 70-100 22,27
- Hộ trung bình 70-125 100-175 36,14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét