Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Nghiên cứu thống kê tình hình XNK Hàng hóa của VN trong giai đoạn 1991-2000

Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
2. Quy mô xuất khẩu các mặt hàng chính 78
3. Cơ cấu xuất khẩu 80
b. Nhập khẩu 84
1. Quy mô nhập khẩu 84
2. Quy mô nhập khẩu một số mặt hàng chính 86
3. Cơ cấu nhập khẩu một số mặt hàng chính 87
c.Về xuất nhập khẩu 91
1. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 91
2. Cán cân thơng mại 92
III. Vận dụng các phơng pháp phân tích các chỉ tiêu. 92
a.Xuất khẩu 92
1. Quy mô xuất khẩu 93
2. Quy mô xuất khẩu một số mặt hàng chính 95
B. Nhập khẩu: 101
1. Quy mô nhập khẩu: 101
2. Quy mô nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu: 103
C. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu: 105
D. Cán cân thơng mại 107
iv. một số kiến nghị và giải pháp 113
1. Kiến nghị 113
1.1. Về xuất nhập khẩu 113
1.2. Chính sách thị trờng 114
1.3. Về thống kê xuất nhập khẩu 115
Sv:trần tú khánh trang:5
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
2. Giải pháp 116
Kết luận 118
Danh mục tài liệu tham khảo 119
Sv:trần tú khánh trang:6
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
Lời nói đầu
Sau 15 năm đổi mới, đất nớc ta chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang
cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế nớc ta đã thu đợc những thành tựu đáng kể trong hầu hết các lĩnh
vực. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, hoạt động xuất nhập khẩu
cũng thu đợc những kết quả rát khả quan.
Để góp phần đa đất nớc ta đi lên, hoà nhập vào cộng đồng kinh tế thế
giới,tham gia tích cực vào sự phân công lao động hợp tác quốc tế, các hoạt
động đầu t, hợp tấc khoa học công nghệ với bên ngoài, dịch vụ trao đổi ngoại
thơng ngày càng phát triển. Trong đó hoạt động ngoại thơng chủ yếu là hoạt
động xuất nhập khẩu, chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, là động lực để phát triển kinh tế.
Nghiên cứu và quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu là vấn đề hết sức
khó khăn và cần thiết, bởi vì nó giúp cho nhà nớc ta có thể đánh giá đúng
thực trạng kinh tế đát nớc, để đề ra các biện phấp, chính sách quản lý vĩ mô
đợc chính xác và phù hợp.
Nhận thức đợc điều đó, trong thời gian thực tập tại vụ thơng mại và giá
cả thuộc Tổng cục thống kê,em đã chọn đề tài: Nghiên cứu thống
kê tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá của việt nam
trong giai đoạn 1991-2000 vì sự hiểu biết và thời gian thực tập có
hạn, nên trong chuyên đề này em chỉ đi sâu vào phân tích xuất nhập khẩu
hàng hoá quan biên giới, và nội dung chính của chuyên đề là dựa vào các ph-
ơng pháp phân tích thống kê nh: phân tổ, dãy số thời gian, chỉ số, hồi qui t-
ơng quan để nghiên cứu.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chơng:
Chơng I: Lý luận chung về xuất nhập khẩu.
Chơng II: Hệ thống chỉ tiêu và các phơng pháp phân tích thống kê xuất
nhập khẩu.
Chơng III: Vận dụng phân tích thống kê tình hình xuất nhập khẩu hàng
hoá của Việt Nam trong gian đoạn 1991-2000.
Sv:trần tú khánh trang:7
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
Chuyên đề này đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn của thầy PGS,TS Phan
Công Nghĩa và Chuyên viên chính Lê Minh Thủy, các thầy các cô trong
khoa thống kê cùng với các chú các cô ở vụ thơng mại giá cả Tổng cạc thống
kê và sự nỗ lực của bản thân.
Em xin chân thành cảm ơn !.
Sv:trần tú khánh trang:8
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
Chơng i
Lý luận chung về xuất nhập khẩu
i. Kinh tế đối ngoại ngoại thơng xuất nhập khẩu.
1. Kinh tế đối ngoại
Hoạt động kinh tế là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
ngời. Sự phát triển về kinh tế của các quốc gia đã dẫn đến sự hình thành nền
kinh tế quốc gia thống nhất. Lực lợng sản xuất ngày càng phát triển, sự phân
công lao động ngày càng mở rộng thì các quan hệ kinh tế không chỉ dừng lại
trong phạm vi từng quốc gia, mà còn vơn ra phạm vi ngoài quốc tế.
Ban đầu, các mối quan hệ giữa các quốc gia xuất hiện trên cơ sở có sự
khác biệt về điều kiện tự nhiên là chủ yếu. Các quốc gia cung cấp cho nhau
những nguyên liệu sản phẩm đặc thù do điều kiện tự nhiên ( khoáng sản, khí
hậu, đất đai )mang lại. Sau đó, do qúa trình phát triển của lực l ợng sản xuất
và sự phân công lao động làm nảy sinh sự khác biệt về trình độ công nghệ và
kỹ thuật, chênh lệch về năng suất lao động, giá thành sản phẩm đã làm xuất
hiện lợi thế mới của các quốc gia. Điều đó cho phép và đòi hỏi nền kinh tế
của mỗi quốc gia phải phát huy triệt để lợi thế của mình, để sản xuất ra nhiều
hàng hoá chất lợng cao mà giá thành lại rẻ, nhằm đổi lấy các hàng hoá mà
quốc gia đó không sản xuất đợc hoặc sản xuất đợc với giá thành cao hơn và
chất lợng kém hơn. Các mối quan hệ này ban đầu thể hiện trong lĩnh vực lu
thông sản phẩm, nhng dần dần phát triển sang các mối quan hệ phân công và
hợp tác lao động trong lĩnh vực thử nghiệm, đầu t trao đổi công nghệ và
nhiều hoạt động khác. Trên phơng diện kinh tế của mỗi quốc gia, mối quan
hệ đó đợc gọi là quan hệ kinh tế đối ngoại.
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực phong phú và đa dạng của nền kinh tế
quốc dân, thể hiện phần tham gia của mỗi quốc gia vào sự phân công lao
động quốc tế và trao đổi mậu dịch quốc tế. Sự phát triển của hoạt động kinh
tế đối ngoại của mỗi nớc đã đa kinh tế đối ngoại trở thành một lĩnh vực quan
trọng, là sự tồn tại khách quan trong nền kinh tế quốc dân. Kinh tế đối ngoại
không chỉ liên quan đến trao đổi hàng hoá mà còn liên quan đến mọi giai
đoạn của qúa trình tái sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. Nó gắn liền qúa
trình phân công lao động trong nớc với phân công lao động quốc tế. Hoạt
động ngoại thơng là hoạt động trung tâm của kinh tế đối ngoại, kim ngạch
Sv:trần tú khánh trang:9
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
ngoại thơng là biểu hiện kết quả của các hoạt động kinh tế đối ngoại. Và do
đó ta có thể nói rằng ngoại thơng là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân,
của tái sản xuất xã hội.
2. Ngoại thơng:
là sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nớc khác nhau, thông qua
mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới, tuân theo nguyên tắc ngang giá và hai bên
cùng có lợi.
Hoạt động xuất nhập khẩu là nội dung chính trong hoạt động ngoại th-
ơng, là một khâu của qúa trình tái sản xuất xã hội, là một bộ phận cấu thành
của nền kinh tế quốc dân ;thực hiện chức năng lu thông đối ngoại, góp phần
đa nền kinh tế đất nớc hoà nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới để tham gia
tích cực vào phân công hợp tác quốc tế. Thông qua xuất nhập khẩu hoạt
động ngoại thơng của các doanh nghiệp làm đa dạng hoá và làm tăng khối l-
ợng sử dụng cho đất nớc, đồng thời làm tăng tổng sản phẩm trong nớc(GDP),
góp phần tích luỹ để mở rộng sản xuất và cải thiện đời sống nhân dân.
Nh vậy hoạt động ngoại thơng có tác động đến nền kinh tế đất nớc cả về
mặt giá trị và giá trị sử dụng, đồng thời không thể xem xét ngoại thơng tách
rời lĩnh vực sản xuất, tách rời nền kinh tế quốc dân.
Xét về cội nguồn, ngoại thơng xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự
nhiên của sản xuất giữa các khu vực và các nớc. Vì điều kiện sản xuất có thể
rất khác nhau giữa các nớc, nên điều kiện có lợi là mỗi nớc nên chuyên môn
hoá sản xuất những mặt hàng cụ thể và xuất khẩu hàng hoá của mình để
nhập khẩu những hàng hoá cần thiết từ nớc ngoài.
Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động tất yếu của mỗi quốc gia trong
qúa trình phát triển của mình. Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, vị
trí địa lý, nguồn nhân lực, các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà mỗi quốc gia
có thể có thế mạnh về một hay một số lĩnh vực này nhng lại không có thế
mạnh về lĩnh vực khác. Để có thể khắc phục các điểm yếu, lợi dụng các cơ
hội và hạn chế các thách thức tạo ra sự cân bằng các yếu tố trong qúa trình
sản xuất tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi các hàng hoá và dịch
vụ cho nhau: bán những gì mình có và mua những gì mình thiếu.
Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu không phải chỉ diễn ra giữa các
quốc gia có những lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác mà ngay cả khi
quốc gia đó không có những lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực,
Sv:trần tú khánh trang:10
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
tài nguyên thiên nhiên thì vẫn có thể thu đ ợc lợi ích không nhỏ khi tham
gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu.
Cơ sở và lợi ích của hoạt động nhập khẩu( và nói rộng hơn là hoạt động
ngoại thơng ) đợc chứng minh rất rõ qua lý thuyết về lợi thế so sánh của nhà
kinh tế học nổi tiếng ngời Anh David Ricardo.
Theo quy luật lợi thế so sánh, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so
với các quốc gia khác trong việc sản xuất hầu hết các sản phẩm, các quốc gia
đó có thể tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu (thơng mại quốc tế ) để
tạo lợi ích cho mình mà nếu bỏ qua thì quốc gia đó sẽ mất cơ hội phát triển.
Nói một cách khác, là nếu quốc gia này tham gia vào hoạt động thơng mại
quốc tế thì trong những điểm bất lợi nhất vẫn có thể tìm ra những điểm có lợi
nhất để khai thác một cách có hiệu quả phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh
tế. Khi tiến hành các hoạt động xuất nhập khẩu, quốc gia có hiệu quả thấp
nhất trong việc sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá thì vẫn có thể thu đợc lợi
ích cho mình bằng việc chuyên môn hoá vào sản xuất các loại hàng hoá mà
việc sản xuất ra chúng ít bất lợi nhất( những hàng hoá có lợi thế tơng đối )
và trao đổi với các quốc gia khác đồng thời nhập khẩu các loại hàng hoá mà
việc sản xuất ra chúng là bất lợi nhất ( những hàng hoá không có lợi thế t-
ơng đối hoặc lợi thế so sánh ).
Công thức mà nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng Các-mác đã nêu ra: H-
T-H là hai vế của một công thức đợc tách ra thành hai mặt hoạt động của
nó. H-T ( hàng tiền ) tức là bán hàng trở thành xuất khẩu; còn T-H (tiền
hàng) tức là mua hàng, trở thành nhập khẩu. Trong qúa trình xuất nhập
khẩu các điều kiện tái sản xuất của từng nớc đợc đối chiếu với điều kiện bên
ngoài, từ đó phát sinh ra khả năng bổ sung của ngoại thơng, tác động đến
khối lợng, cơ cấu sản phẩm và GDP, đồng thời cũng tác động mạnh mẽ tới
sự phát triển cân đối của nền kế toán quốc dân.
II. Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền kinh
tế
Hoạt động xuất nhập khẩu là một lĩnh vực quan trọng và là nội dung cơ
bản của hoạt động kinh tế đối ngoại với bất kỳ một Quốc gia nào. Hoạt động
xuất nhập khẩu ngày càng phát triển và là nhân tố cơ bản thúc đẩy quá trình
phát triển và tăng trởng kinh tế. Mỗi Quốc gia muốn tăng trởng kinh tế thì
cần hội đủ 4 điều kiện đó là: nguồn nhân lực; tài nguyên thiên nhiên; vốn và
kỹ thuật công nghệ.
Sv:trần tú khánh trang:11
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
Đối với một nền kinh tế nhỏ, công nghệ lạc hậu thì xuất khẩu chỉ trông
chờ vào những sản phẩm có sẵn trong nớc chủ yếu là sản phẩm do lao động
thủ công tạo ra và những sản phẩm thô vừa khai thác cha qua chế biến, hay là
những sản phẩm truyền thống. Đó chính là những mặt hàng nông, lâm, hải
sản, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng dệt may và những tài nguyên thiên nhiên
khác. Việc tạo ra những hàng hoá này cũng là một trong những điều kiện cần
thiết để có nguồn ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu dây chuyền công nghệ, kỹ
thuật tiên tiến, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống của ngời lao
động. Hay nói cách khác chính là tăng trởng và phát triển kinh tế.
1.Vai trò của xuất khẩu
Mỗi Quốc gia có một lợi thế so sánh riêng, do đó họ không thể sản xuất
mà không đem đi bán đợc những sản phẩm lợi thế của mình. Chính vì lẽ đó
mà xuất khẩu có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế.
Thứ nhất, xuất khẩu là hoạt động tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho hoạt
động nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ tiên tiến phục vụ
công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc. Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá đất nớc theo những bớc đi thích hợp là con đờng tất yếu để khắc
phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu và chậm phát triển của đất nớc. Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá đòi hỏi một khối lợng vốn lớn để có thể nhập khẩu
máy móc thiết bị, kỹ thuật tiên tiến cần thiết, chuyển giao công nghệ hiện
đại bằng cách thức đầu t nớc ngoài, vay nợ và viện trợ. Mà các nguồn vốn
này họ phải trả ở những kỳ sau, và nh vậy nếu muốn vừa có thể nhập khẩu
máy móc thiết bị, kỹ thuật tiên tiến cần thiết để phát triển kinh tế lại vừa có
thể trả nợ các nguồn vốn vay thì chỉ trong chờ vào hoạt động xuất khẩu. Xuất
khẩu là hoạt động mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất. Xuất khẩu quyết
định quy mô và tăng trởng của hoạt động xuất nhập khẩu và là nhân tố quyết
định đến tổng kim ngạch xuất nhập khẩu ( hay cán cân thơng mại). Chẳng
hạn ở nớc ta trong thời kỳ 1986 1990 nguồn từ xuất khẩu chiếm 50% tổng
nguồn thu ngoại tệ. Năm 1994, nguồn thu từ xuất khẩu chỉ đảm bảo 60% nhu
cầu vốn cho nhập khẩu; năm 1996 là 65%; năm 1997 là 67%. Đối với những
nớc kém phát triển thì một trong những thách thức lớn là vấn đề thiếu vốn,
đối với các nớc này trong quá trình phát triển thì nguồn vốn từ nớc ngoài đợc
coi là nguồn vốn chủ yếu để phục vụ cho đầu t phát triển kinh tế. Song mọi
cơ hội đầu t, vay nợ và viện trợ từ nớc ngoài chỉ có thể thuận lợi khi chủ đầu
t hay ngời cho vay thấy đợc khả năng sản xuất và xuất khẩu của Quốc gia đó.
Sv:trần tú khánh trang:12
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
Xuất khẩu không những tạo ra nguồn vốn cho phát triển kinh tế mà nó
còn đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
phát triển. Đặc biệt nếu coi thị trờng trong nớc và thị trờng Thế giới là hớng
quan trọng để tổ chức sản xuất vì điều kiện đó tác động tích cực đến sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này
thể hiện qua các mặt sau:
Xuất khẩu tạo điều kiện các ngành khai thác có cơ hội phát triển thuận
lợi, đồng thời nó còn kéo theo một số vấn đề xã hội có liên quan khác
nh: tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tệ nạn xã hội Chẳng
hạn, nếu phát triển ngành dệt xuất khẩu thì nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy
các ngành nh: tơ lụa, bông đay phát triển theo. Do đó thu hút đợc một số
lợng lao động lớn vào làm trong các ngành đó.
Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần thúc đẩy
sản xuất phát triển và ổn định cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện mở rộng khả
năng cung cấp đầu vào và máy móc thiết bị kỹ thuật để phục vụ cho sản
xuất trong nớc.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao khả năng năng lực sản xuất trong nớc. Điều kiện này thể hiện ở
chỗ xuất khẩu là hoạt động quan trọng, chủ yếu để tạo ra nguồn vốn
ngoại tệ phục vụ cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị, dây chuyền công
nghệ hiện đại từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm Hiện đại hoá
nền kinh tế của đất nớc, tạo ra năng lực sản xuất mới và đa đất nớc tiến
nhanh vào quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc.
Thông qua con đờng xuất khẩu, hàng hoá sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trờng Thế giới về giá cả và chất lợng. Cuộc cạnh tranh này
đòi hỏi mỗi Quốc gia phải luôn luôn tổ chức lại, cải tiến sản xuất hình
thành cơ cấu thích nghi với thị trờng và đòi hỏi các Doanh nghiệp luôn
luôn đổi mới hoàn thiện công việc và chơng trình sản xuất kinh doanh
cải tiến về mọi mặt.
Xuất khẩu là nhân tố tích cực đến chính sách giải quyết công ăn việc
làm và cải thiện đời sống của nhân dân đồng thời nó làm giảm những
mặt tiêu cực của xã hội. Tác động của xuất khẩu đến đời sống xã hội đợc
thể hiện trên nhiều mặt nh:
Sv:trần tú khánh trang:13
Luận văn tốt nghiệp
lớptkê40B
Thứ nhất, sản xuất hàng hoá xuất khẩu sẽ thu hút hàng vạn lao động
làm việc với thu nhập cao và ổn định
Thứ hai, xuất khẩu tạo ra nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu các hàng
hoá, vật phẩm để phục vụ đời sống của nhân dân
Thứ ba, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
giữa các nớc với khu vực và Thế giới. Nó làm cho quan hệ ngoại giao
ngày càng đợc mở rộng và phát triển với hầu hết các nớc trên Thế giới
đồng thời phát huy đợc lợi thế cạnh tranh của mỗi Quốc gia.
Nh vậy xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có quan hệ qua lại
phục thuộc lẫn nhau. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại, cụ thể
hoạt động xử lý có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và nó là
tiền đề cho các quan hệ kinh tế đối ngoại đi kèm đồng thời nó làm cho các
hoạt động kinh tế khác cũng phát triển theo. Chẳng hạn nh khi xuất khẩu
hàng hoá phát triển mạnh thì nó cũng thúc đẩy và đòi hỏi các hoạt động khác
nh: đầu t, tín dụng, vận tải Quốc tế phát triển theo.
2.Vai trò của nhập khẩu
Bên cạnh xuất khẩu, nhập khẩu cũng có một vị trí hết sức quan trọng
trong nền kinh tế Quốc dân. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết
định đến quá trình sản xuất và đời sống xã hội trong nớc. Nhập khẩu bổ sung
những hàng hoá mà trong nớc không sản xuất đợc hoặc sản xuất không có lợi
hay không đáp ứng đợc nhu cầu
Do đó, nhập khẩu kích thích sự đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản
xuất để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trờng Thế giới về quy
cách, chất lợng sản phẩm và tiêu chuẩn vệ sinh Để tạo sự cạnh tranh giữa
hàng hoá sản xuất trong nớc và hàng nhập khẩu. Mặt khác, nhập khẩu đổi
mới trang thiết bị, công nghệ trong nớc qua đó ngời lao động đợc nâng cao
tay nghề, học hỏi đợc những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến trên Thế giới.
Bởi vậy việc đẩy mạnh nhập khẩu các mặt hàng công nghệ sẽ dẫn tới công
nghệ trong nớc đợc đổi mới và cải tiến đồng thời tạo ra khả năng cạnh tranh
với khu vực và Thế giới.
Mặt khác nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu đợc thực hiện
tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối của nền kinh tế Quốc dân,
trong đó cân đối 3 yếu tố của sản xuất: công cụ lao động, đối tợng lao động,
Sv:trần tú khánh trang:14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét