Đội ngũ cán bộ làm công tác DS-SKSS các cấp hàng năm được tập huấn, bồi
dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; trách nhiệm, tâm huyết với công việc được
giao. Ban chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ các cấp luôn được kiện toàn, phát
huy tốt vai trò phối hợp chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả công tác DS-SKSS.
Hệ thống thông tin dữ liệu dân số toàn tỉnh được duy trì và đảm bảo
cập nhật thường xuyên; chế độ báo cáo thống kê theo quy định giúp cho việc
chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền.
Công tác nghiên cứu khoa học được coi trọng đúng mức, tập trung vào
các lĩnh vực liên quan đến Dân số/ SKSS/KHHGĐ, tìm ra nguyên nhân và có
những giải pháp phù hợp để thực hiện chương trình có hiệu quả.
2.7. Lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
Để thực hiện các mục tiêu Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn
2001- 2010, tỉnh Lạng Sơn đã đưa các mục tiêu về giảm sinh, tỷ lệ phát triển
dân số vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, XIV và kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm, 10 năm. Tỉnh đã ban hành các
văn bản để thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam (nêu tại mục 2.3) được các
cấp, các ngành quán triệt, triển khai đạt kết quả.
Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá được tăng cường theo định kỳ
hàng năm hoặc chuyên đề, do đó đã kịp thời có các biện pháp lãnh đạo, chỉ
đạo để nâng cao hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho công tác DS, SKSS.
II. NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP
1- Tỷ lệ giảm sinh chưa vững chắc, có sự khác biệt giữa các vùng. Tỷ
lệ sinh con thứ 3 trở lên có giảm nhưng không thật sự ổn định. Tỷ số giới tính
khi sinh có chiều hướng gia tăng. Quy mô dân số ổn định nhưng phân bố dân
cư chưa hợp lý.
2- Chất lượng dân số chậm được cải thiện. Tỷ lệ người lao động đã qua
đào tạo thấp, năng suất lao động không cao. Tình trạng tảo hôn chưa giảm ở
nông thôn, vùng sâu, vùng khó khăn.
3- Nhiều vấn đề về chăm sóc SKSS chưa được giải quyết tốt. Chất
lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ còn hạn chế, đặc biệt ở vùng sâu,
vùng xa; việc điều phối cung ứng phương tiện tránh thai (PTTT) chưa linh
hoạt, chưa chủ động được nguồn cung cấp. Chương trình tiếp thị xã hội PTTT
chưa được áp dụng. Việc đáp ứng nhu cầu thông tin, kiến thức, dịch vụ về
SKSS, sức khoẻ tình dục cho các nhóm dân số đặc thù như người dân tộc
thiểu số, người chưa thành niên, thanh niên, nam giới, người di cư, người
khuyết tật, người có HIV còn rất hạn chế
4- Nội dung, hình thức truyền thông chưa thật phù hợp đối tượng và đặc
điểm từng vùng; Việc phối hợp giữa truyền thông và cung cấp dịch vụ DS và
SKSS vẫn còn những điểm yếu kém, đặc biệt ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
5
5- Thông tin, số liệu, nghiên cứu khoa học, phân tích, dự báo các vấn
đề về DS và SKSS chưa đáp ứng nhu cầu quản lý, xây dựng kế hoạch, chính
sách và công tác điều hành. Việc lồng ghép các biến dân số vào công tác quy
hoạch, kế hoạch phát triển chưa trở thành quy trình bắt buộc đối với các
ngành, các địa phương.
III. NGUYÊN NHÂN
1. Nguyên nhân đạt được
- Các mục tiêu, giải pháp được xác định đúng đắn, phù hợp tình hình
thực tế của địa phương và được đưa vào chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
hàng năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức triển khai thực hiện; đồng
thời phù hợp với nguyện vọng, đem lại lợi ích kinh tế, tinh thần, sức khoẻ cho
nhân dân nên được nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện.
- Công tác DS-SKSS được Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân
dân luôn quan tâm trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo; Nâng cao vai trò và trách
nhiệm gương mẫu của đảng viên, cán bộ trong thực hiện chính sách DS-
KHHGĐ.
- Sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ của các Ban, ngành, đoàn thể, các tổ
chức xã hội trong quá trình triển khai thực hiện chương trình DS-SKSS.
- Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác DS-SKSS từ tỉnh đến cơ sở tâm
huyết, nhiệt tình, trách nhiệm đã tham mưu tích cực cho lãnh đạo Đảng, chính
quyền các cấp tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình.
Có thể khẳng định sự thành công của công tác DS-SKSS đã góp phần
đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, xóa đói giảm nghèo
và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
2. Nguyên nhân chưa đạt
- Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền ở cơ sở chưa nhận thức đầy đủ tính
chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác DS-SKSS, có nơi còn chủ
quan, thoả mãn với kết quả đạt được, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu
quan tâm nên mức giảm sinh chưa thực sự bền vững, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở
lên giảm chưa nhiều. Việc xã hội hoá công tác DS-SKSS chưa được quan tâm
và đẩy mạnh.
- Số lượng phụ nữ bước vào độ tuổi 15-49 lớn, là áp lực không nhỏ đối
với vấn đề gia tăng dân số, thêm vào đó là yếu tố dân trí, tâm lý, tập quán và
tư tưởng phong kiến về việc kết hôn, sinh con của người dân muốn có đông
con, có con trai còn nặng nề. Hiện tượng một số ít cán bộ, đảng viên sinh con
thứ 3 đã ảnh hưởng không tốt đến quần chúng nhân dân trong việc chấp hành
thực hiện chính sách dân số.
- Chính sách DS-SKSS còn chậm thay đổi; Việc ban hành thực hiện thu
viện phí đối với các đối tượng thực hiện dịch vụ kỹ thuật KHHGĐ hiện nay là
không phù hợp gây không ít khó khăn trong thực hiện chỉ tiêu kế hoạch.
6
- Nguồn lực đầu tư (Kinh phí, phương tiện) còn thiếu, một số giải pháp
chưa được đầu tư tương xứng và đáp ứng đủ với mục tiêu kế hoạch đề ra.
- Tổ chức bộ máy thường xuyên thay đổi không ổn định; Biên chế cán bộ
làm công tác Dân số-SKSS từ tỉnh đến cơ sở còn thiếu chưa đáp ứng được chức
năng, nhiệm vụ hiện nay; chất lượng và năng lực cán bộ còn bất cập và hạn chế.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ
VÀ SỨC KHỎE SINH SẢN VIỆT NAM CỦA TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2011 – 2015
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT
1. Cơ sở pháp lý
- Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình;
- Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 22/3/2005 của của Bộ Chính trị về công
tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới;
- Kết luận số 44-KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về kết quả 3
năm thực hiện Nghị quyết 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị (Khóa
IX) về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình”;
- Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 18/8/2010 của Chính phủ về ban hành
Kế hoạch hành động của Chính phủ giai đoạn 2011-2015 thực hiện kết luận
số 44- KL/TW ngày 01/4/2009 của Bộ Chính trị về kết quả 3 năm thực hiện
Nghị quyết 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình”;
- Quyết định số 2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Chiến lược Dân số- Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020;
- Chỉ thị số 47-CT/TU ngày 25/5/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lạng
Sơn về “tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình”;
- Quyết định số 02/2008/QĐ-UBND ngày 11/01/2008 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số
47-NQ/TW, ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình”;
- Nghị quyết số 08/2008/NQ-HĐND ngày 21/7/2008 của HĐND tỉnh "Về
một số chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình áp dụng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
- Quyết định 21/2008/QĐ-UBND ngày 29/8/2008 của Uỷ ban nhân dân
tỉnh Lạng Sơn Ban hành Quy định về một số chính sách dân số và kế hoạch
hoá gia đình áp dụng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
2. Những vấn đề cần giải quyết trong giai đoạn 2011-2015
2.1. Quy mô dân số và mức sinh:
7
Tỉnh Lạng Sơn đã đạt mức sinh thay thế nếu tiếp tục thực hiện mục tiêu
giảm sinh như trước đây sẽ có khả năng làm cho mức sinh giảm xuống quá
thấp; tuy nhiên dân số tỉnh vẫn đang trong giai đoạn nhạy cảm với các yếu tố
tác động, chưa loại trừ được khả năng mức sinh tăng trở lại; bên cạnh đó Lạng
Sơn còn đối diện với nguy cơ quy mô dân số không ổn định có thể sụt giảm
do ảnh hưởng của di dân tự do đi tìm việc làm hoặc tăng nhanh do không có
việc làm phải quay trở lại địa phương.
2.2. Cơ cấu dân số:
Dân số trong độ tuổi lao động (15-59 tuổi) tăng nhanh là cơ hội tốt cho
phát triển, song cũng tạo ra thách thức về giáo dục, đào tạo nghề, giải quyết
việc làm cho người lao động, đặt biệt là thanh niên.
Di cư diễn ra với sự dịch chuyển lao động từ nông thôn ra thành phố,
và từ địa phương khác nhập cư vào, đòi hỏi phải tăng cường và đổi mới
phương thức quản lý dân số, đáp ứng nhu cầu xã hội cơ bản cho người nhập
cư.
Dân số Lạng Sơn đang trong quá trình già hóa chung của cả nước, số
lượng người cao tuổi ngày càng tăng, cùng với bối cảnh mức sinh thấp, quy
mô gia đình nhỏ, nhu cầu đảm bảo an sinh xã hội đòi hỏi phải có các loại hình
chăm sóc nói riêng cho nhóm dân số này ngày càng bức thiết.
Tỷ số giới tính khi sinh tăng nhanh và liên tục, nếu không có giải pháp
tích cực, thì tỷ số này không thể giảm ở mức 110 vào năm 2020. Tình trạng
này sẽ tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội, gây khó khăn trong việc xây
dựng gia đình của các thế hệ tương lai.
Để tránh những biến động bất lợi cho việc ổn định quy mô dân số ở
mức phù hợp, để có được cơ cấu dân số hợp lý, kéo dài thời gian của cơ cấu
“dân số vàng”, đòi hỏi phải duy trì mức sinh thấp, hợp lý và cần có chính sách
linh hoạt, thích hợp với những diễn biến của mức sinh và vấn đề di dân tự do.
2.3. Chất lượng dân số:
Chất lượng dân số của tỉnh tuy từng bước đã được cải thiện, nhưng vẫn
ở mức thấp, sức khỏe và thể lực của người dân còn hạn chế so với mức chung
của cả nước, đặc biệt là chiều cao, cân nặng, sức bền. Cơ cấu bệnh tật ngày
càng có diễn biến phức tạp, vấn đề lạm dụng và sử dụng các chất gây nghiện,
căng thẳng về tâm lý, tự ý gây thương tích, vi phạm pháp luật ngày càng trở
nên nghiêm trọng đối với một bộ phận giới trẻ.
Vẫn còn một số nơi xảy ra tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống;
kiến thức và kỹ năng về SKSS/KHHGĐ còn nhiều hạn chế.
2.4. Sức khỏe sinh sản- kế hoạch hoá gia đình:
Tình trạng sức khỏe bà mẹ còn nhiều vấn đề thách thức, còn có sự khác
biệt giữa các địa phương; mức độ thụ hưởng các dịch vụ KHHGĐ và chăm
sóc SKSS còn hạn chế nhất là ở những vùng sâu, xa. Tình trạng nạo, phá thai
8
(bao gồm cả vị thành niên và thanh niên) chưa giảm, phá thai không an toàn
vẫn còn xảy ra.
Tình trạng nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường
tình dục- HIV và ung thư đường sinh sản chưa được quan tâm đúng mức,
thiếu sự tham gia của cộng đồng. SKSS, sức khỏe tình dục ở các nhóm đối
tượng đặc thù còn nhiều thách thức.
Kiến thức, thái độ và hành vi về DS, SKSS, sức khỏe tình dục trong
cộng đồng và của ngay bản thân cán bộ y tế còn rất hạn chế; dịch vụ chăm sóc
SKSS nam giới, người cao tuổi chưa sẵn có, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày
càng cao của cuộc sống. Tình dục được coi là vấn đề tế nhị, nhạy cảm, rất ít
được thảo luận trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các chương
trình nghị sự; nhận thức về giới trong cộng đồng còn rất hạn chế.
Cung ứng các PTTT gặp khó khăn do không còn bao cấp trong những
năm tới; số phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ vẫn tiếp tục gia tăng đều hàng
năm, nhu cầu sử dụng các BPTT hiện đại sẽ tiếp tục tăng và luôn giữ ở mức
cao; vấn đề tiếp thị và cung cấp các PTTT cũng là một thách thức trong công
tác DS- KHHGĐ.
2.5. Năng lực kế hoạch hóa, lồng ghép biến dân số
Dân số và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ, việc lồng ghép các biến
dân số vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là yêu cầu khách quan. Tuy
nhiên, việc lồng ghép vào kế hoạch của các sở, ngành, địa phương chưa thật
sự chặt chẽ và quan tâm đúng mức, điều này dẫn đến tình trạng vừa lãng phí,
vừa thiếu hụt trong đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội.
Căn cứ vào bối cảnh nêu trên, định hướng phát triển kinh tế - xã hội,
thực trạng và thách thức của vấn đề DS và SKSS đối với sự phát triển bền
vững của tỉnh, đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc thực hiện các chiến
lược thuộc lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, đào
tạo nghề và giải quyết việc làm, an sinh xã hội…Kế hoạch hành động của tỉnh
Lạng Sơn thực hiện Chiến lược DS và SKSS giai đoạn 2011 – 2020 sẽ giải
quyết những vấn đề sau:
+ Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn đầu đời, tạo cơ sở nâng cao
chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần.
+ Duy trì mức sinh thấp, hợp lý để sớm ổn định quy mô dân số, giải
quyết tốt một số vấn đề cấp bách về cơ cấu dân số.
+ Cải thiện sức khỏe bà mẹ trẻ em, sức khỏe sinh sản, đặc biệt là ở
vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.
II. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao chất lượng dân số và chỉ số phát triển con người của tỉnh; cải
thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt
9
những vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
đáp ứng nhu cầu đổi mới của tỉnh.
2. Mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể: (Chi tiết tại phụ lục 1)
Mục tiêu 1: Phấn đấu tốc độ tăng dân số và quy mô dân số ổn định.
Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình chung của cả nước; Duy
trì mức sinh hợp lý.
Chỉ tiêu 1: Tốc độ tăng dân số ổn định ở mức 0,82% để dân số trung
bình đạt 768.700 người vào năm 2015.
Chỉ tiêu 2: Duy trì mức sinh hợp lý. Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình
của một cặp vợ chồng) ở mức 1,9 con vào năm 2015.
Chỉ tiêu 3: Tỷ suất sinh ở mức 17‰ vào năm 2015.
Mục tiêu 2: Giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, tiến tới
đưa tỷ số này trở lại mức 105-106 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm
2030. Can thiệp giảm thiểu tảo hôn và kết hôn cận huyết thống
Chỉ tiêu 1: Tỷ số giới tính khi sinh ở mức 124 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ
sinh gái vào năm 2015 và 110 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái vào năm
2020.
Chỉ tiêu 2: Giảm thiểu tảo hôn và kết hôn cận huyết thống 5%/năm, ở
những địa bàn đang triển khai mô hình.
Mục tiêu 3: Tăng cường tiếp cận các dịch vụ có chất lượng về chăm
sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em trước, trong và sau sinh.
Chỉ tiêu 1: Tỷ số tử vong mẹ là 64/100.000 sơ sinh sống vào năm 2015.
Chỉ tiêu 2: Đến năm 2015, tỷ lệ phụ nữ đẻ được quản lý thai là 94%; tỷ
lệ phụ nữ đẻ được khám thai ít nhất 3 lần trong 3 thời kỳ là 80%; tỷ lệ phụ nữ
có thai được tiêm phòng uốn ván đủ mũi là 97,5%; tỷ lệ phụ nữ đẻ tại cơ sở y
tế 96%; tỷ lệ phụ nữ đẻ được nhân viên y tế đã qua đào tạo đỡ là 99%.
Chỉ tiêu 3: Đến năm 2015, tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc
trong 42 ngày đầu sau đẻ đạt 80%; Tỷ số phá thai/tổng số trẻ đẻ sống là
0,27%.
Mục tiêu 4: Tăng cường tiếp cận các dịch vụ có chất lượng về chăm
sóc SKSS
Chỉ tiêu 1: Đến năm 2015, giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi/1000 sơ
sinh sống là 14%o; tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi/1000 trẻ đẻ sống là 22%o.
Chỉ tiêu 2: Đến năm 2015, giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh <2500g còn 5%; tỷ lệ
trẻ sơ sinh được chăm sóc tại nhà trong tuần đầu đạt 70%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh
được tiêm/uống vitamin K1 ngay sau đẻ đạt 85%; tỷ lệ trẻ được bú mẹ trong
giờ đầu sau đẻ đạt 75%.
10
Mục tiêu 5: Giảm nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây
truyền qua đường tình dục; chủ động phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm
ung thư đường sinh sản, chú trọng sàng lọc ung thư đường sinh sản ở phụ nữ
trong độ tuổi 30 – 54 tuổi.
Chỉ tiêu 1: Giảm tỷ lệ số trường hợp nhiễm khuẩn đường sinh sản là
15%; giảm tỷ lệ số trường hợp nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục là
15% vào năm 2015.
Chỉ tiêu 2: Đến năm 2015, tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi 30 -54 được sàng lọc
ung thư cổ tử cung là 15%.
Mục tiêu 6: Cải thiện SKSS của người chưa thành niên và thanh niên.
Chỉ tiêu: Tăng tỷ lệ điểm cung cấp dịch vụ CSSK thân thiện với người
chưa thành niên và thanh niên đạt 50%, tỷ lệ cơ sở chăm sóc SKSS thực hiện
công tác tư vấn về SKSS vị thành niên đạt 100%.
Mục tiêu 7: Đáp ứng đầy đủ nhu cầu dịch vụ KHHGĐ, đa dạng hoá
các BPTT, mở rộng kênh tiếp thị xã hội PTTT.
Chỉ tiêu: Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng các BPTT hiện đại tăng từ
73,49 % năm 2011 lên 75,5% vào năm 2015.
Mục tiêu 8: Cải thiện sức khoẻ sinh sản cho các nhóm dân số đặc thù.
- Chỉ tiêu 1: Đến năm 2015, tổ chức từ 5 - 7 điểm cung cấp dịch vụ
chăm sóc SKSS cho người cao tuổi; từ 3 - 5 điểm cung cấp dịch vụ tư vấn
SKSS nam học.
- Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ người cao tuổi được tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS
đến 2015 từ 15% trở lên.
Mục tiêu 9: Tăng cường chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.
Chỉ tiêu 1: Tăng tỷ lệ cơ sở y tế tuyến huyện trở lên có điểm cung cấp
dịch vụ Chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi đến năm 2015 từ 20% trở lên.
Chỉ tiêu 2: Tăng tỷ lệ người cao tuổi được tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khỏe dựa vào cộng đồng đến 2015 từ 20% trở lên.
Mục tiêu 10: Lồng ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính
sách, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, các
ngành. Thúc đẩy phân bố dân số phù hợp với định hướng phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh.
Chỉ tiêu 1: Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn quốc gia) từ 24,06% năm
2011 xuống 13,34% năm 2015. Tỷ lệ người lao động được đào tạo tăng từ
35% năm 2011 lên 42% năm 2015.
Chỉ tiêu 2: Năm 2015, tỷ lệ trẻ em đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học
99,7%; cấp trung học cơ sở 99,8%.
11
Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá từ 57%
năm 2011 lên 61% năm 2015; tỷ lệ thôn, bản khối phố đạt tiêu chuẩn văn hoá
từ 30,7% năm 2011 lên 50% năm 2015.
Chỉ tiêu 4: GDP bình quân đầu người từ 20,000 triệu đồng năm 2011
lên 33,306 triệu đồng năm 2015.
III. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
Thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó lãnh đạo, tổ chức và quản lý
là giải pháp tiên quyết. Truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi và cung cấp
dịch vụ DS, chăm sóc SKSS là giải pháp cơ bản. Các giải pháp điều kiện
gồm: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về DS-SKSS; xã hội hóa,
phối hợp liên ngành, hợp tác quốc tế; tài chính, hậu cần; đào tạo, nghiên cứu
khoa học và thông tin tư liệu.
1. Lãnh đạo, tổ chức và quản lý
1.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp
- Thể chế hoá các mục tiêu về DS-SKSS vào Nghị quyết của Đảng và
chương trình phát triển kinh tế- xã hội của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các
ngành.
- Thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai lồng ghép công tác DS-
SKSS vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội; huy động sự tham gia của
toàn xã hội.
- Kết quả, hiệu quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về DS-SKSS là
chỉ tiêu để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cấp ủy Đảng, chính
quyền các ngành.
1.2. Củng cố và hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác DS-SKSS
Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp và đủ mạnh với tính chất
khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác quản lý nhà nước về DS-SKSS.
Coi trọng việc đào tạo, nâng cao chất lượng quản lý chuyên ngành về DS-
SKSS cho đội ngũ công chức, viên chức làm công tác này.
Duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên dân
số, nhân viên y tế thôn, bản trong việc tuyên truyền vận động, quản lý đối
tượng và cung cấp dịch vụ đến tận gia đình, có chế độ chính sách phù hợp cho
cán bộ cơ sở.
1.3. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công tác DS-SKSS
Tăng cường và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về DS và SKSS,
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chương trình, kế hoạch
phù hợp với thực tiễn của tỉnh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra giám
sát; thu thập và lập báo cáo đánh giá chính xác tình hình thực hiện công tác
DS và SKSS.
12
Kết hợp quản lý, tổ chức thực hiện công tác DS-SKSS theo chương
trình mục tiêu quốc gia và sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân; từng bước
hoàn thiện cơ chế quản lý trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm. Tăng tính chủ
động trong xây dựng, thực hiện kế hoạch phù hợp với đặc điểm, tình hình của
từng địa phương.
Nghiên cứu thử nghiệm, xây dựng và mở rộng các mô hình liên quan
đến lĩnh vực DS và SKSS. Sơ kết, tổng kết và đánh giá các hoạt động của các
mô hình, chương trình, dự án.
2. Truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi
Triển khai có hiệu quả các hoạt động truyền thông, giáo dục với nội
dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng
nhằm hình thành nhận thức, thái độ hành vi đúng đắn, bền vững về DS-SKSS,
gồm:
- Thường xuyên cung cấp thông tin, tăng cường các cuộc tiếp xúc, trao
đổi trực tiếp các vấn đề về DS-SKSS, giới tính khi sinh đến các cấp ủy Đảng,
chính quyền, tổ chức chính trị xã hội và những người có uy tín trong cộng
đồng nhằm tạo sự ủng hộ, cam kết mạnh hơn đối với chương trình DS-SKSS.
- Tăng cường, đa dạng hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông
như phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về DS, SKSS, đặc biệt về mất
cân bằng giới tính khi sinh. Xác định các kênh truyền thông có hiệu quả, phù
hợp. Tập trung đào tạo kiến thức và kỹ năng truyền thông cho cán bộ truyền
thông các cấp, các ngành. Tăng số lượng và nâng cao chất lượng các chương
trình truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; phát huy hiệu quả
của truyền thông trực tiếp; phát triển mạnh các hoạt động truyền thông đa
phương tiện. Huy động các ban, ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân tham gia
công tác truyền thông, giáo dục về DS, SKSS.
Duy trì và đẩy mạnh các can thiệp truyền thông có hiệu quả, các mô
hình điểm và dịch vụ tư vấn trực tiếp, thân thiện cho các nhóm đối tượng đặc
thù. Cung cấp các trang thiết bị truyền thông phù hợp, tập trung ưu tiên trang
bị cho các xã nghèo, các xã vùng sâu.
- Mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục về DS/SKSS, bình đẳng
giới, mất cân bằng giới tính khi sinh và sức khỏe tình dục trong và ngoài nhà
trường. Tổ chức cung cấp thông tin và tư vấn các nội dung trên cho giáo viên
và các bậc phụ huynh. Cung cấp kiến thức, kỹ năng sống về DS và SKSS,
giới và bình đẳng giới, sức khỏe tình dục vào nội dung giảng dạy phù hợp với
các cấp học. Khuyến khích các hình thức giáo dục đồng đẳng và mở rộng các
hình thức tư vấn phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tuổi Các nội dung
giáo dục phải vừa đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, vừa phù hợp với định
hướng phát huy và giữ gìn bản sắc của dân tộc.
3. Cung cấp dịch vụ dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản
3.1. Dịch vụ dân số
13
- Tiếp tục củng cố, kiện toàn, mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ dân
số nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ phục vụ của cán bộ cung
cấp dịch vụ. Hỗ trợ và tạo điều kiện cho các cơ sở tư nhân, các tổ chức phi
chính phủ tham gia cung cấp dịch vụ dân số.
- Xây dựng và mở rộng một số mô hình nâng cao chất lượng dân số
như: sàng lọc trước sinh, sơ sinh. Triển khai dịch vụ tư vấn và kiểm tra sức
khỏe tiền hôn nhân.
- Tổ chức các đội lưu động, cung cấp dịch vụ dân số-KHHGĐ tại các
địa bàn tiến tới xóa bỏ cách biệt giữa các vùng, các nhóm dân cư. Tổ chức
cung cấp dịch vụ DS, SKSS cho người nhập cư tại các địa bàn cửa khẩu biên
giới, khu công nghiệp; các hình thức tư vấn và cung cấp dịch vụ thân thiện
cho vị thành niên, thanh niên.
- Đẩy mạnh tiếp thị xã hội các PTTT; thử nghiệm và triển khai mở rộng
tiếp thị xã hội về dịch vụ KHHGĐ cho các vùng có mức sinh thấp và thu nhập
cao hơn mặt bằng chung của tỉnh. Củng cố, nâng cấp hệ thống bảo quản, cung
cấp PTTT, vật tư, thuốc thiết yếu phục vụ các dịch vụ SKSS cấp tỉnh và
huyện.
3.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ SKSS
Thường xuyên cập nhật các quy định, quy trình kỹ thuật, tăng cường hỗ
trợ và giám sát đối với các dịch vụ DS-SKSS. Bổ sung nhân lực, nâng cao trình
độ chuyên môn, kỹ năng thực hành cho đội ngũ nhân viên y tế; nâng cấp cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị, dụng cụ ưu tiên tuyến cơ sở và khu vực khó khăn. Tăng
cường công tác tuyên truyền giáo dục, tư vấn và quản lý, giám sát.
- Cải tiến phương thức cung cấp dịch vụ theo hướng thân thiện, lấy
khách hàng làm trung tâm; ứng dụng các kết quả nghiên cứu, tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ vào cung cấp dịch vụ. Chú trọng cung cấp thông tin, tư
vấn tại cơ sở dịch vụ cho khách hàng, mở rộng các phương thức tư vấn mới
như tư vấn qua điện thoại, qua mạng internet.
- Mở rộng cung cấp các dịch vụ sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh và
tư vấn kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, lồng ghép các dịch vụ trên với các
hoạt động can thiệp giảm tảo hôn, kết hôn cận huyết thống nhằm tạo bước đột
phá trong hoạt động nâng cao chất lượng dân số; tiến tới mở rộng, đưa các
dịch vụ này trở thành hoạt động thường quy tại các cơ sở y tế.
- Giảm tỷ lệ phá thai, ngăn chặn tình trạng phá thai do lựa chọn giới tính
thai nhi, giảm thiểu mang thai ngoài ý muốn và thực hiện phá thai an toàn.
- Dự phòng và điều trị nhiểm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua
đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS với lồng ghép các dịch vụ chăm sóc
SKSS; huy động sự tham gia của các cơ sở y tế tư nhân, các ngành, các tổ
chức phi chính phủ tham gia cung cấp dịch vụ.
- Chăm sóc SKSS cho vị thành niên/ thanh niên; mở rộng mô hình cung
cấp dịch vụ; cung cấp đầy đủ các kỹ năng sống, phòng ngừa các bệnh nhiễm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét