Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

tính chất quốc tế và hội nhập trong việc viết danh pháp hóa học

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 51
TÍNH CHẤT QUỐC TẾ VÀ HỘI NHẬP TRONG VIỆC VIẾT DANH PHÁP
HÓA HỌC
Lê Văn Thới, Lê Ngọc Thạch
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
(Bài nhận ngày 09 tháng 10 năm 2006, hoàn chỉnh sửa chữa ngày 12 tháng 02 năm 2008)
TÓM TẮT:
Bài báo bao gồm các phần lịch sử, nhận định, danh pháp, thuật ngữ, danh
từ riêng, đơn vị đo lường và đề nghị. Hơn ba mươi năm qua từ sau 1975 đến nay, một số rất
lớn nguyên tắc danh pháp hóa học đã được đưa ra sử dụng. Hiện nay một số trong những
nguyên tắc dó cần phải thay đổi để phù hợp với yêu cầu quốc tế và hội nhập của chính phủ

chúng ta. Đồng thời, tổ chức IUPAC cũng luôn luôn kêu gọi các quốc gia trên thế giới nên có
một tiếng nói chung về danh pháp hóa học. Bên cạnh đó, sự cải tiến cách viết danh pháp hóa
học còn có một vai trò rất quan trọng khi sinh viên tìm kiếm thông tin hoặc đi du học về hóa
học.
1. LỊCH SỬ
Ngược dòng lịch sử về vấn đề viết danh pháp hóa học của hai miền Nam và Bắc Việt Nam
trước và sau năm 1975:
Ngay từ trước cách mạng tháng Tám 1945, vào năm 1942 trong Danh Từ Khoa Học, ông
Hoàng Xuân Hãn [1] đã đề nghị: nên dùng các vần ce, ci, cy, ge, gy và phụ âm cuối l vốn
không có trong tiếng Việt
Trong bài báo “Chuẩn hóa thuật ngữ Khoa học tiếng Việt” Giáo sư Lê Khả Kế [2] đã viết:
Đến năm
1960, Ủy ban Khoa học Nhà nước ra một quyết định tạm thời về nguyên tắc biên
soạn danh từ khoa học tự nhiên (Tin tức Khoa học, 1, 1960): aldehyd, glucoz, protid, … Cách
làm của miền Nam trong thời gian đó cũng làm tương tự như vậy. Đến những năm 1979-
1980, Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Trung tâm
Biên soạn sách Cải cách Giáo dục tổ chức hộ
i nghị tại Hà Nội, Huế, thành phố HCM để bàn lại
vấn đề này với phiên chuyển theo chữ viết là chính. Biện pháp này có thể gây một số khó
khăn cho người học, nhất là những người không biết sinh ngữ. Nhưng thiết tưởng nên có cách
nhìn xa …
30/11/1980: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam Giáo sư Phạm Huy
Thông và Thứ trưởng Bộ Giáo dục Võ Thuần Nho [2] đã ký “Một số qui định trong sách giáo
khoa cả
i cách giáo dục”: Cho phép bảng chữ cái tiếng Việt có thêm các con chữ: F, J, W, Z
dùng để viết tên riêng nước ngoài và thuật ngữ có gốc nước ngoài
25/12/1982: Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thị Bình [2] ký Quyết định thành lập: ”Hội
đồng xét duyệt nguyên tắc thống nhất cách phiên thuật ngữ trong sách cải tiến giáo dục”. (12
người), ”Hội đồng xét duyệt nguyên tắc chính tả trong sách cải cách giáo dục” (9 người) với
sự thỏa thuận của các ông Chủ
nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Đại
học và Trung học Chuyên nghiệp, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam. Trong đó có sự tham
dự của Giáo sư Lê Văn Thới, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ.
1/7/1983: Giáo sư Phạm Huy Thông và Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn [2] thay mặt Hội đồng
Chuẩn hóa Chính tả và Hội đồng Chuẩn hóa Thuật ngữ ký ban hành Quyết nghị mà nội dung
sau này trở thành Quyết
định của Bộ trưởng).
19/8/1983, trong bài “Một số vấn đề xung quanh việc chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ”.
Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Toàn [2] đã viết: tránh chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tính nhất
Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 52
quán trong chuẩn hóa, ngoài it cần có thêm id, phân biệ
t on
và ol nên viết acid, parabol
cho gần gũi với quốc tế, giữ nguyên dạng tên một số đơn vị đo lường: gauss, watt, coulomb,
… Đọc theo âm ở đâu? Lấy âm Thủ đô chăng? Ngay điều đó cũng gây ra biết bao nhiêu tranh
cãi
9/1983: trong bài “Việc thực hiện các qui định về chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ trong
sách giáo khoa và trong nhà trường”. Phó Giám đốc Trung tâm Biên soạn sách Cải cách Giáo
dục và nhà Xuất bản Giáo dục ông Hồ
Cơ [2] đã viết: Hằng năm, đối với bất kỳ nước nào,
đều có sự du nhập thuật ngữ. Làm thế nào cho người nước ngoài nhận biết dễ dàng thuật ngữ
của ta và người nước ta nhận biết ngay thuật ngữ khi đọc sách hoặc khi giao tiếp với bên
ngoài Viết centimet hơn là xăngtimét, viết gram hơn là gam, viết acid hơn là axít, viết sulfur
hơn là sunfua, Nên mở rộng tiếng Việt có nguyên tắc, vì tiền đồ đất nước là hợp với qui
luật, đáp ứng được yêu cầu bức thiết của dân tộc.
24/5/1983,

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng trong lần gặp bộ phận thường
trực của hai hội đồng đã căn dặn: làm từng bước, đừng để dồn, nhưng không nên để lâu!
5/3/1984:

Bộ trưởng Bộ Gáo dục Nguyễn Thị Bình [2] ra Quyết định về: “Qui định về
chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt” Trong qui định có ghi: Tôn trọng tên riêng
bằng chữ cái latin, Qui định về thuật ngữ: cho phép dùng: thêm phụ âm: f, j, w, z, tổ hợp
phụ âm cuối: acid, sulfur, laser, parabol, fluor, … không chấp nhận đổi: ce thành xe, ur thành
ua, …
Trong bài “Về hai vấn đề chính hiện nay trong việc qui định chính tả”. Giáo s
ư Tiến sĩ
Phạm Huy Thông [2] có viết: Không phiên âm nửa vời tên riêng nước ngoài, không viết lai
căng thuật ngữ khoa học như: Uy-liêm Sếch-xpia, axít sunfuric mà nên viết: William
Shakespeare, acid sulfuric. Có những chủ trương phiên âm để tránh lai căng, mà thực tế lại
chính do phiên âm làm cho lai căng tiếng Việt Chủ trương viết thuật ngữ khoa học và kỹ
thuật theo một dạng gần gũi nhất những dạng quốc tế. D
ạng viết Latin hay Latin hóa, đó là
cái cốt lõi nhất để giao lưu quốc tế một cách chính xác nhất Có kế hoạch chuẩn bị từng
bước từ trường phổ thông lên đại học có chua phiên âm đến thôi chua. Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng Phạm Văn Đồng tán thành chủ trương và biện pháp này.
Trong bài “Về tên riêng”, Giáo sư Hoàng Tuệ [2] đã viết: Phát âm nhầm đưa đến phiên âm
nhầm.
Trong bài “Về
sự Hình thành và Phát triển Thuật ngữ tiếng Việt”, Phó Viện trưởng Viện
Ngôn ngữ học Hoàng Văn Hành [2] có viết: Cách viết: polimer, acid, vitamin, sulfat, carbur,
hidrur càng ngày càng trở nên thông thường dễ hiểu Có khuynh hướng tiếp nhận thẳng các
thuật ngữ có nguồn gốc Âu châu trong thới gian gần đây trong các ngành khoa học tự nhiên:
hóa học, dược học, …
Trong bài “Người giáo viên trước các vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt”. Giáo sư Hoàng Tuệ
[2]. Viện trưở
ng Viện Ngôn ngữ học có viết:.… Đã từng có băn khoăn: nói đến “sự trong
sáng” của ngôn ngữ thì phải chăng sử dụng một khái niệm cũ, phi biện chứng, và đặc biệt tỏ ra
dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi.… Không phủ nhận được một thực tế là sự phát triển không ngừng
của tiếng Việt, cũng như của bất kỳ ngôn ngữ nào.
Trong bài “Vấn đề chuẩn chính tả”, Giáo sư Hoàng Phê [2] (Viện Ngôn ngữ học) đã
viết:.… Chúng ta cũng đã có được một thực tế: trước ngày miền Nam giải phóng, phổ biến
trên sách báo miền Nam là viết nguyên dạng tên riêng nước ngoài và không thấy có ai phản
ứng gì trước việc đó. … Cho nên đừng đánh giá quá thấp cái khả năng tiếp nhận của quần
chúng, của học sinh, và cũng nên nhận thức cái khả năng
ấy một cách biện chứng….
Trong miền Nam, từ năm 1967, Bộ Giáo dục có ra một nghị định thành lập Ủy ban Quốc
gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn mà chủ tịch là Giáo sư Lê Văn Thới. Trong ủy ban này có
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 53
12 ban Chuyên môn: ban Luật khoa, ban Văn khoa, ban Khoa học, ban Y khoa, ban Dược
khoa, ban Nha khoa, ban Sư phạm, ban Kỹ thuật, ban Mỹ thuật, ban Kiến trúc, ban Nông Lâm
Súc, ban Nguyên tử năng [3].
Ngay từ năm 1962
,
tại Sài gòn đã xuất bản một số sách mang tên Danh từ Chuyên môn
chủ yếu thuộc ban Khoa học như: Danh từ Vật lý (1962) [4], Danh Từ Hoá học (1963) [5],
Danh từ Toán học (1964) [6], Danh từ Thực vật (1964) [7], Danh từ Động vật (1965) [8].
Ngoài ra các chuyên ngành khác cũng có phát hành một số sách như: Danh từ Mỹ thuật (1973)
[9], Ngữ vựng Nguyên tử năng (1969) [10], Danh từ Dược học (1970) [11], Danh từ Nguyên
tử
năng (1970) [12].
Cùng thời gian đó, Trung tâm Học liệu thuộc Bộ Giáo dục có ấn hành Nội san Danh từ
Chuyên môn, tặng rộng rãi để lấy ý kiến quần chúng góp ý cho Ủy ban Quốc gia Soạn thảo
Danh từ Chuyên môn, từ số 1 (1970) đến số 6 (1972) [13].
Điểm quan trọng cần phải nói là tất cả sách báo có liên quan đến hóa học ở miền Nam
trước năm 1975 đều thống nhất sử dụ
ng thuật ngữ và danh pháp hoá học của Ủy ban [13].
2. NHẬN ĐỊNH
2.1. Quốc ngữ cũng dùng mẫu tự Latin như tiếng Anh, tiếng Pháp nên vấn đề viết
danh pháp hóa học ở nước ta rất dễ quốc tế hóa.
2.2. Liên hiệp Quốc tế Hóa học Thuần túy và Ứng dụng [4,15] (International Union of
Pure and Applied Chemistry, IUPAC)
có đề nghị là tên hóa chất nên giống nhau trong các
thứ tiếng .
2.3. Cách viết nên dẫn xuất từ tiếng Anh và tiếng Pháp vì:
- Đối với tiếng Anh: hiện nay không thể nào phủ nhận được vai trò của tiếng Anh trong
mọi giao dịch mang tính quốc tế về kinh tế, xã hội cũng như về khoa học. Rõ ràng hầu hết
những Tạp chí, bài báo khoa học trong lĩnh vực hóa học có giá trị quốc tế đều viết bằng tiếng
Anh, ngay những hội nghị quốc tế tổ chức tại Việt Nam cũng sử dụng tiế
ng Anh. Chính phủ ta
hiện nay đã đặt chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2020 là mọi giao dịch hành chính sự nghiệp đều có
thể sử dụng bằng tiếng Anh.
Trong giáo dục phổ cập cấp một, mới bốn năm tuổi đã phải đi học luyện thi để có thể trúng
tuyển vào các kỳ thi tuyển vào các lớp một tăng cường tiếng Anh. Số người có điểm TOEFL
trên 550 càng ngày càng tă
ng và càng ngày càng trẻ hóa. Một điều thực tế cần phải thấy rõ là
trình độ sinh ngữ (chủ yếu tiếng Anh) của dân ta càng ngày càng tăng lên theo cấp số nhân,
một là theo áp lực kinh tế – xã hội, hai là có sự tác động tích cực của chính phủ để gia tăng tốc
độ hội nhập và phát triển.
- Đối với tiếng Pháp: không thể phủ nhận vai trò chủ đạo của tiếng Pháp trong lịch sử khoa
học (tự nhiên và xã h
ội) tại nước ta. Hầu hết những nhà khoa học đầu ngành trong buổi bình
minh của nền học vấn quốc ngữ trong nước đã chịu ảnh hưởng rất lớn của tiếng Pháp sau một
thời gian dài là thuộc địa. Danh pháp hóa học của chúng ta cho đến hiện nay còn phản ánh
tiếng Pháp rất nhiều. Một số danh pháp gần như thành nếp không thể thay đổi dễ dàng! Thí dụ
như: alcan, alcen, alcin, ceton, clorur, …
May mắn thay, với m
ột số lượng nhất định danh pháp và thuật ngữ hóa học tiếng Anh và
tiếng Pháp có nhiều điểm rất giống nhau.
2.4. Tính chất quốc tế hội nhập
gần như là là yêu cầu bức thiết của thời đại ngày nay để
mọi người trong ngôi nhà chung có thể dễ dàng hiểu nhau. Học sinh, sinh viên trong nước khi
đọc sách nước ngoài hoặc đi du học mau chóng nắm bắt được thuật ngữ và danh pháp hóa học.
Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 54
2.5. Khi thực hiện cũng nên lưu ý đến tính chất nhất quán
, có nghĩa là làm sao càng ít
ngoại lệ để khi phát triển áp dụng sẽ gặp nhiều thuận lợi và người sử dụng cũng tránh được
“học thuộc lòng” nhiều nguyên tắc. Có thể nên xem đây là một nguyên tắc cao nhất trong việc
soạn thảo danh pháp và thuật ngữ.
3. DANH PHÁP
3.1. Không nên tiếp tục sử dụng phụ âm, nguyên âm và vần tiếng Việt trong việc viết
danh pháp.
Thí dụ:
đ đecan, anđêhít
ơ ơgenol, bazơ, sunfurơ, nitơ, glucozơ
í axít
ua clorua, sunfua, hiđrua, iođua
iê magiê
un sunphua
ac cacbon
om clorofom
it axit, gluxit
ot photphoric

3.2. Nên thêm bốn phụ âm mới.
Thí dụ:
f formaldehid, sulfuric, sulfon
j joule, jasmon
w wolfram (tungsten)
z baz, azulen

3.3. Nên sử dụng thêm một số vần mới:
- trong vần xuôi. Thí dụ:

ce ceton
ci ciclo
pa palmitic
pe pentan
pi lipid
po polimer
pu purin
ge geraniol

và vần xuôi cho bốn phụ âm vừa kể trên.
- trong vần ngược. Thí dụ:

ad cadnium (Cd)
af hafnium (Hf)
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 55
al alcol, aldehid, metanal, maltoz
ap mercaptan
ar carbon, arsen, tartric
az liaz, lipaz
es ester
er ergosterol, polimer, eter
id glucid, terpenoid
is histamin
il octil, aril
ol alcol, mentol
or formol, hormon
os osmium, phosphoric
ul sulfamid, sulfonic
ur bromur, halogenur, furfural, hidrur, iodur

- trong nguyên âm kép. Thí dụ:

au lauric
eu neutron, eugenol, deuterium (D)
uo fluor

- trong phụ âm kép. Thí dụ:

br brom
cl clor
cr crom
dr anhidrid
fr fructoz
gn magnesium (Mg)
kr kripton (Kr)
rm cloroform
st sterol, stiren
pr isopren
lt cobalt
Chú ý [16,17,18,19:
* Một số vần ngược là tiếp vĩ ngữ bắt buộc trong danh pháp IUPAC. Thí dụ: al (để chỉ
hợp chất thuộc về nhóm định chức aldehid như: metanal, furfural, ).
* Nếu chỉ dùng một vần ngược là an rất dễ đưa đến nhầm lẫn như aldehid (a
n
đêhít)
với anhidrid (anhiđrit). Mặt khác an cũng là tiếp vĩ ngữ bắt buộc của nhóm hợp chất
hidrocarbon bão hòa (alkan, metan, etan).
* Nên đưa vần ngược il (tiếp vĩ ngữ bắt buộc của các nhóm thế, nhóm định chức
IUPAC như: alkil, alkenil, alkinil, acil, nitril ) vào danh pháp tiếng Việt để tránh nhầm lẫn
với những trường hợp sử dụng phải sử dụng in (alkin, heliantin, pectin, morphin, ).
* Nếu chỉ dùng có một vầ
n ngược là it

thường rất dễ đưa đến nhầm lẫn với tiếp vĩ ngữ
id trong acid (axit), epoxid, oxid và trong sulfit (sunfit), nitrit.
Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 56
* Phụ âm r

khi đặt phía sau một nguyên âm mặc dù không phát âm trong cách đọc
theo tiếng Việt, nhưng trong cách viết cũng nên dùng để quốc tế hóa như: eter (ete), cloroform
(clorofom), clor (clo), fluor (fluo), và để tránh nhầm lẫn khi viết tên các nhóm thế halogeno
(IUPAC) như: fluoro, cloro, bromo, iodo.
* Nên sử dụng vần ngược ar (thay vì ac) cũng vì lý do quốc tế như đã nói trên, nhưng
khi đọc thì tùy theo các phát âm của từng miền (thí dụ như chữ trời có nơi phát âm là giời, có
nơi phát âm là chời, chèn, ). Do đó, không nên lấy cách phát âm của một miền là tiêu chu
ẩn
cho cách viết sử dụng chung trong toàn quốc.
3.4. Nên sử dụng phụ âm c nhưng vẫn cứ đọc là x (ngay tiếng Anh cũng tuân theo qui tắc
quốc tế này) không nên tất cả đổi sang x chỉ vì cách đọc. Làm như vậy, mặt khác để tránh
trùng lắp với những danh pháp bắt buộc phải sử dụng chữ x như hexan, xenon (Xe), dextrin,
Thí dụ:
Nên Không nên
acid axít
ciclo xiclo
ceton xeton
celuloz xenlulozơ

3.5. Một số cách viết tên hoá chất có thể đơn giản hóa một cách đặc trưng “Việt
Nam” như:
* bỏ các phụ âm và nguyên âm "câm" như: e, h,
* bỏ dấu sắc (accent aigu) và dấu huyền (accent grave) trong tiếng Pháp.
* hai phụ âm giống nhau đặt kế nhau (thí dụ: ll, cc, mm, tt, …) chỉ giữ lại một.
* tiếp vĩ ngữ ose, ase viết gọn lại thành oz, az.
* y viết thành i.
Thí dụ:

Anh hoặc Pháp Việt
methane, cholesterol, naphthol, thalium, ortho,
thiol, naphthalene, phtalic
metan, colesterol, naptol, talium,
orto, tiol, naptalen, ptalic
citronellal, cellulose, palladium (Pd), allène citronelal, celuloz, paladium, alen
saccharose, succinic sacaroz, sucinic
cinnamic cinamic
maltose maltoz
reductase, amylase reductaz, amilaz
methyl, thymol, xylen metil, timol, xilen
mole, acide mol, acid

Một cách tổng quát, chúng ta nên viết danh pháp hóa học chủ yếu dựa theo tiếng Anh, một
số vẫn dựa theo tiếng Pháp (vì thói quen, sẽ dần dần chuyển đổi cho bớt ngoại lệ) có kèm một
số chuyển đổi nhất định.
Lẽ dĩ nhiên phải có một số ngoại lệ (rất ít) như:
- y trong yttrium giữ nguyên vì nguyên tố này có ký hiệu là Y
- hay y trong dysprosium vì có ký hiệu nguyên tố là Dy
- h trong thorium, rhodium giữ nguyên vì có ký hiệu nguyên tố là Th, Rh
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 57
- và h trong các chữ mà trong đó h được phát âm: chavicol, phenol, chitin, arachidic,
holmium (Ho), hafnium (Hf), vẫn để nguyên.
3.6. Nếu được, nên thống nhất hoặc theo Anh hoặc theo Pháp
, trong cách viết chữ nào
trước chữ nào sau trong trường hợp tên hóa chất bao gồm hai chữ. Thí dụ:
Theo Pháp Theo Anh
acetat etil etil acetat
sulfat calcium calcium sulfat
bromur etilmagnesium etilmagnesium bromur
oxid etilen etilen oxid
eter dietil dietil eter
acid acetic acetic acid
anhidrid ptalic ptalic anhidrid
amidur natrium natrium amidur
clorur acetil acetil clorur

Có thể theo thứ tự của tiếng Pháp chăng? Vì trật tự các chữ giữa hai ngôn ngữ Pháp-Việt
có nhiều điểm giống nhau (tĩnh từ đặt sau danh từ, thí dụ viết là chó đen chứ không viết là đen
chó; hay acid gì? - acid acetic chẳng hạn).
3.7. Một số danh pháp đã sử dụng trong miền Nam trước năm 1975
[5], trong thời
gian gần đây cũng được hiệu chỉnh lại cho sát với yêu cầu của IUPAC hơn (vì alkil là nhóm
thế dẫn xuất từ alkan hợp lý hơn là từ alcan) như:
Trước 1975 Hiện nay
alcan alkan
alcen alken
alcin alkin
alcaloid alkaloid
alcoxid alkoxid
3.8. Tên nguyên tố (Phụ lục đính kèm):
3.8.1. Những nguyên tố thông thường có tên tiếng Việt như: sắt (Fe), đồng (Cu), chì (Pb),
thiếc (Sn), lưu huỳnh (S), thủy ngân (Hg), vàng (Au), bạc (Ag), kẽm (Zn), nhôm (Al), … nên
tiếp tục sử dụng.
3.8.2. Viết giống như tiếng Anh, tiếng Pháp:
8.8.2.1. Những nguyên tố có tên tiếng Anh và tiếng Pháp giống nhau, tên tiếng Việt cũng
nên chọn giống nhau luôn như:

Anh Pháp Việt
Calcium Calcium Calcium
Titanium Titanium Titanium
Cobalt Cobalt Cobalt
Nickel Nickel Nickel
Argon Argon Argon
Xenon Xenon Xenon
Bismuth Bismuth Bismuth
Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 58
Uranium Uranium Uranium
Arsenic Arsenic Arsenic

3.8.2.2. Chọn viết giống như tên tiếng Anh hoặc tên tiếng Pháp, tùy vào cách viết tên của
tiếng nước nào đơn giản hơn. Thí dụ:

Anh Pháp Việt Ghi chú
Helium Hélium Helium theo tiếng Anh
Carbon Carbone Carbon theo tiếng Anh
Nitrogen Nitrogène Nitrogen theo tiếng Anh
Fluorine Fluor Fluor theo tiếng Pháp
Neon Néon Neon theo tiếng Anh
Magnesium Magnésium Magnesium theo tiếng Anh
Silicon Silicium Silicium theo tiếng Pháp

3.8.3. Phiên chuyển (Việt hóa, theo những nguyên tắc nhất quán, mục 3.5.). Trừ những
nguyên tố có tên dẫn xuất từ danh từ riêng (nhân vật, địa phương, …).
3.8.3.1. Dựa trên tên tiếng Anh hoặc tiếng Pháp (nên chọn tên nào đơn giản)

Anh Pháp Việt Ghi chú
Boron Bore Bor theo Pháp bỏ e
Phosphorus Phosphore Phosphor theo Pháp bỏ e
Chlorine Chlore Clor theo Pháp bỏ h, bỏ e
Chromium Chrome Crom theo Pháp bỏ h, bỏ e
Manganese Manganèse Mangan bỏ ese
Bromine Brome Brom theo Pháp bỏ e
Molybdenum Molybdène Molibden theo Pháp bỏ e, thay y
Antimony Antimoine Antimon theo Anh bỏ y
Iodine Iode Iod theo Pháp bỏ e
Lanthanum Lanthane Lantan theo Pháp bỏ h, bỏ e
Praseodymium Praséodyme Praseodimium theo Anh thay y bằng i
Neodymium Néodyme Neodimium theo Anh thay y bằng i
Tantalum Tantale Tantal theo Pháp bỏ e
Astatine Astate Astat theo Pháp bỏ e

3.8.3.2. Hoặc bỏ bớt dấu (trong tiếng Pháp), hoặc bỏ bớt phụ âm, … :

Anh Pháp Việt
Hydrogen Hydrogène Hidrogen
Lithium Lithium Litium
Beryllium Béryllium Berilium
Oxygen Oxygène Oxigen
Gallium Gallium Galium
Krypton Krypton Kripton
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 59
Yttrium Yttrium Ytrium
Technetium Technétium Tecnetium
Ruthenium Ruthenium Rutenium
Palladium Palladium Paladium
Tellurium Tellurium Telurium
Thulium Thulium Tulium
Ytterbium Ytterbium Yterbium
Rhenium Rhenium Renium
Thallium Thallium Talium

Chú ý:
* tiếp vĩ ngữ
-ium
rất quan trọng vì còn được dùng để viết tên một số cation hữu cơ. Đó
cũng là qui định của IUPAC. Thí dụ:

carbonium
diazonium
halonium (cloronium, bromonium)
acilium
nitronium
nitrosonium
oxonium, hidroxonium
sulfonium
phosphonium
imidazolium
piridinium

* curium nếu viết tắt là curi sẽ nhầm lẫn với đơn vị đo độ phóng xạ (curie).
* báo chí đã sử dụng từ rất nhiều năm nay các từ: uranium, plutonium, calcium, mangan,
nickel, cobalt, tungsten, ….
* Nên giảm ngoại lệ đến mức tối đa, như vậy nguyên tắc sẽ trở nên rất ít, dễ nhớ, dễ sử
dụng.
4. THUẬT NGỮ
Việc viết thuật ngữ chủ yếu là do ở nguyên tắc dịch thuật. Trừ một số từ chưa dịch được
sang tiếng Việt thì tiếp tục sử dụng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.
4.1. Nhất quán trong khi phiên dịch tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ
.
Thí dụ:

Anh Pháp Việt
-mer -mère -phân
monomer monomère đơn phân
dimer dimère nhị phân
polymer polymère đa phân
isomer isomère đồng phân
enantiomer énantiomère đối phân
Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 60
diastereomer diastéréomère xuyên lập thể phân
a- a- phi-
asymmetry asymétrie phi đối xứng
aprotic aprotique phi proton
achiral achiralité phi thủ tính
acyclic acyclique phi hoàn
-olysis -olyse -giải
hydrolysis hydrolyse thủy giải
pyrolysis pyrolyse hỏa giải
alcoholysis alcoolyse alcol giải
analysis analyse phân giải
electrolysis électrolyse điện giải
thermolysis thermolyse nhiệt giải
solvolysis solvolyse dung môi giải
-ation -ation -hóa
oxidation oxydation oxid hóa
oxigenation oxygènation oxigen hóa
hydrogenation hydrogènation hidrogen hóa
-meter -mètre -kế
thermometer thermomètre nhiệt kế
chronometer chronomètre thời kế
polarimeter polarimètre phân cực kế
4.2. Thuật ngữ tiếng Việt khi đã dịch chính xác rồi không nên tiếp tục dùng tiếng
nước ngoài thông qua phiên âm
.
Thí dụ:

Không nên Nên
electrophin thân điện tử
obitan vân đạo
nucleophin thân hạch
equatorial xích đạo
axial trục
electron điện tử

4.3. Nên dựa theo nghĩa của từ gốc Anh-Pháp khi phiên dịch.

Thí dụ:

Anh Pháp Việt
oxidation oxydation oxid hóa (tăng số oxid hóa)
oxygenation oxygènation oxigen hóa (sự tăng thêm oxigen)
hydration hydratation thủy hóa (cộng nước)
reduction réduction hoàn nguyên (hồi trở lại)
elimination élimination khử (loại ra)

TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 61
4.4. Tiếng gốc Nho (chữ Nho, danh từ Hán Việt)
góp phần làm phong phú tiếng Việt,
giúp cho thuật ngữ khoa học trở nên ngắn gọn mà vẫn có đầy đủ ý nghĩa và quan trọng hơn hết
là tránh hiểu theo nghĩa bình dân.
Thí dụ:
Anh, Pháp Hán Việt Ý nghĩa
thermometer; thermomètre nhiệt kế dụng cụ đo nhiệt độ
bridged ring; cycle ponté kiều hoàn hợp chất vòng có cầu
aromatic compound;
composé aromatique
hợp chất hương
phương
hợp chất vòng bất bão hòa bền
không phải là hợp chất có mùi
(thơm-thúi) theo nghĩa thông
thường
disubstituted 1,2-ethylene;
ethylène 1,2 -disubstitué
etilen 1,2-nhị hoán etilen ở ví trí 1,2 có mang hai nhóm
thế
rearrangement; transposition chuyển vị thay đổi vị trí (nhóm thế)
metathesis ; réaction de
double décomposition
sự hoán vị, phản ứng
hoán vị
phản ứng tráo đổi vị trí (nối)
orbital; orbitale vân đạo vùng di chuyển của điện tử, như
đám mây
saturated; saturé
unsaturated; non-saturé
bão hòa, bất bão hòa không nên dịch là no, chưa no.

4.5. Không nên sử dụng chữ Hán Việt không chuẩn
Thí dụ: dị hoàn (thay vì dị vòng).
bất bão hòa (thay vì không bão hòa, chưa no).
4.6. Không nên viết giản lược tùy tiện.
Thí dụ: hợp chất hữu cơ kim loại thay vì hợp chất cơ kim.
hoá học hữu cơ thay vì hoá hữu cơ.
khoa Hóa học thay vì khoa Hóa.
4.7. Trước mắt nên để sử dụng song song một số thuật ngữ do thói quen về ngôn ngữ
của hai miền Nam Bắc, trong một thời gian nhất định.

Thí dụ:
Miền Bắc Miền Nam
bát sứ chén sứ
ái nhân thân hạch
ái điện tử thân điện tử
phễu chiết bình lóng
cốc thủy tinh becher
phễu sứ phễu Büchner (tên riêng)
bình tam giác Erlenmeyer (tên riêng)
xà phòng xà bông
cao phân tử polimer (đa phân)
lai hóa tạp chủng
cấu dạng cấu trạng
Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 62
liên kết nối
khử hóa hoàn nguyên
tách khử
bậc một nhất cấp
ngưng tụ súc hợp
mạch dây
5. DANH TỪ RIÊNG
5.1.

Danh từ riêng nào đã phiên chuyển thành tiếng Việt quen dùng rồi thì tiếp tục
dùng nhưng nên mở ngoặc đơn ghi lại danh từ riêng đó viết theo tiếng Anh.

Thí dụ: Luân Đôn (London), Anh (England), Pháp (France).
5.2.

Bất cứ danh từ riêng nào trên thế giới đã phiên chuyển ra tiếng Anh thì chúng ta
viết theo như vậy [17,19]. Trong buổi giao thời có thể chua thêm sau tiếng Anh là cách
đọc theo địa phương.

Thí dụ:

Không nên Nên
Đantơn Dalton
Ranây Raney
Lavoadiê Lavoisier
Henri Henry
Het Hess
Laplaxơ Laplace
Raun Raoult
Prut Proust
Luyxắc Lussac
Saclơ Charles
Avôgađrô Avogadro
Bôi Boyle
Mariôt Mariotte
Lômônôxốp Lomonosov
Felinh Fehling
Oetton Weston
Sơrôđingơ Schrưdinger
Nectơ Nernst
Ensten Einstein
Bragơ Bragg
Habơ Haber
Xenxiut Celcius
Kenvin Kelvin
Bectolit Berthollet
Claizen Claisen
Menđêlêép Mendeleev
Van đe Van van der Waals
Van Hop van’t Hoff
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 11, SỐ 01 - 2008
Trang 63
6. ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
Tính chất quốc tế và hội nhập của vấn đề này rất quan trọng nhất là trong vấn đề xuất nhập
khẩu, giao lưu quốc tế, du lịch, Nên viết theo qui tắc quốc tế (SI) [20,21], tuyệt đối không
nên viết theo cách phát âm tiếng Việt. Thí dụ:

Ký hiệu Chữ viết Không nên viết
W watt oát
V volt vôn
C coulomb culông
A ampere ampe
N newton niutơn
Ω

ohm ôm
Hz hertz héc
J joule jun
m metre mét
kg kilogram kilôgam
Pa pascal pátcan
cal calor calo
atm atmosphere átmotphe
7. Ý KIẾN
7.1.
Không nên quá lo là người dân bình thường không sử dụng được vì hiện nay trình độ
sinh ngữ của dân chúng trong nước mỗi ngày một tăng.
7.2.
Trong trường hợp danh từ riêng, nếu một số chữ e rằng gặp khó khăn trong khi phát
âm thì sau tiếng nước ngoài đó chúng ta có thể mở ngoặc chua thêm cách phát âm tiếng Việt
trong một thời gian chuyển tiếp.
7.3.
Nên bắt đầu áp dụng nhất quán từ các Tạp chí hóa học, sách giáo khoa hóa học (bắt
đầu từ đại học đến trung học và sau cùng là tiểu học) sau đó đến các phương tiện thông tin đại
chúng như: báo chí, truyền hình, truyền thanh,
7.4.
Vì tương lai của nền học thuật về hóa học trong nước, những sự ngại khó bước đầu do
thói quen lâu ngày đã sử dụng những danh pháp - thuật ngữ chưa thống nhất trước đây phải
được can đảm hy sinh.
7.5.
Để tránh việc lo ngại, không cần thiết, vì sợ bị nói là đưa những cách viết mới vào
tiếng Việt, nên có thể xem đây chỉ là cách viết giới hạn trong việc trình bày tên hóa chất, thuật
ngữ hóa học.


Science & Technology Development, Vol 11, No.01 - 2008

Trang 64
INTERNATIONAL AND INTERGATED PROPERTIES IN THE CHEMICAL
NOMENCLATURE WRITING
Le Van Thoi, Le Ngoc Thach
University of Natural Sciences, VNU-HCM
ABSTRACTS:
The history, the consideration, the nomenclature, the terminology, the
proper name, the unit of measurement and the proposal were presented in this paper. Over
thirty years after 1975, in the field of chemistry, we have used a lot of Vietnamese chemical
nomenclature principals. Nowadays, some of these principals should be changed to
correspond with the international and intergated requirements of our government.
Simultaneously, the IUPAC organization have always recommended that the chemical
nomenclature must be as same as in all of countries. Besides, the improvement of Vietnamese
nomenclature plays an important role for students to study abroad and search information on
chemistry field.
Keywords
: chemical nomenclature, terminological principl.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].

Hoàng Xuân Hãn, Danh Từ Khoa Học, Khoa học Tùng thư, Sài Gòn, (1948).
[2].

Trung Tâm Biên Soạn Sách Cải Cách Giáo Dục và Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam,
Chuẩn Hóa Chính Tả và Thuật Ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, (1984).
[3].

Lê Văn Thới, Nguyễn Văn Dương, Nguyên Tắc Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Khoa.
Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, (1970).
[4].

Tiểu Ban Vật Lý, Danh Từ Vật Lý, Tủ sách Khoa học Lê Văn Thới, Khoa học Đại
học đường Sài Gòn, (1962).
[5].

Tiểu Ban Hoá Học, Danh Từ Hóa Học, Tủ sách Khoa học Lê Văn Thới, Khoa học
Đại học đường Sài Gòn, (1963).
[6].

Tiểu Ban Toán Học, Danh Từ Toán Học, Tủ sách Khoa học Lê Văn Thới, Khoa học
Đại học đường Sài Gòn, (1964).
[7].

Tiểu Ban Thực Vật, Danh Từ Thực Vật, Tủ sách Khoa học Lê Văn Thới, Khoa học
Đại học đường Sài Gòn, (1964).
[8].

Tiểu Ban Động Vật, Danh Từ Động Vật, Tủ sách Khoa học Lê Văn Thới, Khoa học
Đại học đường Sài Gòn, (1965).
[9].

Tiểu Ban Mỹ Thuật, Danh Từ Mỹ Thuật, Tủ sách Danh từ Chuyên môn Lê Văn Thới,
Bộ Văn hoá Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn, (1973).
[10].

Tiểu Ban Nguyên Tử Năng, Ngữ Vựng Nguyên Tử Năng, Bộ Giáo dục và Thanh
niên. Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, (1969).
[11].

Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Vĩnh Niên, Đạng Vũ Biền, Danh Từ Dược Học, Tủ
sách Khoa học Lê Văn Thới, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, (1970).
[12].

Ban Soạn Thảo Danh Từ Nguyên Tử Năng, Danh Từ Nguyên Tử Năng, Tủ sách
Khoa học Hạch tâm Lê Văn Thới, Nguyên tử lực cuộc, Sài Gòn, (1970).
[13].

Ủy Ban Soạn Thảo Danh Từ Chuyên Môn. Nội San Danh Từ Chuyên Môn 1, 2, 3, 4,
5, 6, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, (1970-1972).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét