Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh đối với sự nghiệp CHN, HĐH ở tỉnh Bắc ninh

Nh vậy, sự nghiệp CNH vừa là quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình
kinh tế - xã hội. Việc thực hiện thành công CNH sẽ xây dựng đợc một nền kinh
tế công nghiệp có trình độ phát triển cao, khoa học công nghệ tiên tiến, cơ cấu
kinh tế hợp lý. Điều đó dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội - dân c rất khác so
với nền kinh tế nông nghiệp. Đó là xuất hiện nhiều khu công nghiệp lớn, nhiều
thành phố lớn, ngời dân sống rất tập trung, trong đó dân c công nghiệp và lc
lng lao động trong công nghiệp chiếm đa số; có cơ cấu giai cấp rất khác so
với trớc; trình độ của ngời lao động cũng nh dân trí và chất lợng cuộc sống của
nhân dân nâng cao; làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của ngời dân.
Qua đó có thể hiểu khái quát CNH là quá trình xây dựng một nền công
nghiệp tiên tiến, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng và phát
triển đất nớc, nhằm chuyển một xã hội nông nghiệp với lao động thủ công là
chủ yếu sang một xã hội công nghiệp với lao động bằng máy móc với công
nghệ, phơng tiện và phơng pháp hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, tạo ra năng suất lao động và nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội cao.
CNH có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
- Đây là quá trình phát triển lực lợng sản xuất, tăng năng suất lao động,
nâng cao chất lợng sản phẩm, do đó làm tăng tính cạnh tranh của hàng hoá trên
thị trờng, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nớc đang phát triển
với các nớc phát triển.
- Làm củng cố và tăng cờng vai trò kinh tế của Nhà nớc, nâng cao khả năng
tích luỹ của nền kinh tế, từ đó thúc đẩy nhanh tăng trởng và phát triển kinh tế,
tạo công ăn việc làm, khuyến khích sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá
nhân.
- Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đủ
sức tham gia có hiệu quả vào sự phân công và hợp tác quốc tế.
-Tạo điều kiện vật chất cho việc tăng cờng củng cố an ninh quốc phòng.
Trong thời đại ngày nay, với sự bùng nổ của khoa học - công nghệ, các nớc
phát triển đã lợi dụng sự phát triển đó để phát triển kinh tế, tạo ra khoảng cách
5
ngày càng lớn với các nớc đang phát triển. Do vậy, khoảng cách đó, suy cho đến
cùng, đó là khoảng cách về phát triển khoa học - công nghệ. ở các nớc đang phát
triển, dờng nh để đạt tới trình độ hiện đại nhất ngày càng trở nên một thách thức
khó vợt qua. Điều đó buộc các nớc ĐPT phải thực hiện CNH gắn liền với HĐH
để tiến lên, rút ngắn khoảng cách với các nớc phát triển.
Điều đó đã khẳng định, các nớc đang phát triển phải đẩy nhanh quá trình
phát triển kinh tế mới rút ngắn đợc khoảng cách với các nớc phát triển, việc
CNH phải gắn liền với HĐH là tất yếu lịch sử. Xu thế kinh tế và chính trị thế
giới hiện nay đã tạo điều kiện các nớc đang phát triển thực hiện mục tiêu đó.
- Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kinh nghiệm về CNH của các nớc đi trớc và qua thực tiễn kiểm nghiệm,
kết hợp với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và quan hệ kinh tế quốc
tế ngày càng đợc mở rộng, quan niệm về CNH, HĐH đợc hiểu nh sau: CNH
chính là một cuộc cách mạng về lực lợng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ
thuật, công nghệ, sản xuất, tăng năng xuất lao động. HĐH là quá trình thờng
xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá
trình CNH. Trong thời đại ngày nay, CNH luôn gắn liền với HĐH.
CNH, HĐH là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền
kinh tế quốc dân, trớc hết là các ngành giữ vị trí quan trọng, biến một nớc có
nền kinh tế kém phát triển thành một nớc có nền kinh tế phát triển, thành một n-
ớc công nghiệp hiện đại.
ở Việt Nam, ng cộng sản Việt Nam cho rằng: "CNH, HĐH là quá trình
chuyển đổi cơ bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
qun lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện, phơng pháp tiên
tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao". Quan niệm này nói lên phạm vi và
vai trò đặc biệt quan trọng của CNH, HĐH trong phát triển kinh tế xã hội, gắn
liền đợc hai phạm trù, không thể tách rời là CNH và HĐH. Có thể thấy rằng,
6
quan niệm về CNH này phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và bối cảnh
thế giới ngày nay. Đó là nhấn mạnh hơn yếu tố khoa học - công nghệ bằng việc
gắn CNH với HĐH "để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công
nghiệp".
1.1.2. Tính tất yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nớc ta.
Xuất phát từ lý luận hình thái kinh tế xã hội cho thấy xã hội loài ngời
đã phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế xã hội nối tiếp nhau. C.Mác đã
đi đến khẳng định: Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá
trình lịch sử tự nhiên.
Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống, trong đó các mặt không
ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành các quy luật vận động, phát triển
khách quan của xã hội. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà
các hình thái kinh tế xã hội vận động phát triển từ thấp đến cao.
Từ đó cho thấy, tất cả các nớc để đi tới một hình thái kinh tế - xã hội phát
triển cao thì cũng đều xuất phát từ những nền kinh tế lạc hậu, thấp kém đi lên,
cũng lần lợt trải qua những hình thái kinh tế kế tiếp nhau từ thấp đến cao. Trong
đó, Việt Nam cũng nh tất cả các nớc, cũng từ một nền kinh tế lạc hậu đi lên.
Nớc ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế phổ biến sản xuất nhỏ,
lao động thủ công là phổ biến. Chính vì vậy, chúng ta phải tiến hành CNH,
HĐH. Trong thời đại ngày nay, CNH phải gắn liền với HĐH. CNH, HĐH ở nớc
ta là nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Đó là nhiệm
vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
Từ khi bớc vào thời kỳ đổi mới năm 1986 cùng với việc từng bớc phát triển
nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, giải phóng các lực lợng sản
xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nớc đã xác định ngày càng rõ quan điểm mới về
CNH, HĐH.
7
Quan điểm mới ấy là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài học
của mấy thập kỷ trớc đây kết hợp với sự nghiên cứu, học hỏi kiến thức và kinh
nghiệm của thế giới và thời đại.
Đảng và Nhà nớc đã vạch ra CNH, HĐH, không phải là hai quá trình tuy
có phần lồng vào nhau nhng về cơ bản vẫn tách biệt và nối tiếp nhau, mà là quá
trình thống nhất, có thể tóm tắt là công nghiệp hóa theo hớng hiện đại.
Nghị quyết hội nghị trung ơng 7 khóa VII của Đảng ta (1994) chỉ rõ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng
lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với cộng nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát
triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao.
Coi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nớc ta trong thời kỳ đổi
mới là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực đời
sống kinh tế - xã hội, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) khi
thông qua đờng lối đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta nhấn
mạnh: Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nớc ta thành
một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ câú kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân
giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Tại Đại hội này, Đảng ta
cũng xác định rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đa nớc ta cơ bản trở thành
một nớc công nghiệp. Điều này hứa hẹn mở ra những bớc đột phá trong nhiều
lĩnh vực kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
CNH phải gắn liền với HĐH. Sở dĩ nh vậy là vì trên thế giới đang diễn
ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, một số nớc phát triển đã bắt
đầu chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, nên phải tranh thủ ứng
8
dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, tiếp cận kinh
tế tri thức để hiện đại hóa những ngành, những khâu, những lĩnh vực có điều
kiện nhảy vọt.
CNH nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. CNH là tất yếu với
tất cả các nớc chậm phát triển nhng với mỗi nớc, mục tiêu và tính chất của công
nghiệp hóa có thể khác nhau. ở nớc ta, CNH nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội, tăng cờng sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
CNH trong điều kiện cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc. Điều này
làm cho công nghiệp hóa trong giai đoạn hiện nay khác với công nghiệp hóa
trong thời kỳ trớc đổi mới. Trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung -
hành chính, bao cấp, CNH đợc thực hiện theo kế hoạch, theo mệnh lệnh của Nhà
nớc. Trong cơ chế kinh tế hiện nay, Nhà nớc vẫn giữ vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình CNH . nhng CNH không xuất phát từ chủ quan của Nhà nớc, nó
đòi hỏi phải vận dụng các quy luật khách quan mà trớc hết là các quy luật thị tr-
ờng.
CNH,HĐH nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, vì thế
mở cửa nền kinh tế, phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế là tất yếu đối với nớc
ta.
Mục tiêu tổng quát của sự nghiệp CNH của nớc ta đợc Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định tại Đại hội lần thứ VIII và tiếp tục đợc khẳng định tại Đại
hội lần thứ IX, Đại hội X là: Đa nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm
2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại.
ở đây, nớc công nghiệp cần đợc hiểu là một nớc có nền kinh tế mà
trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh
vực của nền kinh tế. Tỷ trọng công nghiệp của nền kinh tế cả về GDP cả về lực
lợng lao động đều vợt trội hơn so với nông nghiệp.
Mỗi phơng thức sản xuất xã hội chỉ có thể đợc xác lập vững chắc trên
cơ sở vật chất - kỹ thuật tơng ứng. Cơ sớ vật chất - kỹ thuật của một xã hội là
9
toàn bộ hệ thống các yếu tố vật chất của lực lợng sản xuất xã hội phù hợp với
trình độ kỹ thuật tơng ứng mà lực lợng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra
của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nớc
ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ t bản chủ nghĩa,
là phải xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có
công nghiệp hóa và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến.
Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng nói trên, nhất thiết phải tiến
hành công nghiệp hóa, tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền
kinh tế công nghiệp.
Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nền kinh
tế tăng trởng và phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công
hữu xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuất. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên tiến của
khoa học và công nghệ. Cơ sở vật chất kỹ thuật đó phải tạo ra đợc một năng suất
lao động xã hội cao. Công nghiệp hóa chính là quá trình tạo nền tảng cơ sở vật
chất đó cho nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc công nghiệp lạc hậu, cơ sở vật
chất - kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lợng sản xuất cha phát triển, quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa mới đợc thiết lập, cha đợc hoàn thiện. Vì vậy, sự
nghiệp CNH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh
tế quốc dân. Mỗi bớc tiến của quá trình CNH, HĐH là một bứơc tăng cờng cơ sở
vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất
và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển mạnh
mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại phát
triển rất nhanh chóng; những thuận lợi và khó khăn về khách quan và chủ quan,
có nhiều thời cơ và cũng có nhiếu nguy cơ, vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở,
thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì
vậy, nớc ta phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để
10
đẩy nhanh quá trình CNH tạo ra thế và lực mới để đa nền kinh tế tăng trởng,
phát triển bền vững.
1.1.3. Nội dung công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nớc ta.
Thứ nhất, phát triển lực lợng sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH trên cơ sở thực hiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những
thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.
Qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trớc hết là quá trình cải biến lao
động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc, tức là phải cơ khí hóa
nền kinh tế quốc dân. Đó là bớc chuyển đổi rất căn bản từ nền kinh tế nông
nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp.
Đi liền với cơ khí là hiện đại hóa và tự động hóa sản xuất từng bớc và
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh
mẽ các ngành công nghiệp, trong đó chủ yếu là ngành chế tạo t liệu sản xuất. Sự
phát triển của các ngành chế tạo ra t liệu sản xuất là cơ sở để cải tạo, phát triển
nền kinh tế quốc dân , phát triển khu vực nông - lâm - ng nghiệp. Sự phân tích
trên cho ta thấy đối tợng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tất cả ngành kinh tế
quốc dân nhng trớc hết và quan trọng nhất là ngành công nghiệp sản xuất t liệu
sản xuất.
Mục tiêu của CNH, HĐH còn là sử dụng kỹ thuật, công nghệ ngày càng
tiên tiến hiện đại nhằm đạt năng suất lao động xã hôi cao.Tất cả những điều đó
chỉ có thể đợc thực hiện trên cơ sở một nền khoa học - công nghệ phát triển đến
một trình độ nhất định.
Hiện nay nền khoa học của thế giới đang có sự phát triển mạnh mẽ, khoa
học đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp; khi mà công nghệ đang trở thành
nhân tố quyết định chát lợng sản phẩm, chi phí sản xuất tức là đến khả năng
cạnh tranh của hàng hóa, hiệu quả của sản xuất, kinh doanh, thì khoa học - công
nghệ phải là động lực của CNH, HĐH. Bởi vậy, phát triển khoa học - công nghệ
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH.
11
Phát triển khoa học - công nghệ trong điều kiện Việt Nam hiện nay cần
chú ý tới những vấn đề sau đây:
Phải xác định đợc phơng hớng đúng đắn cho sự phát triển khoa học -
công nghệ. Khoa học - công nghệ là lĩnh vực hết sức rộng lớn; trong khi đó đội
ngũ cán bộ khoa học - công nghệ nớc ta còn nhỏ bé, chất lợng thấp; khả năng
của đất nớc ta về vốn , phơng tiện nghiên cứu rất hạn hẹp. Do đó, chúng ta
không thể cùng một lúc đầu t để phát triển tất cả các lĩnh vực khoa học - công
nghệ, mà phải lựa chọn những lĩnh vực nhất định để đầu t. Nếu việc lựa chọn
đúng sẽ tạo điều kiện cho khoa học - công nghệ phát triển và ngợc lại, nếu việc
lựa chọn không đúng thì không những ảnh hởng tới xấu tới sự phát triển của
khoa học - công nghệ mà còn ảnh hởng không tôt đến CNH, HĐH. Phơng pháp
chung cho sự phát triển khoa học - công nghệ ở nớc ta: Phát huy những lợi thế
của đất nớc, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt
là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng
nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến nhiều hơn những thành tựu mới về khoa
học và công nghệ, từng bớc phát triển kinh tế tri thức.
Phải tạo dựng đợc những điều kiện cần thiết cho sự phát triển khoa học -
công nghệ. Việc xác định phơng hớng đúng cho sự phát triển khoa học - công
nghệ là cần thiết nhng cha đủ, mà khoa học - công nghệ chỉ phát triển khi đợc
đảm bảo những điều kiện kinh tế - xã hội cần thiết. Những điều kiện đó là: đội
ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có số lợng đủ lớn, chất lợng cao; đầu t ở mức
cần thiết; các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp
Trong sự nghiệp CNH, HĐH, ngời lao động lực lợng sản xuất thứ nhất
- không những phải đợc nâng trình độ văn hóa và khoa học - công nghệ mà còn
phải đợc trang bị cả cơ sở vật chất - kỹ thuật tiên tiến. Họ vừa là kết quả của sự
phát triển lực lợng sản xuất, vừa là ngời tạo ra sự phát triển đó.
Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hớng hiện đại hoá hợp lý và
hiệu quả cao
12
Qúa trình CNH, HĐH cũng là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Cơ
cấu của nền kinh tế quốc dân là cấu tạo hay cấu trúc của nền kinh tế bao gồm
các ngành kinh tế, các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế và mối quan hệ
hữu cơ giữa chúng. Trong cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế là
quan trọng nhất, quyết định các hình thức cơ cấu kinh tế khác. Cơ cấu kinh tế
hợp lý là điều kiện để nền kinh tế tăng trởng, phát triển. Vì vậy CNH, HĐH đòi
hỏi phải xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại.
Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động, biến đổi do sự vận động, biến
đổi của lực lợng sản xuất. Xu hớng chuyển dịch cơ cơ cấu kinh tế đợc coi là hợp
lý, tiến bộ là tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng, đặc biệt là tỷ trọng khu
vực dịch vụ ngày càng tăng; tỷ trọng khu vực nông, lâm, ng nghiệp và khai
khoáng ngày càng giảm trong tổng giá trị sản phẩm xã hội.
Qúa trình hình thành và phát triển các ngành kinh tế, nhất là những
ngành có hàm lợng khoa học cao; sự xuất hiện các vùng sản xuất chuyên canh
tập trung không chỉ là biểu hiện của sự phát triển của lực lợng sản xuất, phát
triển cơ sở vật chất - kỹ thuật trong tiến trình CNH, HĐH mà còn làm cho cơ
cấu kinh tế thay đổi tiến độ.
Cơ cấu kinh tế hợp lý trong một nền kinh tế thị trờng hiện đại đòi hỏi
công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ phát triển mạnh mẽ, hợp lý và đồng bộ
Mạng lới dịch vụ với t cách là một ngành kinh tế phát triển mới có thể phục vụ
tốt cho sự phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp và nông nghiệp.
Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Phát triển
toàn diện, nông, lâm, ng nghiệp gần với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy
sản nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ng nghiệp,
bảo đảm vững chắc yêu cầu an toàn lơng thực cho xã hội; tạo nguồn nguyên liệu
có khối lợng lớn, chất lợng cao, giá thành hạ, đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của
công nghiệp chế biến; tăng giá trị và khối lợng hàng xuất khẩu; tăng thêm việc
làm và thu nhập cho ngời lao động; phân công lại lao động xã hội, hình thành
các điểm công nghiệp gắn liền với đô thị hóa tại chỗ, mở mang thị trờng sản
phẩm và dịch vụ cho công nghiệp.
13
Để thực hiện nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn cần phải chú
trọng đến các vấn đề thủy lợi hóa, áp dụng công nghệ tiến bộ, nhất là công nghệ
sinh học, cơ giới hóa, điện khí hóa; phát triển mạnh công, thơng nghiệp, dịch vụ,
du lịch ; tăng cờng xây dựng kết cấu hạ tầng
Xây dựng cơ cấu kinh tế cần thiết là yêu cầu khách quan của mỗi nớc
trong thời kỳ CNH. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý. Một
cơ cấu kinh tế đợc gọi là hợp lý khi nó đáp ứng đợc các yêu cầu sau đây:
- Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng; công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ phải tăng dần về tỷ trọng.
- Trình độ kỹ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ và công nghệ đã
và đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới.
- Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nớc, của các ngành,
các địa phơng, các thành phần kinh tế.
- Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hóa
kinh tế, do vậy cơ cấu kinh tế đợc tạo dựng phải là cơ cấu mở.
ở nớc ta, kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, dới ánh sáng
của đờng lối đổi mới, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt đợc những thành
tựu quan trọng.
Thông qua cách mạng khoa học - công nghệ và phân công lại lao động
với những tính quy luật vốn có của nó, thích ứng với điều kiện nớc ta, Đảng ta
đã xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý mà bộ xơng của nó là cơ cấu kinh tế
công - nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng.
Mục tiêu phấn đấu của nớc ta đến năm 2010 là tỷ trọng GDP của nông nghiệp
16 - 17%; công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43%.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội đợc thực hiện theo phơng châm: kết hợp công nghệ với nhiều trình độ,
tranh thủ công nghệ mũi nhọn tiên tiến vừa tận dụng đợc nguồn lao động dồi
dào, vùa cho phép rút ngán khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có
hạn ở trong nớc; lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến quy mô lớn nhng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét