Cơ sở thực tập: CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN XNK
SẢN PHẨM CƠ KHÍ
Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh ở công ty TNHH
Nhà nước một thành viên xuất nhập khẩu sản phẩm cơ khí.
Công ty TNHH Nhà nước một thành viên XNK sản phẩm cơ khí, tên
giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là Mechanical Products Export – Import
Limited Company, viết tắt là MECANIMEX, có trụ sở chính đóng tại số 37 –
Tràng Thi - Quận Hoàn Kiếm – Hà Nội. Công ty hoạt động trong lĩnh vực
kinh doanh thương mại là chủ yếu và sản xuất công nghiệp.
I Quá trình hình thành và phát triển
Công ty xuất nhập khẩu các sản phẩm cơ khí được thành lập dưới sự
liên kết của một bộ phận của Công ty Machino và của Công ty Tocotap theo
quyết định số 88/CT ngày 2/3/1985 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) và bắt đầu đi vào hoạt động ngày 26/3/1985 theo giấy phép kinh
doanh số 1.011.012/GP của Bộ trưởng Bộ cơ khí và luyện kim (sau này đổi
thành Bộ công nghiệp, hiện nay Bộ Công nghiệp và sáp nhập với Bộ Thương
mại thành Bộ Công thương).
Công ty xuất nhập khẩu sản phẩm cơ khí được thành lập lại theo Quyết
định số 216QĐ/TCNSĐT ngày 05/05/1993 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp.
Số ĐKKD 108242 ngày 20/05/1993 do Trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội
cấp.
Công ty xuất nhập khẩu sản phẩm cơ khí trở thành đơn vị thành viên
của Tổng công ty máy và thiết bị công nghiệp theo quyết định số
1171/GP/TCNSĐT ngày 27/10/1995 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp.
Thực hiện Nghị định số 63/2001/NĐ – CP ngày 14/9/2001 của Chính
phủ về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp, doanh nghiệp của
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành Công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên; Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên xuất
nhập khẩu sản phẩm cơ khí đã được chuyển đổi từ Công ty xuất nhập khẩu
1
các sản phẩm cơ khí (Mecanimex) theo QĐ số 120/2004/QĐ – BCN ngày
02/11/2004 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp.
Từ tháng 03/2004 Công ty tiếp nhận Nhà máy Quy chế Từ Sơn nhập
vào Công ty theo Quyết định số 18/2004/QĐ – BCN ký ngày 09/03/2004 của
Bộ trưởng Bộ công nghiệp. Nhà máy Quy chế Từ Sơn được thành lập năm
1963. Chuyên sản xuất các chi tiết lắp xiết theo tiêu chuẩn: TCVN, ISO, DIN,
JIS, ASTM, BS áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000. Sản
phẩm chính của Nhà máy gồm: các loại bu lông, đai ốc, vít, vít xiết, vòng đệm
phẳng, vòng đệm lò xo từ M3 ÷ M80. Các loại bu lông, vít được chế tạo đạt
cấp bền từ 4.6 đến 12.9, ren được chế tạo theo hệ Mét, hệ Anh, hệ Mỹ. Ngoài
ra nhà máy còn sản xuất một số mặt hàng đặc biệt có chất lượng cao phục vụ
cho các ngành chế tạo máy, đường sắt, đóng tàu, đường dây và trạm điện, dây
chuyền sản xuất xi măng; bu lông, đai ốc vít, tắc kê ô tô; các chi tiết có ren
cho xe đạp, xe máy, xe hơi Sản phẩm của Nhà máy được sản xuất theo công
nghệ tiên tiến theo dây chuyền Đập nguội tự động và Đập nóng khuôn kín;
bảo vệ bề mặt bằng công nghệ nhuộm đen, mạ kẽm điện phân, nhúng kẽm
nóng đạt chất lượng cao phục vụ nhiều công trình trọng điểm Quốc gia như:
Đường ống dẫn dầu Bắc – Nam, công trình đường sắt thống nhất, công trình
nhà máy thủy điện Hoà Bình, công trình đường dây tải điện 500 KVA, công
trình đường Đèo Hải Vân, công trình toà nhà Quốc hội
Do tính chất là một doanh nghiệp Nhà nước, công ty có chức năng và
phương hướng thay đổi phù hợp với sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế
Việt Nam.
Thật vậy, trong giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1989, công ty chủ yếu
kinh doanh theo Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủcác
nước XHCN về các mặt hàng là sản phẩm của ngành cơ khí và luyện kim.
Từ năm 1990 trở lại đây cùng với sự thay đổi cơ chế quản lý từ cơ chế
kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường công ty đã tự chủ hoàn toàn
trong hoạt động kinh doanh của mình, không ngừng mở rộng danh mục xuất
2
nhập khẩu sang các mặt hàng tiêu dùng và thực hiện các dịch vụ xuất nhập
khẩu khác.
Với mục tiêu hoạt động của công ty là nhằm sử dụng có hiệu quả dòng
vốn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, không ngừng
tăng thu ngoại tệ, thu hút thêm lao động xã hội góp phần thúc đẩy sản xuất
trong nước phát triển, nâng cao thu nhập cho người lao động.
Kết quả sau 23 năm hoạt động hiện nay công ty mecanimex là một
trong những doanh nghiệp đạt doanh thu khá về kinh doanh thương mại và
sản xuất công nghiệp trong Tổng công ty Máy và TBCN. Danh mục hàng
xuất nhập khẩu được mở rộng, ngoài những mặt hàng truyền thống như các
loại máy móc, thiết bị, vật tư hàng hoá phục vụ cho n gành cơ khí, luyện kim
và hoá chất, công ty còn tiến sang xuất nhập khẩu các mặt hàng điện tử gia
dụng và một số hàng tiêu dùng khác. Công ty còn mở rộng sang các lĩnh vực
khác như gia công, chế biến hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng trong nước, làm
đại lý, kinh doanh dịch vụ, tổ chức hội chợ triển lãm hàng công nghiệp. Hơn
thế nữa thị trường hoạt động cũng được mở rộng, ngoài các thị trường cũ là
LB Nga và các nước Đông Âu công ty hiện nay đã xâm nhập được vào các thị
trường như: Đài Loan, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, ASEAN
3
II Đặc điểm tổ chức quản lý và bộ máy kế toán của công ty.
1 Đặc điểm tổ chức quản lý.
Mecanimex hoạt động theo cơ chế phân cấp hoạt động bao gồm cấp
quản lý (giám đốc và các phó giám đốc) và cấp thực hiện (các phòng ban
chức năng, chi nhánh và văn phòng đại diện).
Hiện nay, công ty có tất cả 412 cán bộ công nhân viên, trong đó số
người có trình độ đại học là 58 người.
1.1 Bộ phận quản lý.
Đứng đầu công ty là giám đốc do Bộ chủ quản trực tiếp bổ nhiệm.
Giám đốc điều hành công ty theo chế độ một thủ trưởng và chịu trách nhiệm
về mọi hoạt động của công ty trước pháp luật, trước bộ chủ quản cấp trên và
toàn thể cán bộ nhân viên của công ty. Giám đốc công ty được quyền tổ chức
bộ máy quản lý và mạng lưới kinh doanh cho phù hợp với nhiệm vụ của công
ty và qui định phân cấp quản lý của Bộ chủ quản và Tổng công ty.
Giám đốc có hai phó giám đốc giúp việc, điều hành một hoặc một vài
lĩnh vực của công ty theo sự phân cấp và uỷ quyền của giám đốc. Chịu trách
nhiệm trực tiếp trước giám đốc về các nhiệm vụ được phân công và uỷ quyền.
1.2 Các phòng ban chức năng:
* Văn phòng công ty: gồm hai bộ phận là hành chính quản trị và tổ
chức nhân sự.
- Bộ phận hành chính quản trị: có chức năng theo dõi các quy chế,
chính sách của công ty, giám sát hoạt động kỷ luật, thu nhận thông tin và
chính sách quốc gia để gửi về văn phòng. Đồng thời làm tất cả các công tác
hành chính sự vụ của công ty như in ấn tài liệu văn phòng phẩm, phục vụ điều
hành tổng đài và mạng lưới điện thoại quốc gia phục vụ công tác vận chuyển
trong công ty.
- Bộ phận tổ chức nhân sự: có chức năng theo dõi tình hình biến động
về nhân sự của công ty, điều hành sắp xếp các vị trí của nhân sự trong công ty
theo quyết định của giám đốc.
4
* Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu: là bộ phận kinh doanh chủ chốt
của công ty. Bao gồm bộ phận kinh doanh ngoại và bộ phận kinh doanh nội.
- Bộ phận kinh doanh ngoại: có nhiệm vụ giao dịch và ký kết hợp đồng
mua bán, xuất nhập khẩu với các công ty nước ngoài, làm thủ tục xuất khẩu
hoặc nhập khẩu hàng hoá.
- Bộ phận kinh doanh nội: có nhiệm vụ giao dịch và ký kết các hợp
đồng mua bán, uỷ thác xuất nhập khẩu với các đơn vị kinh tế trong nước, đôn
đốc khách hàng trong nước thực hiện giao hàng đúng hạn, đảm bảo chất
lượng để hợp đồng được thực hiện tốt.
* Phòng tài chính kế toán: có nhiệm vụ theo dõi quản lý vốn để đề ra
những chiến lược nhằm bảo toàn và phát triển vốn; tổng hợp tất cả các số liệu
kế toán để có thể đưa ra tình hình lỗ, lãi của công ty. Làm các thủ tục thanh
toán nội giữa Mecanimex với các đơn vị trong nước, thực hiện thanh toán
ngoại giữa công ty với các công ty nước ngoài khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu
hàng hoá.
1.3 Chi nhánh và văn phòng đại diện.
- Chi nhánh tại thành phố HCM: hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
theo sự chỉ đạo của giám đốc chi nhánh và chịu trách nhiệm trước giám đốc
công ty về hiệu quả kinh doanh.
- Văn phòng đại diện tại Hài Phòng: có nhiệm vụ thực hiện mọi thủ tục
giao dịch nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại cảng Hải Phòng.
- Văn phòng đại diện tại LB Nga: thực hiện việc giao dịch với các công
ty của Nga và các nước Đông Âu.
5
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY MECANIMEX
1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của công ty.
Xét về cơ cấu, bộ phận tài chính kế toán của công ty Mecanimex bao
gồm:
- Kế toán trưởng: đồng thời là trưởng phòng, là người chịu trách nhiệm
chung về tài chính, kế toán của công ty. Kế toán trưởng có chức năng giúp
giám đốc chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kế toán, thống kê của công ty.
Kế toán trưởng có hai phụ tá là kế toán phó giúp việc, kế toán phó còn
dảm nhận các phần hành kế toán cụ thể như: một kế toán phó có nhiệm vụ
thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán như mở L/C, nhập khẩu
hàng, thanh toán với khách hàng, thanh toán với khách hàng và theo dõi công
nợ. Một kế toán phó còn lại theo dõi về chi phí và viết hoá đơn bán hàng.
6
Giám đốc
Phó giám đốc phụ trách
kinh doanh
Phó giám đốc phụ trách
hành chính
Chi
nhánh
thành
phố
HCM
Đại
diện tại
Hải
Phòng
Đại
diện tại
LB Nga
Phòng
kinh
doanh
XNK
Văn
phòng
công ty
Phòng
tài
chính
kế toán
Kinh doanh
nội
Kinh doanh
ngoại
Hành chính
quản trị
Tổ chức
nhân sự
Các kế toán viên bao gồm kế toán phụ trách về thuế, công nợ phải thu,
doanh thu tiêu thụ, kế toán phụ trách tổng hợp về các phần hành như tiền
lương, TSCĐ, quỹ của công ty.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC PHÒNG KẾ TOÁN TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY
Hình thức tổ chức kế toán của công ty là hình thức nhật ký chứng từ.
Quá trình thực hiện ghi sổ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được thực
hiện trên máy tính. Kế toán tập hợp và phân loại các chứng từ gốc như: phiếu
thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất, hoá đơn, giấy báo Nợ, giấy báo Có,
thông báo thuế sau đó nhập chứng từ vào máy tính. Máy tính sẽ tự động
thực hiện các bút toán phân bổ, kết chuyển cuối kỳ, lên các báo cáo tài chính
theo quy định, lên các sổ chi tiết, sổ tổng hợp, sổ cái tài khoản, lên các báo
cáo công nợ và các báo cáo phục vụ cho công tác quản lý khác của công ty.
Niên độ kế toán bắt đầu thực hiện từ ngày 01/01 và kết thúc ngày 31/12
hàng năm.
Đơn vị tiền tệ sử trong ghi chép kế toán của công ty là VNĐ.
Phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác theo tỷ lệ giá Ngân hàng
bình quân ngày phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho được sử dụng là phương pháp kê
khai thường xuyên.
Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
7
Kế toán trưởng
Phụ tá kế toán trưởng
Kế toán trưởng tổng hợp
(tiền lương, TSCĐ )
Kế toán thuế và
tiêu thụ
Xử lý số liệu bằng
máy tính
2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty Mecanimex
Mecanimex là một doanh nghiệp Nhà nước được Nhà nước đầu tư vốn
(ban đầu) thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, có đầy đủ tư
cách pháp nhân, có quyền quản lý vốn và tài sản do Nhà nước giao.
* Lĩnh vực kinh doanh của công ty rất đa dạng, gồm: Kinh doanh
thương mại, sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Cụ thể:
+ Kinh doanh thương mại gồm các hoạt động kinh doanh chủ yếu sau:
- Kinh doanh xuất nhập khẩu (tự doanh và uỷ thác), các sản phẩm cơ
khí, sản phẩm luyện kim, khoáng sản, máy móc, thiết bị phụ tùng cho ngành
công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải; Thiết bị dụng cụ y tế, thiết bị
điện, điện tử, điện lạnh và tin học
- Kinh doanh, sản xuất, trang trí nội ngoại thất, đồ gỗ gia dụng, gồm sứ,
hàng dân dụng và tiêu dùng, hoá chất, hàng mỹ phẩm, phân bón, xăng dầu,
chất dẻo.
- Gia công các chủng loại hàng hoá để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu như các loại sản phẩm gia dụng bằng kim loại (sắt thép),
đồ gỗ (bàn ghế ).
- Kinh doanh văn phòng, khách sạn, nhà ở, bất động sản, kho bãi, siêu
thị, vận tải và giao nhận hàng hoá. Dịch vụ triển lãm thương mại về máy móc,
thiết bị và hàng công nghiệp. Làm đại lý ký gửi hàng hoá
+ Sản xuất công nghiệp gồm:
Sản xuất cung cấp các loại bu lông đai ốc vít, vít xiết, vòng đệm phẳng,
vòng đệm lò xo từ M3 ÷ M80. Cấp bền bulông, vít đạt 4.6 ÷ 12.9 sản xuất
các loại bulông, gu giông đặc biệt; các chi tiết có ren cho xe đạp, xe máy, xe ô
tô
* Hoạt động kinh doanh của công ty có hai hình thức là:
+ Kinh doanh trực tiếp: xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp và kinh doanh
nội. Thực chất là thực hiện hợp đồng mua với khách hàng nước ngoài để tiêu
thụ trong nước (NK) hoặc thực hiện việc thu mua hàng trong nước rồi hợp
8
đồng bán cho nước ngoài (XK). Trên cơ sở phân tích kế hoạch kinh doanh và
tình hình thị trường các cán bộ phòng kinh doanh nội và ngoại lên phương án
kinh doanh có nêu rõ tên hàng cần nhập, xuất, số lượng, đơn giá, chi phí thu
mua dự tính, lãi vay ngân hàng (nếu phải vay ngân hàng), thuế nhập khẩu,
thuế GTGT, thuế TTĐB (nếu là hàng chịu thuế TTĐB), lãi dự tính đệ trình
lên phó giám đốc phụ trách kinh doanh phê duyệt. Sau khi đã được phó giám
đốc phê duyệt, phòng kinh doanh phê duyệt. Sau khi đã được phó giám đốc
phê duyệt, phòng kinh doanh ngoại tiến hành ký kết hợp đồng ngoại với bên
cung cấp hoặc bên tiêu thụ.
+ Kinh doanh gián tiếp: uỷ thác xuất nhập khẩu. Để đa dạng hoá hoạt
động kinh doanh, công ty thực hiện dịch vụ uỷ thác xuất nhập khẩu cho
những đơn vị có nhu cầu nhưng không có điều kiện xuất nhập khẩu trực tiếp.
Quá trình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu uỷ thác công ty phải ký kết hai
hợp đồng, một hợp đồng nội với đơn vị uỷ thác và một hợp đồng ngoại với
đơn vị nước ngoài. Công ty thay mặt bên uỷ thác thực hiện giao dịch và làm
thủ tục kê khai, nộp các loại thuế của hàng xuất nhập khẩu. Khi thực hiện
xong hợp đồng ngoại thì một bộ chứng từ được chuyển giao cho đơn vị uỷ
thác. Sau đó bên nhận uỷ thác và bên giao uỷ thác phải tiến hành quyết toán
hợp đồng uỷ thác.
9
Sơ lược về tình hình kết quả hoạt động của công ty Mecanimex một
số năm gần đây.
Bảng Kết quả hoạt động kinh doanh của công Mecanimex
năm 2006, 2007, 2008.
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
1. Nguồn vốn kinh doanh BQ Ngđ 140.478.246 152.818.308 184.205.464
2. Vốn NSNN cấp bình quân Ngđ 25.127.785 37.584.388 42.628.702
3. D. thu bán hàng và cung cấp
DV
Ngđ 238.071.605 436.117.068 716.714.086
4. Doanh thu thuần Ngđ 238.039.427 435.694.293 716.714.086
5. Lợi nhuận thuần từ hoạt động
KD
Ngđ 52.006.124 737.033 -1.067.411
6. Tổng lợi nhuận trước thuế Ngđ 786.215 1.225.174 198.389
7. Tỷ suất LN VKD (trước thuế) % 37,02 0,48 -0,58
8. Tỷ suất LN VCSH (trước thuế) % 3,13 3,26 0,47
9. Thu nhập bình quân (đ/người) Ngđ 2.958 3.625 5.412
Qua bảng số liệu ở trên ta thấy doanh thu tiêu thụ của công ty liên tục
tăng lên qua các năm. Năm 2007 so với năm 2006 doanh thu tăng thêm
198.045.463ngđ với tỷ lệ tăng là 83,19%; năm 2008 so với năm 2007 doanh
thu tăng thêm là 280.597.018ngđ với tỷ lệ tăng tương ứng là 64,34%. Đây là
kết quả của sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty thời
gian vừa qua nhằm tăng lượng hàng hoá tiêu thụ và nhận thêm nhiều hợp
đồng uỷ thác để từ đó tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Doanh
thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
vụ của công ty tăng là do: thứ nhất do số lượng tiêu thụ của những mặt hàng
truyền thống của công ty tăng vì thị trường tiêu thụ được mở rộng ra nhiều
nước; thứ hai là công ty xuất hiện thêm sản phẩm mới vì thế lượng sản phẩm
mới này được tiêu thụ cũng làm tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
của công ty. Để hiểu rõ hơn ta sẽ đi sâu vào phân tích từng lý do cụ thể.
* Về sản phẩm, hàng hoá của công ty đã tăng lên rất nhiều về cả mặt số
lượng và chất lượng. Trước đây công ty chỉ xuất khẩu các chủng loại máy
10
công cụ, dụng cụ cầm tay, các loại khoá, cân và các loại sản phẩm cơ khí
phục vụ cho lĩnh vực tiêu dùng khác, các loại sản phẩm gia dụng bằng kim
loại, nhập khẩu các loại máy móc thiết bị, sắt thép, nguyên liệu nhựa, nguyên
vật liệu khác máy móc thiết bị cho các lĩnh vực công nghiệp, y tế, xây dựng,
giao thông vận tải tiêu dùng gia dụng như điều hoà không khí, máy giặt, máy
bơm nước, nồi cơm điện, các đồ gia dụng khác Cho đến khi công ty tiếp
nhận nhà máy Quy chế Từ Sơn tử tháng 3/2004 thì danh sách các mặt hàng
sản xuất kinh doanh của công ty tăng thêm rất nhiều loại như: bulông, đai ốc,
vít, vít xiết, vòng đệm phẳng, vòng đệm lò xo từ M3 ÷M80. Các loại bulông,
vít được chế tạo đạt cấp bền từ 4.6 đến 12.9. Ren được chế tạo theo hệ Mét,
hệ Anh, hệ Mỹ. Công ty đã đa dạng hoá sản phẩm, hàng hoá kinh doanh, hơn
nữa cũng đã chú trọng hơn tới chất lượng hàng hoá, đặc biệt sản phẩm của
nhà máy Từ Sơn được sản xuất theo công nghệ tiên tiến theo dây chuyền dập
nguội tự động và dập nóng khuôn kín; bảo vệ mặt bằng công nghệ nhuộm
đen, mạ kẽm điện phân, nhúng kẽm nóng đạt chất lượng cao vì vậy mà sản
phẩm của công ty có tính cạnh tranh rất cao, hấp dẫn được khách hàng, sẽ có
nhiều khách hàng cả ở trong và ngoài nước mua hàng hoá của công ty làm
cho khối lượng hàng tiêu thụ tăng lên, từ đó tăng doanh thu.
* Về thị trường tiêu thụ: Từ khi thành lập công ty đã không ngừng phấn
đấu trở thành một doanh nghiệp tin cậy đối với nhiều đối tác sản xuất, kinh
doanh trong nước và quốc tế, từ đó tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ
hàng hoá. Khi mới thành lập thì công ty chủ yếu kinh doanh theo Nghị định
thư giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ các nước XHCN về các mặt hàng
là sản phẩm của ngành cơ khí luyện kim. Những năm đầu khi công ty được tự
chủ hoàn toàn về hoạt động kinh doanh của mình thì thị trường xuất nhập
khẩu của công ty chủ yếu chỉ có LB Nga và các nước Đông Âu. Nhưng cho
đến nay nhờ sự nỗ lực không ngừng công ty đã mở rộng thị trường ra nhiều
nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Canađa, Đức, Pháp cụ
thể:
11
- Đối với hoạt động kinh doanh thương mại thị trường trong nước của
công ty là 77,4% cả nước, gồm nhiều tỉnh như Hà Nội, TP. HCM, Hải Phòng,
Tuyên Quang, Bắc Ninh, Lâm Đồng
Thị trường nước ngoài (xuất khẩu) chiếm 22,6% các quốc gia.
- Đối với hoạt động sản xuất công nghiệp thì sản phẩm của nó được
tiêu thụ ở tất cả các tỉnh thành trong nước.
Chất lượng hàng hoá thì tốt hơn; số lượng hàng hoá thì đa dạng, phong
phú thị trường tiêu thụ được mở rộng là những yếu tố giúp cho công ty trong
các năm vừa qua có thể tăng được lượng hàng hoá tiêu thụ, từ đó tăng doanh
thu của công ty. Đây là hướng đi đúng đắn của công ty nên nó cần được
khuyến khích phát triển hơn nữa trong thời gian tới. Công ty cần phải tìm hiểu
nhu cầu thị trường cũng như tự hoàn thiện bản thân, hoàn thiện sản phẩm để
từ đó đáp ứng được nhu cầu khách hàng tạo tiền đề cho việc tăng số lượng
hàng hoá tiêu thụ.
Trong năm 2007, bên cạnh việc tăng doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ, công ty còn sử dụng các khoản chi phí một cách hợp lý, hiệu quả, tạo
điều kiện tăng lợi nhuận của công ty, cụ thể năm 2007 so với năm 2006 tổng
lợi nhuận trước thuế của công ty tăng 438.959 ngđ, tỷ suất LN VCSH tăng từ
3,13 lên 3,26 chứng tỏ một đồng vốn chủ bỏ ra ở năm 2007 thu được nhiều
đồng lợi nhuận hơn so với năm 2006. Điều này thể hiện hiệu quả sử dụng vốn
của công ty tăng lên.
Đến năm 2008 thì tình hình lại trái ngược hoàn toàn, mặc dù so với
năm 2006 và 2007 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty tăng
khá nhiều nhưng lợi nhuận trước thuế của công ty lại giảm một cách đáng
kinh ngạc, đặc biệt là lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty
âm. So với năm 2007 thì năm 2008 doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
của công ty tăng lên là 280.597.918ngđ, với tỷ lệ tương ứng là 64,34%; ngược
lại với doanh thu lợi nhuận trước thuế của công ty giảm 1.026.785 ngđ tương
ứng với tỷ lệ là 83,81%. Điều này tưởng chừng như là vô lý nhưng đây là một
12
thực tế mà công ty đang lâm phải. Nguyên nhân của điều này là do trong năm
2008 công ty đi vay nợ quá nhiều để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình làm cho khoản lãi vay phải trả tăng lện và lợi nhuận giảm xuống. Năm
2007 công ty chỉ vay 10.857.624 ngđ nhưng đến năm 2008 thì con số này là
68.885.150ngđ. Tương ứng với sự tăng vọt về vốn vay này là sự tăng lên của
chi phí lãi vay từ 1.031.818 ngđ vào năm 2007 lên đến 5.313.776ngđ vào năm
2008. Với mức chi phí lãi vay quá lớn như vậy làm cho lợi nhuận của công ty
giảm xuống một cách nhanh chóng. Điều này cho thấy tình hình vốn của công
ty đang thiếu trầm trọng và cơ cấu của công ty như năm 2008 là chưa hợp lý.
Các khoản vay quá lớn cũng chứng tỏ rằng tình hình tài chính của công ty
không được tốt, khả năng thanh toán giảm, rủi ro tài chính tăng cao.
Các tỷ suất LNVKD và LNVCSH đều giảm lại càng chứng tỏ rằng việc
tổ chức quản lý và sử dụng vốn của công ty chưa đạt hiệu quả. Cụ thể năm
2007 một đồng vốn kinh doanh bỏ ra thì thu được 0.48 đồng lợi nhuận, 1
đồng vốn chủ bỏ ra thì thu được 3.26 đồng lợi nhuận. Đến năm 2008 các con
số này lần lượt chỉ là -0.58 đồng và 0.47 đồng.
Qua xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Mecanimex
một số năm vừa qua cho thấy công ty phát triển không ổn định, năm 2007
công ty làm ăn rất tốt, có hiệu quả thì đến năm 2008 tình hình lại thay đổi
hoàn toàn. Công ty lâm vào tình trạng thiếu vốn kinh doanh trầm trọng vì vậy
phải đi vay quá nhiều để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty. Việc
đi vay làm tăng các khoản nợ của công ty dẫn đến khả năng thanh toán của
công ty giảm xuống, tình hình tài chính của công ty gặp nhiều khó khăn và
đặc biệt là rủi ro tài chính tăng lên. Vấn đề đặt ra là phải xem xét lại việc tổ
chức quản lý và sử dụng vốn của công ty nhằm xác định một cơ cấu vốn hợp
lý, biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả để đảm bảo cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty được diễn ra liên tục, ổn định; nhưng đồng thời cũng
phải đảm bảo tình hình tài chính của công ty lành mạnh, đảm bảo khả năng
thanh toán cho công ty.
13
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét