Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

Cơ sở hóa hoc phân tích



5
11.3 Đường chuẩn độ đa axit 221
11.4 Đường chuẩn độ đa bazơ 227
11.5 Đường chuẩn độ chất điện li lưỡng tính 229
11.6 Thành phần của dung dịch đa axit là hàm số của pH 231
Chương 12 Chuẩn độ Axit – Bazơ trong môi trường không nước 234
12.1 Dung môi để chuẩn độ không nước 234
12.1.1 Phản ứng axit - bazơ trong dung môi lưỡng tính 235
12.1.2 Phản ứng axit - bazơ trong dung môi aproton và dung môi hỗn hợp 241
12.1.3 Phát hiện điểm cuối khi chuẩn độ trong dung môi hỗn hợp 241
12.2 Ứng dụng phương pháp chuẩn độ trong dung môi không nước 242
12.2.1 Chuẩn độ trong axit axetic băng 242
12.2.2 Chuẩn độ trong dung môi bazơ 244
12.2.3 Chuẩn độ trong dung môi aproton hoặc trung tính 245
Chương 13
Chuẩn độ tạo phức 246
13.1 Chuẩn độ bằng các thuốc thử vô cơ 248
13.2 Chuẩn độ bằng các axit aminopolicacboxilic 249
13.2.1 Thuốc thử 249
13.2.2 Phức của EDTA với các cation kim loại 251
13.2.3 Xây dựng đường chuẩn độ 253
Chương 14 Chuẩn độ Oxi hóa khử 265
14.1 Những khái niệm cơ bản 265
14.1.1 Định nghĩa 265
14.1.2 Phương trình Nerst 267
14.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến thế oxi hóa khử 267
14.2.1 Ảnh hưởng của độ axit 267
14.2.2 Ảnh hưởng của phản ứng tạo phức 268
14.2.3 Ảnh hưởng của phản ứng kết tủa 269
14.5 Hằng số cân bằng của phản ứng oxi hóa khử 270
14.5 Đường chuẩn độ oxi hóa khử 272
14.5 Các yếu tố ảnh hưởng lên đường chuẩn độ oxi hóa khử 274
14.2.1 Nồng độ chất phản ứng 275
14.2.2 Độ hoàn toàn của phản ứng 275
14.2.3 Tốc độ phản ứng và thế điện cực 276
14.7 Chuẩn độ hỗn hợp 277
14.7 Chất chỉ thị oxi hóa khử 279
14.7.1 Những chỉ thị oxi hóa khử thông thường 279
14.7.2 Chỉ thị đặc biệt 283
Chương 15 Phân hủy và hòa tan mẫu 284
15.1 Nguồn sai số trong phân hủy và hòa tan mẫu 284


6
15.1.1 Sự hòa tan không hoàn toàn các chất cần phân tích 285
15.1.2 Sự mất đi một phần chất cần phân tích do bay hơi 285
15.1.3 Đưa chất bẩn dung môi vào chất cần phân tích 285
15.1.4 Đưa chất bẩn từ phản ứng của dung môi với thành bình vào mẫu 285
15.2 Phân hủy mẫu bằng axit vô cơ trong bình mở 285
15.2.1 Axit clohiđric 286
15.2.2 Axit nitric 286
15.2.3 Axit sunfuric 286
15.2.4 Axit pecloric 286
15.2.5 Các hỗn hợp oxi hóa 287
15.2.6 Axit fluoric 287
15.3 Phân hủy bằng vi sóng 287
15.4.3 Bình phân hủy mẫu có điều chỉnh áp suất 289
15.4.3 Bình vi sóng áp suất cao 289
15.4.3 Lò vi sóng 290
15.4.3 Lò thiêu vi sóng 290
15.4.3 Sử dụng phân hủy vi sóng trong bình đóng kín 291
15.4 Phương pháp đốt cháy để phân hủy các mẫu hữu cơ 291
15.4.1 Đốt cháy trên ngọn lửa mở (tro hóa khô) 291
15.4.2 Phương pháp đốt trong ống 291
15.4.3 Thiêu nhiệt với oxi trong bình chứa đóng kín 292
15.5 Phân hủy các vật liệu vô cơ bằng chất nung chảy 293
15.5.1 Thực hành nung chảy 294
15.5.2 Các loại chất nung chảy 294
Chương 16 Loại bỏ các tác dụng cản trở 296
16.1 Bản chất của quá trình tách 296
16.2 Tách bằng kết tủa 297
16.2.1 Tách dựa trên sự kiểm tra độ axit 297
16.2.2 Tách bằng sunfua 298
16.2.3 Tách bằng các chất kết tủa vô cơ khác 299
16.2.4 Tách bằng các chất kết tủa hữu cơ 299
16.2.5 Tách các chất tồn tại ở dạng lượng vết bằng kết tủa 299
16.3 Tách bằng chiết 300
16.3.1 Lý thuyết 300
16.3.2 Các loại quy trình chiết 304
16.4 Ứng dụng các quy trình chiết 306
16.4.1 Chiết tách các ion kim loại ở dạng chelat 306
16.4.2 Chiết các phức clorua kim loại 310
16.4.3 Chiết các muối nitrat 311
16.5 Tách bằng trao đổi ion 311
16.5.1 Tách những ion cản trở có điện tích trái dấu với ion cần phân tích 311
16.5.2 Làm giàu vết của chất điện li 311


7
16.5.3 Chuyển hóa muối thành axit hoặc bazơ 312
16.6 Tách các hợp chất vô cơ bằng chưng cất 312
Phụ lục 313
Tài liệu tham khảo 337






















8
Chương 1
Mở đầu
Hóa học phân tích là khoa học của những phương pháp phát hiện và xác định những
lượng tương đối của một hoặc một số cấu tử trong mẫu của chất nghiên cứu. Quá trình phát
hiện các chất gọi là phân tích định tính, quá trình xác định thành phần định lượng các chất gọi
là phân tích định lượng. Trong cuốn sách này, chúng tôi chủ yếu đề cập vấn đề thứ hai.
Những kết quả phân tích định lượng được diễn tả bằng những đại lượng tương đối như
phần trăm, phần nghìn, phần triệu hoặc phần tỷ chất cần xác định trong mẫu, lượng gam các
chất trong một mililit hoặc một lít dung dịch mẫu; lượng gam chất trong một tấn mẫu hoặc
mol phần của cấu tử cần xác định trong mẫu.
1.1 Lĩnh vực ứng dụng phân tích định lượng
Những kết quả phân tích hóa học có ý nghĩa thực tế lớn. Chúng tôi trích dẫn một số ví dụ
chỉ rõ, những phép đo định lượng ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của con người hiện
đại. Có những thông báo về phần trăm hàm lượng hiđrocacbon, oxit nitơ, cacbon oxit trong
khí thải ta có thể đánh giá chất lượng làm việc của các thiết bị trong ô tô. Xác định nồng độ
ion canxi trong huyết thanh máu là phương pháp quan trọng để chuẩn đoán bệnh bazơđô. Độ
dinh dưỡng của thực phẩm liên quan trực tiếp với hàm lượng nitơ của chúng. Phân tích định
lượng theo chu kỳ trong quá trình luyện thép cho phép thu được vật liệu có độ bền, độ rắn,
tính dễ rèn hoặc tính chống ăn mòn định trước. Sự phân tích liên tục các mecaptan trong
không khí bảo đảm phát hiện rò rỉ nguy hiểm trong hệ thống ống dẫn khí. Phân tích hàm
lượng nitơ, phốt pho, lưu huỳnh và độ ẩm của đất trong thời vụ phát triển và chín của cây
trồng tạo cho ta khả năng phân bố phân bón và kế hoạch hóa sự tưới ruộng với hiệu quả cao
nhất, đồng thời làm giảm đáng kể những chi phí cho phân bón, nước và làm tăng năng suất.
Ngoài ý nghĩa ứng dụng, những kết quả phân tích định lượng còn rất quan trọng trong các
lĩnh vực nghiên cứu hóa học, sinh hóa, sinh vật, địa chất và các khoa học khác. Chúng ta xem
xét một số ví dụ làm dẫn chứng: Khái niệm về cơ chế của phần lớn các phản ứng hóa học có
được từ những dữ kiện động học là nhờ các phép xác định định lượng các cấu tử trong phản
ứng. Người ta biết rằng, cơ chế chuyển các xung động thần kinh ở động vật và sự co lại hoặc
làm yếu đi các cơ do sự chuyển ion natri và kali qua màng quyết định. Hiện tượng này được
phát hiện nhờ các phép đo nồng độ các ion này ở cả hai phía của màng. Sự nghiên cứu tính
chất của các chất bán dẫn đòi hỏi phải phát triển những phương pháp định lượng các tạp chất
trong silic và gecmani tinh khiết trong khoảng 10
–6
– 10
–10
%. Trong một số trường hợp, phép
phân tích định lượng các lớp bề mặt của đất cho phép các nhà địa chất phát hiện những vỉa
quặng ở tương đối sâu. Phân tích định lượng những lượng rất nhỏ của các mẫu lấy từ các tác


9
phẩm nghệ thuật giúp các nhà sử học biết được nguyên liệu và kỹ thuật của những công trình
của những họa sỹ thời trước và cũng là phương pháp quan trọng để phát hiện sự giả mạo.
Thường khi nghiên cứu trong các lĩnh vực vừa hóa học, hoá sinh và cả trong một số mặt
của sinh học, phần lớn công việc trong phòng thí nghiệm là nhằm đạt tới những thông báo về
phân tích định lượng. Phân tích là một trong những phương tiện quan trọng của các nhà hóa
học. Do đó, hiểu bản chất phân tích định lượng, biết cách hoàn thành chính xác động tác phân
tích là những yêu cầu cần thiết cho công cuộc nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học. Có
thể so sánh ý nghĩa của hóa học phân tích đối với quá trình hình thành một nhà hóa học hoặc
một nhà sinh hóa với ý nghĩa của kỹ thuật tính và đại số tuyến tính đối với tất cả những ai
muốn có thành công trong lĩnh vực vật lý lý thuyết hoặc với ý nghĩa riêng của tiếng cổ Hy
Lạp và các ngôn ngữ cổ khác đối với nhà ngôn ngữ học.
1.2 Thực hành phân tích định lượng
Thường những kết quả phân tích định lượng bao gồm những dữ liệu của hai phép đo hoặc
đôi khi của hai dãy phép đo: lượng ban đầu của mẫu và lượng hợp phần cần xác định trong
mẫu. Ví dụ, có thể đo khối lượng, thể tích, cường độ sáng, độ hấp thụ ánh sáng, cường độ
phát huỳnh quang, điện lượng. Nhưng cũng cần phải nói rằng, những phép
đo đó chỉ là một
phần của phép định lượng thông thường. Hoàn toàn không kém phần quan trọng là những giai
đoạn chuẩn bị trước, những giai đoạn này nặng nhọc lâu dài hơn so với phép đo.
Những chương đầu của cuốn sách này chủ yếu đề cập tới các phép đo ở giai đoạn kết
thúc phép phân tích. Còn những vấn đề khác chỉ được đề cập tới một cách chi tiết ở cuối sách.
Do đó để hợp lý, ngay bây giờ cần hình dung toàn cảnh phép phân tích, tách ra từng giai đoạn
riêng biệt của quá trình phân tích và đánh giá ý nghĩa của chúng.
1.2.1 Chọn mẫu
Để thu được kết quả phân tích đúng đắn cần chọn mẫu có thành phần phản ánh đúng
thành phần toàn bộ chất cần phân tích. Nếu chất không đồng nhất và có khối lượng lớn, việc
chọn mẫu đại diện đòi hỏi nhiều sức lực. Chúng ta xét một trường hợp như vậy. Một công-
ten-nơ chứa 25 tấn quặng bạc. Người mua và người giao hàng cần đi dến thỏa thuận về giá trị
tương đối của mặt hàng đó, trước hết được xác định bởi hàm lượng bạc. Quặng không đồng
nhất và gồm những cục nhỏ kích thước khác nhau, hàm lượng bạc khác nhau. Thực tế thì kết
quả phân tích toàn bộ quặng có được là dựa trên cơ sở phân tích một khối lượng khoảng 1 g.
Thành phần của nó phải đại diện cho thành phần của 25 tấn quặng hoặc là khoảng 22.700.000
g quặng hàng hóa. Rõ ràng là, việc lựa chọn mẫu nhỏ như thế không thể là một động tác đơn
giản, một giai đoạn. Nói một cách ngắn gọn, để chọn mẫu khối lượng 1 g và đủ tin cậy là
thành phần của nó đại diện cho 23.000.000 g nguyên liệu từ đó nó được lấy ra, đòi hỏi phải xử
lý sơ bộ toàn bộ nguyên liệu.
Thường việc chọn mẫu không phức tạp như nói ở trên. Hơn nữa, nhà hóa học không thể
bắt đầu phân tích khi mà chưa có trong tay một phần mẫu phản ánh đúng thành phần toàn bộ
nguyên liệu.


10
1.2.2 Chuẩn bị mẫu để phân tích
Đối với nguyên liệu rắn thường cần phải nghiền và trộn để đảm bảo độ đồng nhất của
mẫu. Đôi khi cần phải loại trừ độ ẩm hấp phụ khỏi mẫu rắn. Sự hấp phụ hoặc mất nước dẫn
tới sự phụ thuộc thành phần phần trăm của chất vào độ ẩm trong thời gian phân tích. Để tránh
sai số liên quan đến sự dao động của độ ẩm, người ta chấp nhận phân tích mẫu sấy khô.
1.2.3 Đo mẫu
Kết quả phân tích định lượng thường được diễn tả bằng đơn vị tương đối, nghĩa là lượng
hợp phần cần xác định trong một đơn vị khối lượng hoặc thể tích mẫu. Do đó, khối lượng
hoặc thể tích của mẫu cần phải biết trước khi phân tích.
1.2.4 Hòa tan mẫu
Thường phép phân tích được tiến hành trong dung dịch mẫu. Trong trường hợp lý tưởng,
dung môi cần phải hoà tan hoàn toàn mẫu ban đầu (chứ không phải chỉ hợp phần cần xác
định) nhanh và đủ êm dịu để không xảy ra sự mất mát chất cần xác định. Đáng tiếc là đối với
nhiều hoặc chính xác hơn là đối với phần lớn các nguyên liệu không có những dung môi như
vậy. Thường những nhà hóa phân tích phải làm việc với những chất khó chế hóa như quặng,
các chất cao phân tử, các tế bào sống. Chuyển hợp phần cần xác định của những nguyên liệu
như vậy vào trạng thái hòa tan thường là công việc phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian.
1.2.5 Tách hỗn hợp cản trở
Chỉ có rất ít những tính chất hóa học và vật lý quan trọng được sử dụng làm đặc trưng
trong hóa học phân tích cho một chất. Ngược lại, những phản ứng được sử dụng và những
tính chất của các chất lại đặc trưng đối với cả loạt các nguyên tố hoặc hợp chất. Sự thật là,
không có những phản ứng và tính chất đặc biệt. Sự thực đ
ó đặt các nhà hóa phân tích trước
một khó khăn mới: Phải nghiên cứu những sơ đồ phân tích để tách hợp phần cần quan tâm
khỏi các chất lạ có trong nguyên liệu thử và có thể ảnh hưởng đến kết quả phép đo cuối cùng.
Những hợp chất hoặc những nguyên tố ảnh hưởng đến phép đo trực tiếp cần xác định gọi là
chất cản trở. Tách các chất cản trở tr
ước phép đo là giai đoạn quan trọng trong phần lớn các
phép phân tích. Không thể chọn một phương pháp tổng quát, cứng nhắc nào đó để loại bỏ hỗn
hợp cản trở và chính vì thế nhiệm vụ này là rất quan trọng trong hóa phân tích.
1.2.6 Giai đoạn kết thúc phép phân tích
Tất cả những giai đoạn chuẩn bị phân tích cần phải đảm bảo để thu được kết quả tin cậy
khi đo ở giai đoạn cuối cùng.
Trong các chương tiếp theo sẽ nói tới các loại phép đo ở giai đoạn kết thúc và bàn luận về
những cơ sở hóa học của những phương pháp đó.


11
1.2.7 Chọn phương pháp phân tích
Theo các nhà hóa học hoặc các nhà bác học quan tâm đến những dữ kiện phân tích, có cả
loạt phương pháp để thu được kết quả mong muốn. Cơ sở để chọn phương pháp là các chỉ tiêu
như tốc độ, sự thuận lợi, độ chính xác, sự hiện có những thiết bị thích hợp, số mẫu phân tích,
lượng mẫu, hàm lượng hợp phần cần xác định. Phân tích thành công hoặc không thành công
là tùy thuộc vào việc lựa chọn phương pháp. Đáng tiếc là không có một phương pháp chung
tổng quát. Để lựa chọn phương pháp đúng cần phải có suy nghĩ minh mẫn và trực giác mà
điều ấy chỉ có được thông qua thực nghiệm.





















12
Chương 2
Đánh giá độ tin cậy của những số liệu phân tích
Mỗi phép đo đều có sai số, xác định giá trị sai số này thường phức tạp, đòi hỏi nhiều nỗ
lực, sáng tạo và cả trực giác. Những kết quả phân tích được hoàn thành với độ tin cậy chưa
biết sẽ không có giá trị khoa học. Ngược lại, những kết quả phân tích không chính xác cũng
có thể rất quan trọng nếu có thể xác định được giới hạn sai số với độ tin cậy cao.
Không có một phương pháp tổng quát, đơn giản và chính xác nào để đánh giá, cho dù chỉ
là định tính, những kết quả thực nghiệm. Vì vậy, xử lý kết quả thường là một nhiệm vụ không
kém phần phức tạp so với việc thu được những kết quả đó. Công việc đó bao gồm nghiên cứu
tài liệu, chuẩn hoá thiết bị, những thực nghiệm phụ được tiến hành một cách đặc biệt để tìm
những nguyên nhân của những sai số có thể có và phân tích thống kê những dữ kiện thu được.
Muốn tăng độ nhạy lên mười lần có thể phải thêm một công tác phụ trong nhiều giờ,
nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần. Do đó, cần phải xác định yêu cầu về độ tin cậy cho mỗi kết
quả phân tích, không nên tiêu phí nhiều thời gian để đạt độ nhạy cao cho những công việc
không cần độ nhạy đó.
Trong chương này sẽ đề cập đến những loại sai số nảy sinh khi thực hành phân tích,
phương pháp phát hiện, phương pháp đánh giá và cách biểu diễn giá trị đó.
2.1 Một số định nghĩa
Thông thường, nhà phân tích phải lặp lại phép phân tích mẫu từ hai đến năm lần. Những
kết quả riêng biệt trong dãy đo song song đó ít khi phù hợp với nhau nên cần phải chọn giá trị
trung tâm “tốt nhất”

của dãy. Sự cần thiết của những phép đo song song là do hai nguyên
nhân. Một là, giá trị trung tâm được lựa chọn đáng tin cậy hơn so với mỗi kết quả riêng biệt
khác. Hai là, sự khác nhau về giá trị của những kết quả riêng biệt khác đủ đảm bảo cho sự
đánh giá định tính về độ tin cậy của giá trị “tốt nhất” đã được lựa chọn.
Có thể dùng một trong hai điểm xuất phát từ hai đại lượng, trung bình và trung vị làm
điểm trung tâm của dãy.
2.1.1 Trung bình và trung vị
Trung bình, trung bình cộng và trung bình mẫu,
x
, là những từ đồng nghĩa và là thương
số của phép chia tổng kết quả của những phép đo riêng biệt cho số lần đo mẫu.


13
Trung vị của dãy là kết quả ở giữa, có số kết quả có giá trị lớn hơn và số kết quả có giá trị
nhỏ thua bằng nhau. Nếu mẫu có số phép đo không chẵn, có thể lấy điểm trung tâm là trung vị
còn đối với mẫu có số phép đo chẵn, có thể lấy trung bình của cặp phép đo trung tâm làm
trung vị.
Ví dụ, hãy tính trung bình và trung vị của dãy số: 10,06; 10,20; 10,08; 10,10.
Trung bình
10,06 +10,20 +10,08 +10,10
=x= =10,11
4

Vì mẫu có số phép đo chẵn nên trung vị là trung bình của cặp số trung tâm:
Trung vị
10,08 +10,10
=x= =10,09
2

Trong trường hợp lý tưởng, trung vị và trung bình phải trùng nhau nhưng thường điều đó
không xảy ra, đặc biệt là nếu số lần đo không lớn.
2.1.2 Độ lặp lại
Thuật ngữ độ lặp lại được dùng để đánh giá định lượng sự tản mạn của kết quả. Đại
lượng này đặc trưng cho sự gần nhau theo giá trị tuyệt đối của hai hoặc một số phép đo lớn
hơn được thực hiện trong cùng điều kiện. Độ lặp lại được diễn tả bằng một số cách:
Các cách biểu diễn độ lặp lại tuyệt đối: cách diễn tả độ lặp lại đơn giản nhất là bằng độ
lệch khỏi giá trị trung bình x
i

x
, không kể dấu. Để minh họa, chúng tôi dẫn ra những kết
quả phân tích clorua của một mẫu ở bảng 2.1 dưới đây.
Bảng 2.1. Kết quả phân tích clorua một mẫu
Thông số
đo mẫu
Các
kết quả
[%]
Độ lệch khỏi giá trị trung bình
xx−

Độ lệch khỏi trung vị
x
1

x
2

x
3


24,39
24,19
24,36
3 [72,94]
0,077
0,123
0,047
3 [0,247]
0,03
0,17
0,00
3 [0,20]
x
= 24,313 = 24,31
Độ lệch trung bình khỏi giá trị
trung bình 0,082 ≈ 0,08
Độ lệch trung bình
khỏi trung vị 0,067 ≈
0,07
ω = x
max
– x
min
= 24,39 – 24,19 =0,20.


14
Giá trị trung bình của các kết quả là 24,31%; độ lệch của kết quả thứ hai khỏi
giá trị trung bình là 0,12%; độ lệch trung bình của các kết quả khỏi giá trị trung bình là
0,08%. Phép tính độ lệch trung bình được tiến hành đến chữ số thứ ba sau dấu phẩy mặc dù
mỗi kết quả thu dược chỉ với độ chính xác đến chữ số thứ hai sau dấu phẩy. Sự làm tròn giá
trị trung bình và độ lệch trung bình đến lượng con số hợp lý sau dấu phẩy được thực hiện sau
khi phép tính đã kết thúc. Biện pháp đó cho phép làm giảm sai số khi làm tròn.
Cũng có thể diễn tả độ lặp lại bằng độ lệch khỏi trung vị, 24,36% (xem bảng trên). Số đo
độ lặp lại cũng chính là biên độ biến đổi hoặc biên độ dãy số liệu, ω, nghĩa là hiệu số giữa kết
quả lớn và nhỏ nhất (0,20%).
Độ lệch tiêu chuẩn và độ phân tán được dùng làm hai tiêu chuẩn cho độ lặp lại. Cách xác
định các đại lượng này sẽ được đề cập đến trong các mục tiếp theo của chương này.
Độ lặp lại tương đối
Ngoài độ lặp lại tuyệt đối, để thuận tiện hơn, người ta còn đề nghị khái niệm độ lặp lại
tương đối theo số trung bình hoặc theo trung vị, biểu diễn bằng phần trăm. Ví dụ, đối với
phép đo x
3
:
Độ lệch tương đối khỏi giá trị trung bình
×

0,08 100
= = 0,32 0,3%
24,31

Độ lệch trung bình tương đối khỏi trung vị
×
0,067 100
= = 0,3%
24,36

2.1.3 Độ đúng
Độ đúng biểu thị sự gần đúng của giá trị thu được với giá trị được chấp nhận là thật. Độ
đúng thường được diễn tả bằng sai số tuyệt đối và có thể định nghĩa sai số này như sau: E = x
i
– x
t
.
Sai số tuyệt đối E là hiệu số giữa giá trị quan sát được, x
i
và x
t
là giá trị được chấp nhận là
thật. Giá trị được chấp nhận là thật cũng có thể không đáng tin cậy. Do đó việc đánh giá sai số
thực sự của phép đo thường là công việc khá khó khăn.
Trở lại ví dụ đã dẫn ra trên đây, chúng ta giả thiết rằng, kết quả thật của mẫu là 24,36%.
Khi đó sai số tuyệt đối của số trung bình sẽ là:
24,31% – 24,36% = –0,05%.
Trong những trườ
ng hợp như thế này người ta thường đặt dấu cho sai số để chỉ rõ kết quả
được nâng cao lên hay bị hạ thấp xuống.
Thường đại lượng có lợi hơn, không phải là sai số tuyệt đối mà là sai số tương đối, biểu
diễn độ lệch khỏi giá trị thật bằng phần trăm. Đối với phép phân tích đã xét trên:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét