Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Nghiên cứu tự đánh giá của học sinh trường trung học phổ thông tô hiệu, huyện thường tín, hà nội

5
khi nhân cách đã hình thành và phát triển. Do đó cá nhân chỉ có thể hiểu về chính họ khi
đặt trong mối quan hệ với người khác, khi có tự đánh giá về mình và được mọi người
chấp nhận.
1.2.1.4. Mối quan hệ giữa tự đánh giá với tự ý thức
Tự ý thức được hiểu là việc con người tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan, nhận
thức quan hệ của mình với thế giới, nhận thức bản thân mình với tính cách một cá nhân,
nhận thức các cử chỉ, hành động, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng, lợi ích của mình. Tự ý
thức biểu hiện ở các mặt sau: chủ thể nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội
dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội, trên cơ sở đó tự nhận xét, TĐG. Có thái
độ rõ ràng đối với bản thân, tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác. Chủ
thể có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình.
1.2.2. Khái niệm học sinh THPT
1.2.2.1. Khái niệm
“Học sinh Trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm tuổi đầu tuổi thanh niên
có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi (hay còn gọi là thanh niên học sinh). Xét theo
bậc học theo quy định của nước ta, các em đang theo học tại các trường THPT. Hiện nay,
các nghiên cứu về thanh niên học sinh được sử dụng nhiều trong giáo dục và trong định
hướng nghề nhằm giáo dục và hoàn thiện nhân cách cho học sinh, trang bị kiến thức và
tâm lý cho các em bước vào giai đoạn phát triển tiếp theo.
1.2.2.2. Sự phát triển tự ý thức
Với học sinh THPT, có hai loại tự ý thức nổi bật:
- Tự ý thức về hình ảnh bản thân: đó là niềm tự hào và cũng có thể là nỗi khổ tâm
về diện mạo bên ngoài của cơ thể mình.
- Tự ý thức về những phẩm chất nhân cách của mình: các em có thể ý thức được mặt
mạnh, mặt yếu của mình, luôn luôn khao khát tự hoàn thiện mình.
Từ chỗ nhìn nhận về những phẩm chất mang tính khái quát của người khác, dần
dần các em tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân. Có khả năng tạo được một hình
ảnh “cái tôi" khá trọn vẹn để từ đó xây dựng các mối quan hệ với mọi người trong xã hội.
1.2.2.3. Sự hình thành thế giới quan
Sự hình thành thế giới quan của thanh niên học sinh được thể hiện ở các mặt sau:
(1) Tính tích cực nhận thức: các em cố gắng xây dựng quan điểm riêng của mình trong
các lĩnh vực khoa học, các vấn đề xã hội, tư tưởng, chính trị… (2) Nội dung của thế giới
6
quan: học sinh quan tâm nhiều đến các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con
người trong lịch sử, quan hệ của con người và xã hội, vấn đề ý nghĩa của cuộc sống
1.2.3. Khái niệm tự đánh giá của học sinh THPT
TĐG là thuộc tính tâm lý điển hình của lứa tuổi học sinh THPT; điều này khẳng
định rằng nhu cầu tự phân tích là một dấu hiệu cần thiết của một nhân cách phát triển, là
tiền đề của sự tự giáo dục có mục đích.
Dựa trên khái niệm TĐG và các đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT, theo
chúng tôi khái niệm TĐG của học sinh THPT được hiểu là đánh giá tổng thể của học sinh
với tư cách là một thành viên của xã hội về các giá trị của bản thân, thể hiện qua tự
đánh giá về thể chất, về học tập, về giao tiếp và tự định hướng tương lai.
1.2.4. Các mặt biểu hiện của tự đánh giá của học sinh THPT
1.2.4.1. Tự đánh giá về thể chất
Nói chung TĐG về các đặc điểm ngoại hình cơ thể là một thành tố quan trọng
trong ý thức của học sinh THPT, một trong những đặc trưng tâm lý điển hình của lứa tuổi
này. Khi học sinh mặc cảm, không hài lòng với ngoại hình của mình có ảnh hưởng tiêu
cực khi tham gia vào các hoạt động. Học sinh cảm thấy thiếu tự tin, rụt rè e ngại Do
đó, cảm nhận tích cực về ngoại hình hoặc có sự hài lòng nhất định về thể chất giúp học
sinh cởi mở, tự tin để thiết lập các mối quan hệ xã hội.
1.2.4.2. Tự đánh giá về giao tiếp xã hội
Giao tiếp xã hội của học sinh xoay quanh 3 mối quan hệ chính, ảnh hưởng trực
tiếp đến TĐG của các em là: giao tiếp trong gia đình (cha mẹ và những người thân), giao
tiếp với bạn bè cùng tuổi, và giao tiếp với thầy cô. Thông qua giao tiếp xã hội, học sinh
học hỏi được những kiến thức từ các mối quan hệ xã hội, đồng thời đó cũng là cơ hội để
các em thể hiện năng lực của bản thân, là tấm gương phản chiếu giúp học sinh nhìn nhận
ra chính mình, hình thành nên TĐG phù hợp.
1.2.4.3. Tự đánh giá về học tập
Hoạt động học tập cùng với định hướng nghề nghiệp là hoạt động chủ đạo của học
sinh THPT nên thành tích học tập được coi như một tiêu chuẩn để đánh giá bản thân và
các bạn trong lớp. Sự khác nhau về khả năng nhận thức, năng lực học tập và sự lĩnh hội
kiến thức giữa các học sinh dẫn đến sự phân hóa giữa học sinh giỏi, khá, trung bình và
yếu kém. Sự phân hóa này đã làm phát triển tự ý thức về khả năng học tập, các em lấy đó
7
là tiêu chuẩn để đánh giá năng lực bản thân và so sánh đối chiếu với bạn bè. Do đó, TĐG
về học tập là một trong các mặt cơ bản trong nhân cách của học sinh.
1.2.4.4. Tự đánh giá về định hướng tương lai
Vấn đề quan trọng nhất của học sinh THPT là việc tự xác định nghề nghiệp cho
mình. Việc lựa chọn này không chỉ xác định họ “sẽ là ai?” mà còn đề cập đến khía cạnh
“sẽ là người như thế nào?”. Cơ sở định hướng nghề nghiệp không chỉ là sở thích mà còn
dựa trên năng lực của từng em trong từng môn hoặc trong từng lĩnh vực. Với những học
sinh TĐG đúng năng lực bản thân các em có những lựa chọn phù hợp với nhu cầu nghề
nghiệp của mình. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là để lựa chọn một nghề phù hợp, học sinh
cần hiểu về đặc điểm, yêu cầu của nghề để không chệch hướng.
1.2.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá của học sinh THPT
- Yếu tố giáo dục gia đình
Gia đình là một nhóm nhỏ, là môi trường văn hóa có ảnh hưởng đầu tiên và trực tiếp
nhất đối với mỗi con người. Trong đó phải kể đến là các phong cách ứng xử của cha mẹ có
tác động trực tiếp đến TĐG của con cái. Trong các phong cách giáo dục, phong cách dân
chủ, yêu thương của cha mẹ giúp con cái có TĐG phù hợp về bản thân, các em sẽ tự ý
thức và có tính độc lập trong cuộc sống. Các em mong muốn khẳng định cái Tôi của bản
thân theo hướng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm cho những việc làm của mình.
- Yếu tố giáo dục nhà trường
TĐG của học sinh THPT chịu ảnh hưởng của giáo dục nhà trường. Điều này được
thể hiện qua 2 khía cạnh đó là: những đánh giá của thầy cô giáo và kết quả đạt được trong
quá trình học tập của học sinh. Kết quả học tập là cơ sở giúp cho học sinh cảm thấy vững
tin hơn vào năng lực của mình. Bên cạnh đó, sự quan tâm động viên kịp thời của thầy cô
giáo giúp học sinh tin tưởng vào năng lực bản thân, vượt qua được những khó khăn trong
học tập. Do đó, yếu tố này có tác động nhiều mặt đến TĐG của học sinh THPT.
- Nhóm bạn bè
Nhóm bạn bè cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của học sinh
THPT. Tình cảm này được hình thành trên cơ sở hứng thú chung, hoạt động cùng chung
mục đích và chí hướng phấn đấu, có thể thi đua cạnh tranh lành mạnh với nhau. Do vậy,
thông qua nhóm bạn bè, học sinh được thể hiện năng lực bản thân, được thể hiện quan
điểm, năng lực tự đánh giá và được bạn bè đánh giá lại. Qua đó, nhóm bạn bè là tấm
gương phản chiếu giúp học sinh tự nhận ra được những giá trị của bản thân.
8
- Yếu tố chủ quan
Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến TĐG của học sinh chính là các hiện tượng tâm lý,
các thuộc tính tâm lý, phẩm chất nhân cách có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự
hình thành và phát triển TĐG của học sinh. Trình độ phát triển của nhân cách cũng là một
trong những yếu tố ảnh hưởng đến TĐG.
CHƢƠNG 2 . TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Tổ chức nghiên cứu về mặt lý thuyết
Nhằm xây dựng cơ sở ban đầu về lý luận cho đề tài nghiên cứu. Tiến trình xây
dựng cơ sở lý thuyết được thực hiện như sau:
- Thu thập tài liệu, các luận án, tạp chí, sách, các nghiên cứu có liên quan đến đề
tài nghiên cứu.
- Đọc, ghi chép, xử lý và lựa chọn các thông tin, dữ liệu cần thiết phục vụ cho đề
tài nghiên cứu
- Hình thành giả thuyết khoa học
- Xây dựng hệ thống phương pháp tiếp cận đối tượng và khách thể nghiên cứu.
2.1.2. Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn
Tìm hiểu thực trạng tự đánh giá của học sinh trường THPT Tô Hiệu và cách giáo
dục của cha mẹ đối với con cái.
2.1.3. Các bước nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trải qua 4 giai đoạn trong thời gian từ tháng 12/2010 - 6/2012
Giai đoạn 1: Tổ chức nghiên cứu lí luận, tham khảo các tài liệu liên quan đến đề
tài, tham khảo ý kiến giáo viên hướng dẫn để hoàn thiện đề cương và cơ sở lý luận
(12/2010 - 3/2011).
Giai đoạn 2: Hoàn thiện cơ sở lý luận, xác định phương pháp nghiên cứu, xây
dựng công cụ khảo sát, tiến hành điều tra thử (4/2011 – 5/2011).
Giai đoạn 3: Điều tra thực tế trên số lượng khách thể đã xác định, thu thập và xử
lý số liệu điều tra thực trạng (8/2011 – 12/2011).
Giai đoạn 4: Phân tích số liệu, viết báo cáo khoa học của đề tài luận văn, chuẩn bị
bảo về đề tài (1/2012 – 6/2012)


9
2.2. Mẫu nghiên cứu
2.1.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu gồm 263 học sinh và 263 phụ huynh. Chúng tôi phát ra 263
phiếu trưng cầu ý kiến ở học sinh và thu về 256 phiếu hợp lệ; loại bỏ 7 phiếu không hợp
lệ do trả lời không đúng hoặc không thu hồi được, như vậy kết quả có 256 phiếu học sinh
và 256 phiếu phụ huynh.
Ngoài ra còn có 6 giáo viên chủ nhiệm đang trực tiếp giảng dạy tại tại các lớp.
2.3. Các phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này bao gồm các giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và
khái quát hóa lý thuyết qua các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, được
đăng tải trên các sách báo và tạp chí về các vấn đề liên quan đề tài nghiên cứu như: TĐG,
các yếu tố ảnh hưởng đến TĐG của cá nhân, đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh THPT,
TĐG của học sinh THPT…
2.3.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Bảng hỏi được thiết kế xoay quanh TĐG của học sinh trên các mặt: về học tập, về
thể chất, về giao tiếp xã hội và về định hướng tương lai, và cách ứng xử của cha mẹ đối
với con cái.
Chúng tôi cũng tiến hành tương tự khi phát phiếu hỏi cho Giáo viên chủ nhiệm và
cha mẹ học sinh.
 Bảng hỏi gồm 4 câu: Câu 1; Câu 2, Câu 3 dùng để hỏi cho học sinh và cha mẹ.
Câu 4 dùng để hỏi cho cả học sinh, cha mẹ và giáo viên chủ nhiệm.
2.3.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm tìm hiểu thêm về thông tin trong quá tình thực hiện các bảng hỏi, chúng tôi
tiến hành phỏng vấn, trao đổi trực tiếp và ngẫu nhiên với một số học sinh, phỏng vấn sâu
giáo viên chủ nhiệm và cha mẹ học sinh để tìm hiểu đánh giá của họ về con em mình.
2.3.4. Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để xử lý phân tích số liệu điều tra, lập bảng
thống kê trên các dữ liệu nghiên cứu để thuận lợi cho việc phân tích, và là cơ sở để đi đến
các kết luận phục vụ cho mục đích nghiên cứu.


10
2.3.5. Phương pháp trắc nghiệm
Chúng tôi sử dụng thang đo E.T.E.S dùng cho người trưởng thành (trên 18 tuổi)
bao gồm 82 mệnh đề (item). Thang đo này do Florence Soldes Ader, Gwenaelly
Levéque, Lathaly Oubrayrie và Claire Mottay ở Khoa Tâm lý học – Trường Đại học
Toulouse xây dựng, đã được thích ứng và sử dụng đối với học sinh ở Việt Nam Thang
đo bao gồm 82 mệnh đề, được nhóm thành 6 yếu tố đánh giá về các mặt: Xã hội, thể chất,
học đường, xúc cảm, tương lai/nghề nghiệp và gia đình.
Mỗi mệnh đề của thang đo có 5 phương án trả lời: 1- Hoàn toàn không đồng ý; 2 –
Không đồng ý một phần; 3- Bình thường; 4 – Đồng ý một phần; 5 – Hoàn toàn đồng ý.
Học sinh trả lời phải chỉ ra điểm đồng ý hoặc không đồng ý với các mệnh đề được
đưa ra. Các lựa chọn trả lời thay đổi trong khoảng từ 1 = “Hoàn toàn không đồng ý” đến
5 = “Hoàn toàn đồng ý”. Kết quả thu được từ 82 mệnh đề được chia ra thành các thang
TĐG về cái tôi gia đình, cái tôi xã hội, cái tôi thể chất, cái tôi học đường, cái tôi tương
lai, cái tôi cảm xúc, chúng tôi lại chia mỗi thang thành 5 khoảng tương ứng với 5 mức độ
TĐG: Rất thấp, Thấp; Trung bình; Cao; Rất cao.
CHƢƠNG 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng chung về tự đánh giá của học sinh THPT Tô Hiệu
3.1.1. Tự đánh giá chung của học sinh
Bảng 3.1: Thực trạng chung về tự đánh giá của học sinh THPT
Các mặt TĐG
Mức độ TĐG (%)
Rất thấp
Thấp
Trung bình
Cao
Rất cao
Về thể chất
1.6
21.5
60.9
13.3
2.7
Về học tập
0.8
33.6
62.9
2.7
0
Về giao tiếp xã hội
0.4
23.4
64.1
10.5
1.6
Về định hướng tương lai
3.5
16
61.3
16
3.1

Kết quả bảng 3.1 cho thấy đa số học sinh tự đánh giá ở mức trung bình, chiếm một
tỷ lệ tương đối học sinh tự đánh giá ở mức thấp và rất thấp, học sinh tự đánh giá mức cao
và rất cao chiếm tỷ lệ nhỏ. Cụ thể kết quả từng mặt tự đánh giá như sau:
11
Về thể chất: có 60.9% học sinh tự đánh giá mức trung bình, 21.5% ở mức độ thấp,
13.3% học sinh tự đánh giá ở mức cao. Chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 1.6% học sinh tự đánh
giá mức rất thấp và 2.7% học sinh chọn mức rất cao.
Về học tập: có 62.9% học sinh tự đánh giá ở mức trung bình, 33.6% học sinh tự
đánh giá ở mức thấp, 0.8% học sinh tự đánh giá rất thấp, và 2.7% học sinh tự đánh giá ở
mức cao, không có ý kiến lựa chọn mức rất cao.
Về giao tiếp xã hội: có 64.1% học sinh lựa chọn mức độ trung bình, có tỷ lệ tương
đối 23.4% học sinh lựa chọn mức độ thấp, có 10.5% học sinh lựa chọn mức độ tự đánh
giá cao, và tỷ lệ rất nhỏ 0.4% học sinh tự đánh giá mức rất kém, và 1.6% học sinh tự đánh
giá rất cao về giao tiếp xã hội của bản thân.
Về định hướng tương lai: có 61.3% học sinh tự đánh giá trung bình, 16% học sinh
tự đánh giá ở mức thấp và 3.5% tự đánh giá mức rất thấp và (tỷ lệ này thấp hơn so với
các mặt tự đánh giá khác cùng mức độ), và có 16% một tỷ lệ tương đối học sinh tự đánh
giá mức độ cao, học sinh tự đánh giá mức rất cao chiếm tỷ lệ nhỏ 3.1%.
Qua kết quả ban đầu chúng tôi thấy rằng đa số học sinh tự đánh giá bản thân ở
mức trung bình. Một số tự đánh giá bản thân ở mức thấp hoặc mức cao. Từ góc độ của
người nghiên cứu, chúng tôi cũng rất quan tâm đến những học sinh tự đánh giá bản thân
ở mức rất thấp hoặc mức rất cao.
3.1.2. Đánh giá của giáo viên và của cha mẹ học sinh
 Đánh giá của giáo viên và TĐG của học sinh:
Đa số học sinh có mức độ TĐG tương đối phù hợp với đánh giá của giáo viên.
Bên cạnh đó một tỷ lệ nhất định học sinh tự đánh giá chưa phù hợp với đánh giá của giáo
viên: trong đó học sinh tự đánh giá thấp hơn so với giáo viên đánh giáở các mặt giao tiếp
xã hội và mặt học tập, học sinh tự đánh giá cao hơn giáo viên đánh giá ở các mặt thể chất
và định hướng tương lai.
 Đánh giá của cha mẹ và TĐG của học sinh
Tóm lại, kết quả trên cho thấy phần lớn có sự phù hợp về các mặt TĐG của học
sinh với đánh giá của giáo viên chủ nhiệm và đánh giá của cha mẹ học sinh: (1) Về giao
tiếp xã hội, mức độ TĐG của học sinh và đánh giá của cha mẹ là tương đương nhau trong
khi đó học sinh nhận được sự đánh giá cao hơn ở giáo viên. (2) Về học tập, mức độ TĐG
của học sinh thấp hơn so với đánh giá của cha mẹ và thấp hơn so với giáo viên. (3) Về
mặt thể chất, có sự tương đương giữa 3 khách thể nghiên cứu (học sinh có TĐG cao hơn
12
một chút so với giáo viên và cha mẹ. (4) Về định hướng tương lai, cũng có sự tương đồng
giữa các khách thể, tuy nhiên cha mẹ có đánh giá cao hơn so với TĐG của học sinh và so
với giáo viên.
Bên cạnh việc lấy ý kiến của cha mẹ về các mặt TĐG của con cái. Chúng tôi tìm
hiểu sâu hơn ở cha mẹ với câu hỏi: “Quý vị vui lòng cho biết con mình giống với các đặc
điểm dưới đây tới mức nào”. Kết quả cho thấy khi đề cập đến một số đặc điểm của thanh
thiếu niên hiện nay, phụ huynh đánh giá ở mức độ tương đối cao những đặc điểm tích cực
giống với con cái họ, và cũng có mức đánh giá tương tự ở con cái. Bên cạnh đó cha mẹ
đánh giá mức rất thấp và trung bình ở những điểm tiêu cực của con cái họ (tương đương
với mức “không đúng” và “hoàn toàn không đúng”).Tuy nhiên, con cái có xu hướng
đánh giá cao hơn cha mẹ về những mệnh đề liên quan đến sự lo lắng về cảm xúc. Do đó,
cha mẹ cần có sự lắng nghe con cái nhiều hơn, quan tâm đến suy nghĩ của con, giúp con
vượt qua được những khó khăn của tuổi mới lớn để các em đương đầu tốt với các vấn đề
của cuộc sống.
3.2. Tự đánh giá của học sinh THPT về các mặt cụ thể
3.2.1. Tự đánh giá về thể chất
Bảng 3.12: Tự đánh giá của học sinh về thể chất
Nhìn chung học sinh có TĐG mức trung bình (ĐTB=3.01), kết quả này cao hơn so
với tự đánh giá ban đầu của các em. Yếu tố thể chất ở đây bao gồm sự phát triển hoàn
thiện của các bộ phận trên khuôn mặt và cơ thể, là cảm nhận của học sinh về sức khỏe thể
chất, và sự tự tin khi tham gia các môn thể thao Các em đánh giá khắt khe ngoại hình
của mình đồng thời học sinh đánh giá cao và đề cao sự chỉn chu trong cách ăn mặc khi
giao tiếp.
Khi xét về sự khác biệt giới tính, có sự khác biệt rõ trong TĐG của học sinh nam
và học sinh nữ, các em nam tự đánh giá cao hơn (ĐTB=3.12) so với nữ (ĐTB=2.91). Khi
xét theo khối lớp cho thấy, học sinh lớp chọn có tự đánh giá thể chất thấp hơn so với lớp
thường. Bên cạnh đó cùng với sự hoàn thiện về thể chất thì TĐG của học sinh tăng dần
theo khối lớp (khối 10: ĐTB=2.86; Khối 11: ĐTB=3.02; Khối 12: ĐTB=3.23).
3.2.2. Tự đánh giá về giao tiếp xã hội
Kết quả về giao tiếp xã hội cho thấy học sinh có TĐG ở mức trên trung bình
(ĐTB=3.48), phản ánh thực tế đa số học sinh có sự tự tin trong giao tiếp, muốn được gia
13
nhập vào nhóm bạn bè. Phản ánh học sinh có tinh thần tập thể, sự gắn bó với bạn bè
cao.
So sánh theo giới tính cho thấy học sinh nữ tự đánh giá cao hơn (ĐTB=3.63) so
với học sinh nam (ĐTB=3.36). Điều này có thể giải thích rằng trong một số nền văn
hóa (trong đó có Việt Nam), học các em nữ nhạy cảm hơn và có kỹ năng giao tiếp tốt
hơn so với nam. Do đó, sự phát triển về khả năng giao tiếp xã hội của nữ cao hơn nam ử
lứa tuổi này.
Khi xét theo khối lớp, học sinh khối 12 có tự đánh giá cao nhất (ĐTB=3.62),
khối 10 cao thứ hai (ĐTB=3.47); học sinh khối 11 có tự đánh giá thấp nhất
(ĐTB=3.42). Bên cạnh đó học sinh lớp 10 chọn tự đánh giá cao hơn lớp 10 thường,
không có sự khác nhau giữa lớp chọn và lớp thường ở khối 11 và khối 12 trong TĐG
mặt giao tiếp xã hội.
3.2.3. Tự đánh giá về học tập
Kết quả học sinh có TĐG về học tập ở mức trung bình (ĐTB=2.97). Số liệu cụ thể
có 46.5% học sinh tự đánh giá mặt học tập ở mức trung bình, 16.8% mức cao và 7.4% rất
cao; còn lại một tỷ lệ tương đối 24.2% tự đánh giá mức thấp và 5.1% mức rất thấp.
So sánh theo giới tính cho thấy học sinh nữ có TĐG về học tập cao hơn
(ĐTB=3.10) học sinh nam (ĐTB=2.82). Điều này được hiểu do các em nữ có sự chăm
chỉ hơn trong học tập, các môn học trong nhà trường thiên về lý thuyết nhiều hơn, do đó
là ưu thế hơn của nữ. Đồng thời có sự khác nhau giữa các khối lớp và giữa các lớp cùng
khối trong TĐG về học tập: học sinh khối 12 có TĐG (ĐTB=3.24) cao hơn khối 10
(ĐTB=2.93) và khối 11 (ĐTB=2.74). Bên cạnh đó, các em lớp chọn lại có TĐG cao hơn
lớp thường. Nghiên cứu cũng cho thấy, môi trường học tập tích cực và phương pháp giáo
dục của giáo viên có ảnh hưởng tích cực đến TĐG về học tập của học sinh.
3.2.4. Tự đánh giá về định hướng tương lai
Học sinh có TĐG về định hướng tương lai ở mức trên trung bình (với ĐTB=3.42).
Kết quả này cao hơn so với TĐG ở các mặt học tập và thể chất. Đây là điều rất quan
trọng đối với các em bởi hình ảnh về nghề nghiệp tương lai là động lực thôi thúc các em
phấn đấu trong học tập và hướng tới việc đạt được mục tiêu đã đề ra.
Mức độ TĐG tăng dần theo các khối, (khối 10 ĐTB=3.28; khối 11 ĐTB=3.23;
khối 12 ĐTB=3.71). Đồng thời học sinh nữ có TĐG cao hơn (ĐTB=3.47) so với học sinh
nam (ĐTB=3.33).
14
Có sự chênh lệch trong mức độ TĐG giữa lớp chọn và lớp thường do sự khác nhau
về môi trường học tập cũng dẫn đến sự khác nhau về năng lực học tập, giao tiếp và TĐG
của học sinh về các mặt. Vì vậy theo chúng tôi, một môi trường học tập tốt cho học sinh
là môi trường cạnh tranh lành mạnh, có sự quan tâm của thầy cô với phương pháp giáo
dục hiệu quả giúp học sinh có cơ hội được thể hiện bản thân và có cơ hội được phát triển
tốt.
3.2.5. So sánh các mặt tự đánh giá ban đầu của học sinh với các mặt tự đánh
giá trong thang đo E.T.E.S
Biểu đồ 3.7: So sánh TĐG ban đầu với TĐG trong thang đo E.T.E.S
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
5
Thể chất
Giao tiếp xã hội
Học tập
Định hướng
tương lai
TĐG ban đầu
TĐG trong
E.T.E.S
2.94 2.89
2.67
2.99
3.01
3.48
2.97
3.42

Quan sát đường biểu diễn trên biểu đồ cho thấy có sự biến thiên tương đồng nhau
trong: kết quả TĐG ban đầu của học sinh thấp hơn so với kết quả thang đo E.T.E.S.
Trong đó, học sinh có mức đánh giá ở mức gần trung bình ở các mặt (từ 2.67 đến 2.99),
thấp nhất là TĐG về học tập và cao nhất là TĐG về định hướng tương lai.
Với kết quả TĐG trong thang đo E.T.E.S cho thấy, học sinh có TĐG cao hơn so
với đánh giá ban đầu của học sinh. Điểm trung bình của TĐG tất cả các khía cạnh đều
nằm ở nửa phía trên của biểu đồ trong khoảng từ điểm 3 đến điểm 4 (từ “bình thường”
đến “đồng ý một phần”). Trong đó, mặt học tập có mức độ TĐG thấp nhất (ĐTB=2.97),
mặt giao tiếp xã hội đạt mức cao nhất (ĐTB=3.48) và mặt định hướng tương lai cao thứ 2
(ĐTB=3.42), và thứ 3 là mặt thể chất (ĐTB=3.01).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét