Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Vận dụng trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
A- Lời Mở Đầu
Kinh tế là lĩnh vực hoạt động đầu tiên phục vụ sự tồn tại và phát triển của loài
ngời, là phơng thức cơ bản song song với đời sống tinh thần cùng thúc đẩy xã hội loài
ngời tiến lên.
Tăng trởng kinh tế, phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội là những vấn đề quan
trọng của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và ngày nay đang là vấn đề có tính toàn cầu. Để
thực hiện những mục tiêu kinh tế đó chúng ta cần phải vận dụng tốt những quy luật
của sự vận động, phát triển xã hội. Một trong những quy luật cơ bản nhất của sự vận
động, phát triển xã hội là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lợng của lực lợng sản xuất.
Việt Nam hiện nay đang trong thời kỳ quá độ, phát triển kinh tế thị trờng có sự
điều tiết vĩ mô của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa thì việc nắm vững và
vận dụng quy luật này lại càng quan trọng.
Kinh tế thị trờng với chủ nghĩa xã hội không chỉ là một trong những đại vấn
đề, là điểm then chốt trong lý luận về chủ nghĩa xã hội mà còn có ý nghĩa thực tiễn
rất quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Đại hội lần thứ IX
của Đảng Cộng sản Viết Nam khẳng định chủ trơng phát triển nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là mô hình kinh tế tổng quát trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam . Quan điểm này là kết quả của một quá
trình đổi mới t duy, vận dụng lý luận, tổng kết thực tiễn; là quá trình tìm tòi, thử
nghiệm, trăn trở, đấu tranh t tởng lý luận trong Đảng và ngoài xã hội. Thực tiễn đã
khẳng định và chứng minh đây là một bớc đột phá có tính sáng tạo và cách mạng
trong t duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ nghĩa xã hội.
Để hoàn thành bài tiểu luận này em xin cám ơn sự chỉ dẫn tận tình của thạc sỹ
Nguyễn Vân Hà ngời trực tiếp giảng dạy bộ môn triết học đã giúp em trong quá trình
làm tiểu luận.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
B- Nội Dung
I.Cơ sở lý luận:
1.Lực l ợng sản xuất Quan hệ sản xuất :
* Ph ơng thức sản xuất:
Sản xuất vật chất đợc tiến hành bằng phơng thức sản xuất nhất định. Phơng
thức sản xuất là cách thức con ngời thực hiện quá trình sản xuât vật chất ở những giai
đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài ngời.
Mỗi xã hội đợc đặc trng bằng một phơng thức sản xuất nhất định.Phơng thức
sản xuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội. Sự thay thế kế tiếp nhau của các phơng thức sản xuất trong
lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài ngời từ thấp đến cao.
Trong sản xuất, con ngời có quan hệ song trùng: Một mặt là quan hệ giữa
ngời với tự nhiên, tức là lực lợng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa ngời với ngời,
tức là quan hệ sản xuất. Phơng thức sản xuất chính là sự thống nhất giữa lực lợng sản
xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tơng ứng.
* Lực l ợng sản xuất:
Lực lợng sản xuất biểu diễn mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong quá
trình sản xuất. Lực lợng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong quá
trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lợng sản xuất bao gồm : t liệu sản xuất và quan
hệ sản xuất.
Trong các yếu tố của lực lợng sản xuất, lực lợng sản xuất hàng đầu của toàn
thể nhân loại là công nhân, là ngời lao động. Chính ngời lao động là chủ thể của quá
trình lao động của mình, sử dụng t liệu lao động trớc hết là công cụ lao động tác
động vào đối tợng lao động để sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao
động sản xuất sức mạnh và kỹ năng lao động của con ngời ngày càng đợc tăng lên,
đặc biệt là trí tuệ của lao động ngày càng cao. Ngày nay với cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng góp vai trò chính yếu.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cùng với ngời lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của lực l-
ợng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất. Công cụ lao động do con
ngời sáng tạo ra là sức mạnh của tri thức đã đợc vật thể hoá nó nhân sức mạnh
của con ngời trong quá trình lao động và sản xuất.Công cụ lao động là yếu tố đồng
nhất của lực lợng sản xuất. Cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm với những phát
minh và sáng chế kỹ thuật công cụ lao động không ngừng đợc cải tiến và hoàn thiện.
Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn
bộ t liệu sản xuất. Xét đến cùng đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội.
Trình độ phát triển của công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự nhiên của
con ngời, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử. Trong sự phát triển
của lực lợng sản xuất, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển của khoa
học gắn liền với sản xuất và là động lực manh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày
nay khoa học đã phát triển tới mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi
to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
Những phát minh khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời của những nghành sản
xuất mới, những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng l-
ợng mới. Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, trở thành một yếu
tố không thể thiếu đợc của sản xuất đã làm cho lực lợng sản xuất có bớc phát triển
nhảy vọt tạo thành cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Yếu tố trí lực
trong sức lao động đặc trng cho lao đông hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói
quen của họ và là tri thức khoa học.
* Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất. Quan
hệ sản xuất gồm ba mặt : quan hệ về sở hữu đối với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ
chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Quan hệ sản xuất cho con ngời tạo ra nhng nó hình thành một cách khách quan
trong quá trình sản xuất không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con ngời. C. Mác
viết: trong sản xuất ngời ta không chỉ quan hệ với t liệu. Ngời ta không thể sản xuất
đợc nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoật động chung và để trao
đổi hoạt đọng với nhau. Muốn sản xuất đợc, ngời ta phải có những mối liên hệ vào
quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với tự nhiên tức là việc sản xuất.
Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, giữa ba mặt của quan hệ sản xuất
thống nhất với nhau tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tơng đối so với sự vận
động phát triển không ngừng cuả lực lợng sản xuất.
Trong ba mặt cuă quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất là quan
hệ xuất phát quan hệ cơ bản đặc trng cho quan hệ sản xuất tronh từng xã hội. Quan hệ
sở hữu về t liệu sản xuất quyết định quan hề về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ
phân phối sản phẩm cũng nh các quan hệ xã hội khác. Lịch sử phát triển của nhân
loại đã chứng kiến có hai loại hình sở hữu cơ bản vè t liệu sản xuất: Sở hữu t nhân và
sở hữu công cộng. Sở hũ t nhân là loại hình sở hữu mà trong đó t liệu sản xuất tập
trung vào trong tay một số ít ngời, còn đại đa số không có hoặc có ít t liệu sản xuất.
Do đó, quan hệ giữa ngời với ngời trong sản xuất vật chất và trong đời sống xã hội là
quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột và bị bóc lột. Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu
mà trong đó t liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên của mỗi cộng đồng. Nhờ đó quan
hệ giữa ngời với ngời trong mỗi cộng đồng là quan hệ bình đẳng hợp tác giúp đỡ lẫn
nhau.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản xuất,
đến việc tổ chức điều khiển quá trình sản xuất, Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất
do quan hệ sở hữu quyết định và nó phải thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy nhiên có
trờng hợp quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất không thích ứng với quan hệ sở hữu,
làm biến dạng quan hệ sở hữu.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu về t liệu
sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối song nó kích thích trực tiếp đến
lợi ích của con ngời, nên nó tác động đén thái độ cuả con ngời trong lao động sản
xuất và do đó, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển.
2. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực l -
ợng sản xuất.
Bằng nhiều con đờng khác nhau, lâu nay từ nớc ngoài du nhập vào nớc ta
những ấn phẩm chứa đựng những luận điểm sai trái, Một trong những luận điểm đó
là: quan hệ sản xuất mà chúng ta đanh xây dựng chỉ là phơng tiện để phát triển lực l-
ợng sản xuất. Họ cho rằng, vì chúng ta không làm nh vậy mà chủ trơng xây dựng
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bằng mọi giá nên lực lợng sản xuất thấp kém, trì
trệ.
Luận điểm đó lâu ngày cũng dần dần thấm vào một số ngời. Gần đây, trong
một số hội thảo khao học, đâu đó cũng có ngời trng ra luận điểm đó. Có ngời tuy
không trực diện nêu lên quan hệ sản xuất chỉ là phơng tiện, nhng nội dung trình bày
lại không khác gì lắm so với luận điểm đó. Trong khi đó, tác động tiêu cực của luận
điểm sai trái này trong xã hội chúng ta ngày càng nhiều.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản xuất,
chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo
thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển xã hội.
Khuynh hớng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển. Sự phát
triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lực lợng sản xuất,
trớc hết là công cụ lao động.
Sự phát triển của lực lợng sản xuất đợc đánh dấu bằng trình độ của lực lợng sản
xuất. Trình độ lực lợng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độ chinh
phục tự nhiên của con ngời trong giai đoạn lịch sử đó. Trình độ sản xuất biểu hiện ở
trình dộ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con ng-

nguyễn thu hiền - Lớp h17
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ời, trình độ tổ chức và phân công lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào
sản xuất.
Gắn liềnvới trình độ của lực lợng sản xuất là tính chất của lực lợng sản xuất.
Trong lịch sử xã hội, lực lợng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chất cá nhân lên
tính chất xã hội hoá. Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công phân công lao động kém
phát triển thì lực lợng sản xuất chủ yếu có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt tới
trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao đông xã hội phát triển thì lực lợng sản xuất có
tính chất xã hội hoá.
Sự vận động, phát triển của lực lợng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan
hệ sản xuất cho phù hợp với nó. Khi một phơng thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.Sự phù hợp của quan
hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là một trạng thái mà trong đó
quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lựclợng sản xuất. Trong trạng thái đó,
tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lực lợng sản xuất
phát triển. Điều đó có nghĩa là, nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối u
giữa ngời lao động với t liệu sản xuất và do đó lực lợng sản xuất có cơ sở đẻ phát
triển hết khả năng của nó.
Sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ
sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lợng sản
xuất. Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lợng sản xuất, kìm
hãm lực lợng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lợng sản
xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới với trình
độ phát triển mới của lực lợng sản xuất đẻ thúc đẩy lực lợng sản xuất tiếp tục phát
triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là ph-
ơng thức sản xuất cũ mất đi, phơng thức mới ra đời thay thế. C.Mác đã viết tới một
giai đoạnnào đó phát triỉen của chúng, các lực lợng sản xuất vật chất của xã hội mâu
thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có. Trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất
vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lợng sản xuất, những

nguyễn thu hiền - Lớp h17
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
quan hệ âý trở thành những xiềng xích của các lực lợng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời
đại một cuộc cách mạng xã hội.
Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhng quan hệ sản xuất cũng có
tính độc lập tơng đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lợng sản xuất. Quan hệ
của sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con ngời trong
lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng
khyoa học và công nghệ, v vvà do đó dẫn đến sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là động lực
thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Ngợc lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc
tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất sẽ
kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát
triển của lực lợng sản xuất, thì theo quy luật chung , quan hệ sản xuất cũ sẽ đợc thay
thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với sự trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất để thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển. Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn
giữa lực lợng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn. Nó phải thông qua
nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con ngời. Trong xã hội có giai cấp phải
thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự thay thế,
phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu
nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ t sản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tơng lai là do
sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù
hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là quy luật cơ bản nhất.
3.Vận dụng trong quá trình phát triển kinh tế thị tr ờng định h ớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
*Nền kinh tế thị tr ờng định h ớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trờng là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá mà ở đó tất cả
các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất và kinh doanh đều cí thể đợc mua bán trên

nguyễn thu hiền - Lớp h17
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thị trờng. Vì vậy trong nền kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có một thị trờng đồng bộ bao
gồm cả thị trờng đầu vào và đầu ra.
Đặc điểm của kinh tế thị trờng:
Thứ nhất, trong kinh tế thị trờng tính tự chủ về kinh tế của các cá nhân rất cao,
do tác động của quy luật giá trị các doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngạch chế đọ
hạch toán kinh doanh.
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trờng dung lợng và những loại hàng hoá đa dạng
và phong phú.
Thứ ba, giá cả của hàng hoá đợc xác định ngay trên thị trờng là kết quả của sự
tác động qua lại giửa hàng hoá và tiền tệ, giữa cung và cầu, giữa ngời bán và ngời
mua đó là giá thoả thuận.
Thứ t, cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trờng. Tác động cả
trong sản xuất và lu thông. Hình thành cạnh tranh nội bộ nghành giữa các nghành,
cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Nhờ có cạnh tranh mà những
biểu hiện thái quá của độc quyền và những can thiệp thô bạo của nhà nớc đợc điều
chỉnh hạn chế.
Thứ năm, nền kinh tế thị trờng là một hệ thống kinh tế mở lấy trao đổi làm
mục đích.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có hai đặc điểm cơ
bản: Một là, đây là nền kinh tế thị trờng mới bớc đầu đợc hình thành, còn sơ khai,
còn ở trình độ thấp, các loại thị trờng cha hình thành đầy đủ, đồng bộ. Và hai là, kinh
tế thị trờng mang định hớng xã hội chủ nghĩa, nó khác với thị trờng t bản chủ nghĩa,
nó do Đảng cộng sản lãnh đạo và Nhà nớc xã hội chủ nghĩa quản lý.
*Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là một trong những chủ trơng lớn, rất
quan trọng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc. Thực tế đã chứng
tỏ đây là mội chủ trơng hoàn toàn đúng đắn. Trong những năm qua, nhờ các thành
phần kinh tế phát triển, đất nớc đã huy động đợc nhiều nguồn lực trong nớc và ngoài

nguyễn thu hiền - Lớp h17
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nớc, tạo ra động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ. Nhng hiện nay, trớc những yêu cầu
mới phải đẩy nhanh nhịp độ phát triển đất nớc, bảo đảm sự phát triển nhanhvà bền
vững của nền kinh tế xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nớc, việc phát triển kinh tế nhiều thành phần đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về
lý luận và thực tiễn.
Nh ta đều biết, sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã ddợc V.I.Lê-Nin đề cập từ những ngày đầu của
chính quyền Xô-Viết. Vào năm 1918 Lê-Nin đã chỉ ra rằng, trong nền kinh tế của
thời kỳ qúa độ có sự đan xen của những yếu tố, những bộ phận, những mảnh của cả
chủ nghĩa t bản lẫn chủ nghĩa xã hội, nghĩa là những yếu tố của năm thành phần kinh
tế xã hội khác nhau ở Nga lúc bấy giờ.
Những t tởng ấy của V.I.Lê-Ninđã đợc triển khai trong công cuộc xây dựng đất
nớc Xô Viết và đã đem lại những thành tựu quan trọng, nhất là ở thời kỳ thực hiện
chính sách kinh tế mới.
Ngay sau khi giành đợc độc lập dân tộc, nhà nớc non trẻ của chúng ta vừa phải
kháng chiến chống thù trong giặc ngoài, vừa tiến hành kiến quốc, nhng ngay từ năm
1953, trong tác phẩm Thờng thức chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến sự tồn
tại của năm loại kinh tế khác nhau trong chế độ mới:
A-Kinh tế quốc doanh ( thuộc chủ nghia xã hội vì nó là của chung, của nhân dân)
B-Các Hợp tác xã ( nó là nửa Chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến Chủ nghĩa xã hội)
C-Kinh tế cá nhân, nông dân và thủ công nghệ ( có thể tiến dần vào Hợp tác xã, tức
là nửa Chủ nghĩa xã hội )
D-T bản t nhân
E-T bản của nhà nớc (nh nhà nớc hùm vốn với T bản để kinh doanh)
Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho
nên, kinh tế ta phát triển theo hớng Chủ nghĩa xã hội chứ không theo hớng Chủ nghĩa
t bản.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
II. Thực Trạng Và Giải Pháp:
1. Một số thành tựu và khó khăn:
Sau đại thắng màu xuân năm 1975, miền nam đợc giải phóng, đất nớc thống
nhất, chúng ta cha quán triệt đợc t tởng Hồ Chí Minh do mắc phải bệnh chủ quan,
nóng vội, duy ý trí trong cải tạo Xã hội chủ nghĩa, nên đã muốn xoá bỏ ngay các
thành phần kinh tế phi Xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế t bản t nhân
thành quốc doanh, muốn hoàn thành trong thời gian ngắn cỉa tạo Xã hội chủ nghĩa.
Kết quả là những thành phần kinh tế thuộc sở hữu t nhân về t liệu sản xuất cơ bản đã
bị triệt tiêu, kinh tế phát triển chậm dần, từ đầu những năm 80 thế kỉ XX đất nớc lâm
vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Đúng nh văn hiệu Đại hội VI của
Đảng khẳng định: Trong nhận thức cũng nh trong hoạt động, chúng ta cha thật sự
thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, ở nớc ta còn tồn tại trong một thời gian t-
ơng đối dài, cha nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với tính chất và trình độ phát triển của lc lợng sản xuất.
Khắc phục sai lầm trên, từ Đại hội VI của Đảng - Đại hội khởi đầu sự nghiệp
đổi mới chủ chơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đợc nhận thức lại và
thực hiện nhất quán. Đảng ta đã xây dựng nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần là một
đặc trng của thời kì qua độ, phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chủ trơng
chiến lợc, lâu dài trong suốt thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội. Từ đó các thành
phần kinh tế t bản t nhân, tiểu chủ, kinh tế hộ gia đình mới có điều kiện hoàn thành
và phát triển trở lại một cách công khai, hợp pháp. Một trong những nội dung quan
trọng của t duy kinh tế mới (lúc đó) là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong
đó thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức kinh tế
gắn liền với các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại, chừng nào chúng còn phát huy
tác dụng đối với tiến bộ xã hội, tức là chừng nào cha là một hình thức kinh tế có năng
suất và hiệu quả cao hơn hẳn thay thế chúng trong nền kinh tế xã hội.
Qua thực tiễn những năm đổi mới, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về phát
triển kinh tế nhiều thành phần đã từng bớc đợc tổng kết và làm rõ.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần là động lực tăng trởng và phát triển kinh tế, là
phơng thức giải phóng sức sản xuất và huy động tối đa sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần là phơng thức thực hiện dân chủ hoá đời sống
kinh tế, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huy động sức mạnh tổng hợp để phát triển
kinh tế theo định hớng Xã hội chủ nghĩa.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần cũng là con đờng xây dựng, hoàn thiện quan hệ
sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất trong
suốt thời kì qua độ.
Chúng ta đã tiến hành nhiều biện pháp về cải cách hành chính, điều chỉnh
chính sách thuế và nhằm giảm thiểu những phiền hà, rờm rà trong các thủ tục hành
chính, khắc phục tệ quan liêu, từng bớc cải thiện môi trờng kinh doanh, góp phần
hoàn thiện hệ thống và xây dựng thể chế kinh tế thị trờng định hớng Xã hội chủ nghĩa
ở nơc ta.
Đến nay, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng lên với tốc độ nhanh cha
từng có. Tính đến hết tháng 9 năm 2003 cả nớc có khoảng trên 12,4 triệu bộ kinh
doanh cá thể, hơn 117 nghàn doanh nghiệp t nhân. Khu vực kinh tế t nhân đã chiếm
tỷ trọng áp đảo trong việc tạo chỗ làm mới. Không những thế, lợng vốn huy động cho
đầu t phát triển khá lớn, lớn hơn cả lợng vốn đầu t nớc ngoài, cha kể số việc làm mới
tạo ra, khu vực kinh tế t nhân cũng đang chiếm vị trí hàng đầu. Thực tế đã chứng tỏ
mấy năm vừa qua là một thời kì nở rộ của khu vực kinh tế t nhân.
Khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài, tuy bối cảnh quốc tế còn nhiều phức
tạp nhng trong thời gian qua cũng đã có tốc độ tăng trởng khá, có đóng góp đáng kể
cho tăng trởng kinh tế chung, nhất là trong việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài, chuyển
giao công nghệ kỹ thuật quản lý kinh doanh hiện đại và tạo việc làm. Nếu tính sự
tham gia vào cơ cấu GDP của cả nớc thì khu vực có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã
tăng từ 6,0% (1995) lên 13,3% (2000) và đạt trên 14% (2003).

nguyễn thu hiền - Lớp h17
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong nông nghiệp, việc thừa nhận vai trò độc lập, dân chủ của kinh tế hộ cũng
với quá trình thực hiện cơ sở quản lý mới trong nông nghiệp đã tạo ra bớc phát triển
nhảy vọt và khá bền vững. Điều đó đã cho phép nớc ta chuyển từ tình trạng nhập khẩu
lơng thực hàng năm để cứu đói sang tình hình mới, chẳng những biến đổi đợc lơng
thực quốc gia, và còn đa nớc ta lên hàng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo, nhiều mặt
hàng nông sản đứng vị trí nhất, nhì thế giới cả về số lợng và chất lợng.
Và nhiều thành tựu khác, có thể kể đến, trong mọi mặt của đời sống kinh tế,
chính trị và văn hoá, xã hội đã chứng tỏ chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần do Đảng ta đề ra là hoàn toàn đúng đắn, mang lại sức sống cho nền kinh tế.
Chính sách đúng, trớc hết, đợc thể hiện rõ trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống
của nhân dân, làm cho bộ mặt nông thôn cũng nh thành thị trên cả nớc có nhiều khởi
sắc, vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế ngày càng đợc củng cố và nâng cao.
Tuy vậy, thực tiẽn phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng đã bộc lộ
nhiều vấn đề bất cập, chất lợng tăng trởng, hiệu quả kinh tế-xã hội nhìn chung còn
thấp so với yêu cầu đề ra; năng lực cạnh tranh chậm đợc cải thiện so với lịch trình hội
nhập kinh tế quốc tế mà chúng ta đã cam kết với khu vực và thế giới. Báo cáo của Ban
Chấp hành Trung ơng khoá IX về kiểm điểm nửa đầu nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết
Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: Việc thực hiện chính sách phát triểncác thành phần kinh
tế tuy đã tiến bộ nhng vẫn còn thiếu nhất quán, cha khai thác tốt nguồn nội lực trong
dân. Việc sắp xếp, đổi mới, nhất là việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc theo tinh
thần Nghị quyết Trung ơng 3, thực hiện chậm so với mục tiêu đề ra. Có xu hớng bao
cấp việc trở lại bảo trợ dới nhiều hình thức cho doanh nghiệp nhà nớc. Nhiều doanh
nghiệp nhà nớc ở những ngành, lĩnh vực mà Nhà nớc không cần nắm làm ăn thua lỗ
kéo dài, đã làm hạn chế vai trò ch đạo của kinh tế Nhà nớc, đang là gánh nặng cho
ngân sách và các ngân hàng. Một ssó chính sách khuyến khích phát triển các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh chậm đợc áp dụng. Trên thực tế vẫn còn nhiều biểu
hiện phân biệt đối xử, cha thực sự bình đẳng, cởi mở đối với kinh tế t nhân. Kinh tế
tập thể phát triển chậm; các hợp tách xã chậm đổi mới, vị trí, vai trò còn thấp. Kinh tế

nguyễn thu hiền - Lớp h17
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
có vốn đầu t nớc ngoài còn gặp nhiều khó khăn do môi trờng đầu t cha đủ thông
thoáng, thuận lợi, nhất quán và ổn định. Cha thực hiện tốt quản lý nhà nớc đối với
các thành phần kinh tế.
2. Giải pháp:
- Tiếp tục làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xác định thành phần
kinh tế và vị trí, vai trò các thành phần kinh tế ở nớc ta hiện nay. Về mặt quan điểm
của đảng và trong t tởng Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định rõ là thành phần kinh tế
nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Vừa qua, chúng ta đã tập trung u tiên đầu t cho doanh
nghiệp nhà nớc tơng đối lớn ( chiếm 80% vốn đầu t nhà nớc), nhng kết qủa đem lại
không tơng xứng ( đóng góp 40% ngân sách). Tuy đợc u đãi nhiều hơn cả trong nhiều
lĩnh vực, nh : sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất, tín dụng u đãi, tiếp cận vốn vay
ngân hàngVậy sắp tới cần tháo gỡ những chính sách để khu vực kinh tế nhà nớc
thực sự đóng vai trò chủ đạo và phát triển có hiệu quả.
- Thực hiện chủ chơng cổ phần hoá cho phù hợp.
- Trong một số khu vực kinh tế , động lực phát triển đã có dấu hiệu chững
lại. Thực tế đang cần cú huých mới để tiếp tục tốc độ tăng trởng nhanh. Ví dụ,
trong nôngnghiệp, nếu không có sự tích tụ về ruộng đất và chuyển dịch cơ cấu lao
động nông thôn một cách hợp lý, thì trong một vài thập niên tới khó có thể giảm chi
phí sản xuất, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của sản phẩm và hội
nhập thành công, cha nói đến việc tiếp tục đi lên sản xuất hàng hoá lớn.
- Trong khu vực kinh tế t nhân, sự tăng lên về số lợng doanh nghiệp và
huy động vốn đầu t đã bắt gặp những rào cản. Điều đó thể hiện không những trong
việc cha ban hành kịp thới các văn bản dới luật, mà ngay cả một số chủ trơng, chính
sách đã đợc ban hành vẫn cha đợc thực hiện nghiêm túc hoặc cha thể thực hiện đựơc
chậm đi vào cuộc sống. Chẳng hạn xoá bỏ những thành kiến cũ đoíi với khu vực kinh
tế t nhân, việc thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng đói với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Còn
có những phân biệt vế chính sách thuế mặt hàng sản xuất đang tạo ra nhiều khác
biệt, cha bình đẳng cha tạo ra một môi trờng cạnh tranh lành mạnh.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Hiện nay tiềm lực bên trong của nền kinh tế quốc dân vẫn còn rất lớn. Nguồn
vốn tiềm tàng trong dân còn rất lớn. Hàng năm, có khoảng từ 15- 20% vốn tiết kiệm
nội địa cha đợc huy động vào đầu t. Những bớc phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả từ
khi có luật doanh nghiệp đến nay, phải chăng, mới chỉ tháo gỡ bớc đầu. Vậy cần tháo
gỡ tiếp nh thế nào để tạo động lực phát triển mạnh mẽ tiếp theo hơn nữa.
- Về mặt quản lý nhà nớc đối với các thành phần kinh tế cũng còn nhiều
tranh cãi. Có ý kiến cho rằng, quản đợc đến đâu thì mở ra đến đấy. Nếu vậy có cản
trở sự phát triển không? Vấn đề là ở chỗ là nhà nớc phải làm sao vừa quản lý, kiểm
soát đợc nhng không làm hạn chế sự phát triển và phải tạo điều kiện cho phát triển
các thành phần kinh tế. Nói cách khác, quản lý phải theo kịp sự phát triển và vì sự
phát triển. Tiếc rằng hiện nay chất lợng của đội ngũ cán bộ công chức còn thấp, hệ
thông pháp luật kinh tế cha đồng bộ, tình trạng, quan liêu, tham nhũng chậm bị ngăn
chặn và khắc phục có hiệu quảđang là cản trở lớn cho sự phát triển cho nền kinh tế.
Chúng ta đang đứng trớc mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển các thành phần kinh tế
với năng lực quản lý nhà nớc còn nhiều hạn chế đối với các thành phần kinh tế. Nhu
cầu bức xúc và thực tiễn và bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, nhất là đất
nớc đang đứng trớc nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, đòi hỏi phải có sự chuyển biến
mạnh mẽ hơn về mặt quản lý nhà nớc.
-Việc hình thành Sân Chơi bình đẳng về môi trờng cạnh tranh lành mạnh và
chống độc quyền kinh doanh của doanh nghiệp cũng đanh là nổi cộm, gây nhiều ý
kiến tranh luận rất khác nhau. Mỗi thành phần kinh tế gần nh đã đợc điều tiết bởi một
luận riêng. Nhng nhu cầu hội nhập và tăng trởng nhanh không cho phép kéo dài tình
trạng nhiều Sân chơi , với sự cạnh tranh không lành mạnh ( đó là cha nói đến những
phân biệt đối xử trong hành động cụ thể thi hành pháp luận đối với khu vực t nhân).
Chính điều đó đã hạn chế quá trình nâng cao hiệu quả chung của nền kinh tế, cũng
nh năng lực cạnh tranh quốc gia và không phù hợp với thông lệ quốc tế trong tiến
trình chủ đông hội nhập kinh tế quốc tế.

nguyễn thu hiền - Lớp h17
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét