-4-
PHẦN MỞ ĐẦU
I – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt nam đã có những bước
chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, chủ trương cổ
phần hoá doanh nghiệp của Đảng và nhà nước cũng đã có những tiến bộ đáng
kể, đồng thời, chính sách của Đảng đang trên đà hoàn thiện, môi trường kinh
doanh ngày một bình đẳng hơn tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho các doanh
nghiệp. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu
các doanh nghiệp Việt nam đang phải đối mặt với môi trường kinh doanh mới
với diễn biến phức tạp và có nhiều rủi ro, đặïc biệt là với các doanh nghiệp
thuộc ngành hoá mỹ phẩm và các chất tẩy rửa, một ngành có áp lực cạnh
tranh lớn. Vì vậy, chỉ cần sơ xảy, thiếu cẩn trọng và nhạy bén là có thể bò phá
sản.
Công ty cổ phần bột giặt NET là một công ty mới được thành lập do cổ
phần hoá Công ty bột giặt NET – một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Tổâng
công ty hoá chất Việt nam. Sau cổ phần hoá, hoạt động của công ty có nhiều
thuận lợi hơn về cơ chế, giám đốc chủ động hơn trong quản lý và điều hành
kinh doanh. Tuy nhiên, sau cổ phần hoá thì mục tiêu, tổ chức, quản lý và cơ
chế điều chỉnh các hoạt động của công ty có những thay đổi lớn. Đây là một
khó khăn cho các nhà quản lý của các công ty cổ phần hoá nói chung và của
Công ty bột giặt NET nói riêng, vì tư duy quản lý doanh nghiệp của họ phần
nhiều là chưa thay đổi ngay được, mặt khác, trong thực tế thường nảy sinh các
vấn đề mà chính sách của nhà nước chưa bao quát được hoặc theo chưa kòp, từ
đó phát sinh những vướng mắc, khó khăn cho hoạt động của các công ty cổ
phần và NET cũng không phải là ngoại lệ.
Trong hoàn cảnh đó, việc đề ra các giải pháp chiến lược để phát triển
Công ty cổ phần bột giặt NET từ nay đến năm 2010 là rất cần thiết.
-5-
Nhằm góp phần vào sự phát triển của NET, chúng tôi xin chọn đề tài
“Một số giải pháp chiến lược nhằm phát triển công ty cổ phần bột giặt NET
đến năm 2010 “ để nghiên cứu.
II – PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của NET trong thời
gian qua và các tác động của môi trường đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của NET.
III – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Để có thông tin làm nền tảng cho việc đề xuất một số giải pháp chiến
lược tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên
cứu tài liệu, phỏng vấn, phương pháp quan sát, phương pháp thống kê, dự báo,
phương pháp nghiên cứu hệ thống, phương pháp tổng hợp…
IV – KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn gồm ba chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản của đề tài.
Chương II: Thực trạng sản xuất kinh doanh của NET trong thời gian
qua.
Chương III: Một số giải pháp chiến lược nhằm phát triển NET đến năm 2010.
-6-
CHƯƠNG I:
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
I.1. LÝ LUẬN VỀ GIẢI PHÁP:
I.1.1- Lý luận về giải pháp:
Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề nào đấy.
Trong thực tiễn, để giải quyết một vấn đề có thể có rất nhiều các giải
pháp khác nhau. Nếu đưa ra được các giải pháp đúng và có biện pháp tổ chức
thực hiện tốt thì sẽ đạt được mục tiêu và ngược lại.
I.1.2 Lý luận về giải pháp chiến lược:
Trong số các giải pháp để giải quyết một vấn đề thì những giải pháp
đưa ra phương pháp giải quyết theo các mục tiêu đã được hoạch đònh trước và
các biện pháp phân bổ nguồn lực thực hiện các mục tiêu đó được gọi là giải
pháp chiến lược hay nói cách khác, giải pháp chiến lược là hệ thống các cách
thực hiện, các phương pháp huy động và phân bổ tài nguyên sẵn có để đạt
mục tiêu đã đònh ra cho một hoạt động cụ thể nào đó. Các giải pháp chiến
lược cũng có thể được hiểu là các giải pháp cơ bản để đạt mục tiêu đề ra.
Giải pháp chiến lược là giải pháp có mục tiêu và biện pháp thực hiện.
Chính vì vậy, đây là giải pháp mang tính hệ thống đồng bộ để đạt mục tiêu
nên khó xác đònh được giải pháp nào quan trọng hơn, giải pháp nào kém quan
trọng hơn cũng như khó có thể xác đònh trình tự thực hiện các giải pháp.
I.1.3.Vai trò của các giải pháp chiến lược trong hoạt động sản xuất
kinh doanh :
Mục tiêu cơ bản của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận thì trong từng thời kỳ
nhất đònh, một tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có thể thực hiện các
-7-
mục tiêu ngắn hạn để giải quyết các vấn đề có tính chiến lược trong từng giai
đoạn. Những giải từng giai đoạn. Những giai đoạn của quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh sẽ giúp cho các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh kiểm
soát được sự thay đổi của tổ chức, phù hợp với những yếu tố tác động lên quá
trình sản xuất kinh doanh và đạt được mục tiêu đề ra.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của một tổ chức chòu chi phối của nhiều
yếu tố, trong đó có sự tác động của yếu tố bên trong chính là nội lực quyết
đònh sự tồn tại và tăng trưởng của tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Do
vậy các giải pháp chiến lược sẽ căn cứ vào sự phân tích năng lực của tổ chức
để đưa ra các phương pháp giải quyết vấn đề nâng cao năng lực sản xuất kinh
doanh của tổ chức.
Hoạt động của các tổ chức sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải có nguồn
nhân lực để thực hiện. Quản lý nguồn nhân lực tốt và phù hợp sẽ nâng cao
hiệu quả của tổ chức. Những giải pháp chiến lược của tổ chức giúp cho năng
lực quản lý và tổ chức nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu sản xuất kinh
doanh.
Hoạt động sản xuất kinh doanh còn chòu sự tác động từ bên ngoài tổ
chức trong môi trường kinh doanh cạnh tranh đa dạng. Do vậy, các giải pháp
chiến lược đề ra các phương pháp giải quyết vấn đề giúp tổ chức hội nhập vào
môi trường kinh doanh phù hợp với điều kiện và thực lực của tổ chức.
I.1.4 - Cơ sở xây dựng giải pháp chiến lược:
Để xây dựng giải pháp chiến lược, trước hết phải thu thập thông tin,
phân tích, đánh giá các nhân tố tác động đến ngành hoá mỹ phẩm Việt Nam và
môi trường bên trong ngành hoá mỹ phẩm ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, cần xác
đònh những thuận lợi, nguy cơ và các điểm mạnh, điểm yếu. Thứ hai là xác đònh
mục tiêu cần đạt được trong tương lai. Thứ ba, xây dựng các giải pháp chiến
-8-
lược nhằm phát huy tối đa các điểm mạnh, tận dụng các yếu tố thuận lợi, khắc
phục các điểm yếu và hạn chế tối đa những nguy cơ để đạt được mục tiêu.
I.2- CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP:
I.2.1 - Các yếu tố nội bộ :
Các yếu tố nội bộ doanh nghiệp là các yếu tố mà doanh nghiệp có thể
kiểm soát được. Các yếu tố nội bộ chủ yếu của một doanh nghiệp bao gồm:
marketing, sản xuất, tài chính và kế toán, nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát
triển, thông tin, văn hoá của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu, phân tích các
yếu tố nội bộ cho phép đánh giá các điểm mạnh cũng như các điểm yếu của
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đưa ra các biện pháp nhằm khắc phục nhược
điểm và phát huy ưu điểm để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Sau đây, lần lượt nghiên cứu các yếu tố nội bộ chủ yếu của một doanh nghiệp:
I.2.1.1.Marketing:
Là quá trình xác đònh dự báo, thiết lập và thoả mãn các nhu cầu mong
muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dòch vụ. Theo Joel Evans và
Barry Berman, marketing bao gồm các chức năng cơ bản sau:
- Phân tích khách hàng.
- Mua hàng.
- Bán hàng.
- Hoạch đònh dòch vụ và sản phẩm.
- Đònh giá.
- Phân phối.
- Nghiên cứu thò trường.
- Phân tích cơ hội.
- Trách nhiệm đối với xã hội.
Việc nắm vững các chức năng này sẽ giúp các chiến lược gia xác đònh
và đánh giá được các điểm mạnh và điểm yếu của hoạt động marketing.
-9-
I.2.1.2.Sản xuất:
Sản xuất là hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với việc tạo ra sản
phẩm. Quá trình sản xuất là quá trình biến đổi những yếu tố đầu vào thành
hàng hoá và dòch vụ. Đây là một trong những hoạt động chính yếu của doanh
nghiệp và vì vậy có ảnh hưởng mạnh mẽ đến khả năng đạt được mục tiêu đã
xác đònh của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất cần phải
chú ý đến các yếu tố sau: quy trình sản xuất, công suất máy móc, thiết bò,
hàng tồn kho, sử dụng lực lượng lao động và chất lượng sản phẩm được sản
xuất của doanh nghiệp.
I.2.1.3.Tài chính kế toán:
Điều kiện tài chính thường được xem là phương pháp đánh giá vò trí
cạnh tranh tốt nhất của công ty và là một điều kiện thu hút nhất đối với các
nhà đầu tư. Việc xác đònh những điểm mạnh và điểm yếu về tài chính của
doanh nghiệp sẽ giúp ta đề ra những giải pháp chiến lược để thực hiện mục
tiêu đã xác đònh của doanh nghiệp. Các yếu tố tài chính thường làm thay đổi
các chiến lược hiện tại cũng như các giải pháp thực hiện chiến lược bao gồm:
khả năng thanh toán, đòn cân nợ, vốn luân chuyển, lợi nhuận, sử dụng vốn,
lượng tiền mặt và vốn cổ phần của công ty.
Phân tích các chỉ số tài chính là phương pháp được sử dụng nhiều nhất
để xác đònh điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp về đầu tư, tài chính và
tiền lãi cổ phần. Tuy nhiên, cần chú ý rằng điều kiện tài chính của một doanh
nghiệp không chỉ phụ thuộc vào các chức năng tài chính mà còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác như: quản lý, marketing, sản xuất… Vì vậy, sự phân tích
các chỉ số tài chính cũng như các công cụ phân tích khác cần phải sử dụng
một cách khôn ngoan sáng suốt. Cụ thể, khi phân tích điều kiện tài chính của
doanh nghiệp cần phân tích các yếu tố cơ bản sau:
- Khả năng huy động vốn ngắn hạn.
- Khả năng huy động vốn dài hạn, tỷ lệ giữa vốn vay và vốn cổ phần.
-10-
- Nguồn vốn công ty.
- Chi phí vốn so với toàn ngành và các đối thủ cạnh tranh.
- Các vấn đề về thuế.
- Quan hệ với những người chủ sở hữu, người đầu tư và cổ đông.
- Tình hình vay có thế chấp; khả năng tận dụng các chiến lược tài
chính thay thế như cho thuê hoặc bán hoặc thuê lại.
- Phí hội nhập và các rào cản hội nhập.
- Tỷ lệ lãi.
- Vốn lưu động, tính linh hoạt của cơ cấu vốn đầu tư.
- Kiểm soát giá thành hữu hiệu, khả năng giảm giá thành.
- Quy mô tài chính.
I.2.1.4.Nghiên cứu và phát triển:
Nghiên cứu và phát triển là hoạt động khá quan trọng để nghiên cứu
những điểm mạnh và những điểm yếu của doanh nghiệp. Sự sống còn của
nhiều doanh nghiệp phụ thuộc vào sự thành công hay thất bại của hoạt động
nghiên cứu và phát triển nhất là những doanh nghiệp có chiến lược phát triển
sản phẩm. Chi phí nghiên cứu và phát triển nhằm để phát triển những sản
phẩm mới trước các đối thủ cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm hay cải
tiến quy trình sản xuất để giảm chi phí.
I.2.1.5.Quản trò:
Quản trò có năm chức năng cơ bản đó là: hoạch đònh, tổ chức, thúc đẩy,
nguồn nhân lực và kiểm soát.
Hoạch đònh là các hoạt động quản trò liên quan đến việc dự đoán, thiết
lập mục tiêu, đề ra các chiến lược, phát triển các chính sách, hình thành các
mục tiêu.
Tổ chức là các hoạt động quản trò tạo ra các cơ cấu của mối quan hệ
giữa quyền hạn và trách nhiệm, cụ thể là thiết kế tổ chức chuyên môn hoá,
-11-
mô tả, chi tiết hoá công việc, mở rộng kiểm soát, thống nhất mệnh lệnh, phối
hợp sắp xếp, thiết kế và phân tích công việc.
Thúc đẩy là lãnh đạo, liên lạc, các nhóm làm việc chung, thay đổi các
hoạt động, uỷ quyền, nâng cao chất lượng công việc, thoả mãn nhu cầu, thay
đổi tổ chức, tinh thần của nhân viên và tinh thần quản lý.
Quản trò nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt
động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của doanh
nghiệp nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả doanh nghiệp lẫn nhân viên.
Kiểm soát là việc kiểm tra chất lượng, kiểm soát tài chính, bán hàng,
hàng tồn kho, chi phí, phân tích những thay đổi, thưởng phạt.
I.2.1.6.Thông tin:
Thông tin liên kết tất cả các chức năng trong kinh doanh với nhau và
cung cấp cơ sở cho tất cả các quyết đònh quản trò. Một doanh nghiệp có khả
năng dễ dàng và nhanh chóng thích nghi với những đòi hỏi luôn luôn biến đổi
của thò trường là một doanh nghiệp có hệ thống thông tin trong nội bộ doanh
nghiệp thông thoáng nhất và có hiệu quả cao nhất. Đánh giá điểm mạnh và
điểm yếu của hệ thống thông tin bên trong doanh nghiệp là công việc quan
trọng của kiểm soát nội bộ.
I.2.2. nh hưởng của môi trường đến hoạt động của doanh nghiệp:
I.2.2.1. Môi trường vó mô :
Môi trường vó mô là hệ thống yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các
doanh nghiệp, các tổ chức trong nền kinh tế. Các yếu tố này có thể tạo ra cơ
hội hoặc nguy cơ cho ngành và các doanh nghiệp theo các mức độ khác nhau .
Các yếu tố thuộc môi trường vó mô :
- Yếu tố chính trò :
Yếu tố này thể hiện qua thể chế chính trò của mỗi quốc gia , mức độ ổn
đònh hay biến động của thể chế chính trò, động cơ thúc đẩy hoạt động chính trò
của các phái cầm quyền mỗi quốc gia v.v…
-12-
Yếu tố chính trò tác động đến hệ thống luật pháp và hoạt động của
chính phủ thể hiện động cơ chính trò qua các công cụ quản lý Nhà nước nhằm
bảo vệ cá nhân, tập thể, xã hội theo mức độ khác nhau .
Khi quyết đònh đầu tư sản xuất kinh doanh, nhà quản trò các doanh
nghiệp cần hiểu rõ tình hình chính trò ở khu vực đầu tư, khu vực phát triển thò
trường mua bán. Có như vậy nhà quản trò mới chủ động trong việc quyết đònh
đầu tư ở đâu, đầu tư cái gì, đầu tư như thế nào, đầu tư trong bao lâu v.v…, đồng
thời hạn chế được rủi ro do yếu tố chính trò .
- Yếu tố pháp luật :
Pháp luật là sản phẩm của cơ quan luật pháp mỗi quốc gia, là công cụ
để quản lý nhà nước .
Mỗi quốc gia có hệ thống luật pháp quốc gia gồm nhiều bộ luật và văn
bản hướng dẫn dưới luật. Nhiều quốc gia hiện nay còn áp dụng luật quốc tế
trên lãnh thổ quốc gia .
Mỗi bộ luật hoặc văn bản tương đương luật có ảnh hưởng đến hoạt
động của các doanh nghiệp theo mức độ nhiều hay ít, tạo ra cơ hội hay nguy
cơ cho doanh nghiệp .
Chuyên gia luật pháp của doanh nghiệp phải nghiên cứu các điều
khoản trong các bộ luật có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp để
giúp nhà quản trò : thực thi luật pháp, hoạch đònh kế hoạch nắm bắt cơ hội từ
luật pháp, hoạch đònh kế hoạch ngăn chặn, hạn chế nguy cơ từ luật pháp v.v…
Thiếu hiểu biết về luật pháp quốc gia, quốc tế, quốc gia có quan hệ
mua bán, sẽ làm thiệt hại của doanh nghiệp .
- Yếu tố chính phủ:
Chính phủ là cơ quan hành pháp, cơ cấu tổ chức hình thành từ trung
ương xuống các đòa phương của mỗi quốc gia .
-13-
Nhà quản trò doanh nghiệp cần có thông tin thường xuyên về hoạt động
của chính phủ, nhất là các chính sách nhằm nắm bắt cơ hội hoặc ngăn chặn,
hạn chế nguy cơ từ yếu tố này. Trong chừng mực nhất đònh, các doanh nghiệp
có thể vận động hành lang, đối thoại với cơ quan chính phủ để tạo cơ hội hay
hạn chế nguy cơ nhất thời cho ngành và doanh nghiệp.
- Yếu tố kinh tế:
Là hệ thống các hoạt động, các chỉ tiêu kinh tế của mỗi quốc gia trong
từng thời kỳ. Chúng ảnh hưởng tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của từng ngành và từng doanh nghiệp theo các mức độ.
Những thành phần cơ bản thuộc yếu tố kinh tế mà nhà quản trò doanh
nghiệp cần có thông tin để đáp ứng nhu cầu quản trò doanh nghiệp như: giai
đoạn của chu kỳ đời sống kinh tế mỗi quốc gia. Nền kinh tế mỗi quốc gia có
chu kỳ đời sống riêng , mỗi giai đoạn trong chu kỳ này có các đặc trưng riêng,
biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế cơ bản như:
• Tốc độ phát triển nền kinh tế hàng năm.
• Tốc độ phát triển từng ngành hàng năm.
• Mức thu nhập bình quân/ người/ năm.
• Tỷ lệ lạm phát.
• Lãi suất tín dụng.
• Tỷ lệ dân cư thất nghiệp.
• V.v…
- Yếu tố khoa học kỹ thuật:
Hầu hết các ngành trong nền kinh tế đều chòu ảnh hưởng của sự phát
triển khoa học kỹ thuật. tuỳ đặc điểm mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp, mức độ
ảnh hưởng nhiều hoặc ít, theo khía cạnh tích cực ( tạo ra cơ hội) hoặc tiêu cực(
tạo ra nguy cơ).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét