Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Hoạt động Marketing với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng

- 5 -
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- NH : Ngân hàng
- NHTM : Ngân hàng thương mại
- TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
- CN TP.HCM : Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
- CN NH nước ngoài : Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Cty cho thuê TC : Công ty cho thuê tài chính
- TCTD : Tổ chức tín dụng
- Cty TC- CTTC : Công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
- KCN- KCX : Khu công nghiệp- khu chế xuất
- USD : Đôla Mỹ
- VNĐ : Đồng Việt Nam
- ATM : Máy rút tiền tự động
- NH Nông Nghiệp & PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông
thôn.




- 6 -
LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế hiện đại, sự phát triển nhanh chóng và những hỗ trợ to lớn
của hoạt động ngân hàng thương mại đối với sự phát triển của đời sống và
hoạt động kinh tế đã làm cho ngân hàng thương mại trở thành một đònh chế
tài chính ngày càng quan trọng. Bởi lẽ đó, sự tồn tại của ngân hàng thương
mại và nền kinh tế có sự gắn bó chặt chẽ với nhau.
Trong những năm vừa qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã có những chuyển
biến sâu sắc. Quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng cả về số lượng lẫn phạm
vi, các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú hơn. Từ đó, việc tiếp thò các
sản phẩm dòch vụ ngân hàng là rất cần thiết. Nếu không có Marketing thì ngân
hàng sẽ bò trì trệ rất nhiều và dần dần mất tính cạnh tranh trên thò trường.
Vì thế các chiến lược chính sách Marketing ngân hàng đã được các nhà ngân
hàng quan tâm chú trọng đến nhưng hiện nay hiệu quả của hoạt động này đem
lại chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
Từ những nhận đònh trên, tôi đã chọn đề tài : “Hoạt động Marketing với
việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các Ngân hàng thương mại
trên đòa bàn TP.HCM”
*
Mục tiêu nghiên cứu :
- Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động Marketing trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động Marketing trong hoạt động kinh
doanh tại các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn TP.HCM, từ đó đề ra một số
giải pháp và kiến nghò nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động Marketing
tại các ngân hàng.

- 7 -
* Đối tượng, phạm vi nghiên cứu :
- Tập trung vào các chiến lược Marketing ngân hàng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và thực trạng hoạt
động Marketing tại các Ngân hàng thương mại trên đòa bàn TP.HCM.
*
Phương pháp nghiên cứu :
- Dùng phương pháp phân tích hệ thống, thống kê, so sánh.
- Dựa trên các số liệu thống kê, báo cáo của Ngân hàng nhà nước- CN
TP.HCM
*
Kết cấu luận văn :
Ngoài phần mở bài và kết luận, luận văn được trình bày theo kết cấu sau :
- Chương 1 : Cơ sở lý luận hoạt động Marketing trong kinh doanh Ngân hàng
thương mại.
- Chương 2 : Thực trạng hoạt động Marketing trong hoạt động kinh doanh tại
các Ngân hàng thương mại TP.HCM
- Chương 3 : Những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động Marketing tại các
Ngân hàng thương mại TP.HCM












- 8 -
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG
KINH DOANH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I.TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI :
1.Bản chất của Ngân hàng thương mại :
1.1 Khái niệm về NHTM :
Trong nền kinh tế hàng hóa, có nhiều công ty, đơn vò tổ chức kinh tế hoạt
động kinh doanh trong nhiều ngành nghề, lónh vực khác nhau. Tất cả đều góp
phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Trong đó các Ngân hàng thương mại
hoạt động trong lónh vực kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng. Hoạt động của
NHTM trong lónh vực tiền tệ tín dụng và dòch vụ được coi là một loại đònh chế
tài chính đặc biệt của nền kinh tế thò trường.
“Ngân hàng thương mại” là loại hình ngân hàng giao dòch trực tiếp với các
công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết
kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện
thanh toán và cung ứng dòch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên.
Theo điều 10 luật số 02/1997/QH10 luật các tổ chức tín dụng Việt Nam
khẳng đònh : “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Có thể nói rằng NHTM là đònh chế tài chính trung gian quan trọng vào loại
bật nhất trong nền kinh tế thò trường. Nhờ hệ thống đònh chế tài chính trung gian
này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập
trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế,
cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.



- 9 -
1.2 Bản chất của NHTM :
NHTM là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vò kinh tế, bởi vì NHTM
hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh
nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ
về kinh tế và phải có nghóa vụ đóng thuế cho nhà nước như các đơn vò kinh tế
khác.
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh các
NHTM phải có vốn, phải tự chủ về tài chính; đặc biệt hoạt động kinh doanh cần
đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của
NHTM cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dòch vụ
ngân hàng. Đây là lónh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến cả
các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội và mặt khác lónh
vực tiền tệ ngân hàng là lónh vực “nhạy cảm” nó đòi hỏi một sự thận trọng và
khéo léo trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho xã
hội.
Tóm lại, NHTM là loại hình đònh chế tài chính trung gian hoạt động kinh
doanh trong lónh vực kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng, góp phần tạo lập
và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội
phát triển.
2.
Chức năng của Ngân hàng thương mại :
2.1 Trung gian tín dụng :
Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, nó
không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu
của NHTM. Trong chức năng “trung gian tín dụng” NHTM đóng vai trò là người
trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi

- 10 -
trong nền kinh tế biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng các nhu
cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng
của xã hội.
Chức năng trung gian tín dụng được minh họa qua sơ đồ sau :
Nhận tiền gửi Cho vay



Công ty, xí
nghiệp, tổ
chức kinh tế,
cá nhân
NGÂN
HÀNG
THƯƠNG
MẠI
Công ty, xí
nghiệp, tổ
chức kinh tế,
cá nhân
Tiết kiệm
Cung cấp dòch
vụ ngân hàng

2.2 Trung gian thanh toán :
Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của
NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động của NHTM.
Khi trong nền kinh tế chưa có hoạt động ngân hàng hoặc mới có những hoạt
động sơ khai (nhận bảo quản tiền đúc) thì các khoản giao dòch thanh toán giữa
những người sản xuất kinh doanh và các đối tượng khác đều được thực hiện một
cách trực tiếp, người trả tiền và người thụ hưởng tự chi trả bằng tiền mặt. Nhưng
khi NHTM ra đời và hoạt động trong nền kinh tế, thì dần dần các khoản giao
dòch thanh toán giữa các đơn vò và cá nhân đều được thực hiện qua hệ thống
ngân hàng. NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dòch
thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán, … để hoàn tất các
quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau.
Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện qua biểu đồ sau :

Lệnh trả tiền Giấy báo có
qua tài khoản


Người trả tiền-
người mua
(Công ty, xí
nghiệp, tổ
chức kinh tế,
cá nhân)

NGÂN
HÀNG
THƯƠNG
MẠI
Người thụ
hưởng- người
bán (Công ty,
xí nghiệp, tổ
chức kinh tế,
cá nhân


- 11 -
2.3 Cung ứng dòch vụ ngân hàng :
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán vốn đã
mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế xã hội. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở
đó thì chưa đủ, các NHTM cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có
liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Các dòch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép NHTM
thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để NHTM thực
hiện tốt hơn chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán của mình.
Trên đây là các chức năng của NHTM, các chức năng này có mối quan hệ,
tác động qua lại lẫn nhau. Nếu các ngân hàng đều chú trọng tất cả các chức
năng này thì không những làm cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tỷ
suất lợi nhuận cao hơn, mà còn có khả năng phân tán rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng. Phối hợp hài hòa và coi trọng cả ba mảng hoạt động : tín
dụng, thanh toán và dòch vụ ngân hàng thì các NHTM sẽ có cơ hội đứng vững
hơn trong cuộc chạy đua trên thò trường.
3.
Nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại :
3.1 Nghiệp vụ nguồn vốn :
Nghiệp vụ nguồn vốn là nghiệp vụ nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của
NHTM. Nguồn vốn của NHTM bao gồm những loại nguồn vốn sau :
3.1.1
Vốn chủ sở hữu (vốn riêng) :
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá
trình hoạt động. Vốn chủ sở hữu của NHTM gồm :
* Vốn điều lệ : đây là vốn được tạo lập ban đầu khi mới thành lập NHTM và
được ghi vào điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy
đònh của pháp luật. Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng mua sắm tài
sản cố đònh, các phương tiện làm việc và quản lý, tức tạo ra cơ sở vật chất cho

- 12 -
hoạt động của ngân hàng. Ngoài ra các NHTM còn được sử dụng vốn điều lệ để
hùn vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và các hoạt động kinh
doanh khác.
* Các quỹ của ngân hàng : NHTM cũng là một tổ chức kinh tế, vì vậy các
NHTM đều được quyền trích lập các quỹ như các đơn vò kinh tế khác, để sử
dụng cho những mục đích nhất đònh. Ngoài ra, NHTM hoạt động trong lónh vực
kinh doanh tiền tệ và dòch vụ ngân hàng, là một lónh vực đặc biệt nên hầu hết hệ
thống luật ngân hàng ở các nước đều cho phép các NHTM được trích lập “quỹ
dự trữ bổ sung vốn điều lệ”, thông thường quỹ này được trích theo tỷ lệ quy đònh
từ lợi nhuận ròng hàng năm. Các quỹ của NHTM bao gồm : quỹ dự trữ bổ sung
vốn điều lệ (quỹ dự trữ), quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng, quỹ khen thưởng
phúc lợi, …
3.1.2
Vốn huy động :
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp
nhân và thể nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Đây là
nguồn vốn chủ yếu và quan trọng vì nó không những chiếm tỷ trọng lớn trong
tổng nguồn vốn của các ngân hàng mà còn là nguồn tiền nhàn rỗi của xã hội
được huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền
kinh tế xã hội. Vốn huy động theo tính chất được phân loại thành hai nhóm :
* Nhóm 1 : vốn huy động hoạt kỳ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của các tổ
chức kinh tế cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức tín dụng khác. Đây
là loại tiền gửi mà theo tính chất của nó, khách hàng được linh hoạt sử dụng.
Các đơn vò, cá nhân gửi tiền vào tài khoản này không nhằm mục đích hưởng lãi,
mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dòch thanh toán cho chính mình.
* Nhóm 2 : vốn huy động đònh kỳ, bao gồm tiền gửi đònh kỳ, tiền gửi tiết
kiệm của cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, …Đặc điểm của

- 13 -
loại nguồn vốn này là khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong
điều kiện bình thường, các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trước hạn.
Đối với vốn huy động đònh kỳ, người gửi tiền có mục đích xác đònh là hưởng lãi.
Vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, chứ không đòi hỏi hệ
thống dòch vụ hiện đại như đối với nguồn vốn hoạt kỳ.
3.1.3
Vốn đi vay :
Vốn đi vay chiếm vò trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM, nhưng
đồng thời là nguồn vốn mang ý nghóa thiết lập sự cân bằng trong cân đối và sử
dụng vốn của mỗi NHTM. Nguồn vốn đi vay bao gồm :
* Vay ngân hàng Trung ương : ngân hàng Trung ương sẽ tiếp vốn (cho vay)
đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu hoặc cho
vay lại theo hồ sơ tín dụng mà NHTM xuất trình.
* Vay các ngân hàng thương mại khác : các NHTM có thể vay và cho vay lẫn
nhau thông qua thò trường liên ngân hàng hoặc các ngân hàng có thể cho vay
trực tiếp lẫn nhau không qua thò trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, để hệ thống
ngân hàng ổn đònh, hoạt động có hiệu quả hơn thì hoạt động tín dụng giữa các
ngân hàng nên tập trung qua thò trường liên ngân hàng.
3.1.4
Vốn tiếp nhận :
Vốn tiếp nhận là nguồn vốn tiếp nhận từ các nhà tài trợ của chính phủ tổ
chức tài chính hoặc tư nhân để tài trợ theo các chương trình dự án về phát triển
kinh tế xã hội. Ngân hàng nào được chỉ đònh tiếp nhận và chuyển giao vốn này,
được coi là thực hiện dòch vụ trung gian tài chính theo yêu cầu của nhà tài trợ, và
được hưởng thu nhập dưới dạng hoa hồng dòch vụ tài chính trung gian.




- 14 -
3.1.5 Vốn khác :
Vốn phát sinh trong quá trình hoạt động không thuộc các nguồn nói trên như
vốn phát sinh trong khi làm đại lý chuyển tiền, thanh toán, công nợ chưa đến hạn
phải trả, …
3.2 Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư :
Nhiệm vụ cơ bản nhất của bất kỳ một NHTM là chuyển hóa nguồn vốn tiền
tệ huy động được để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế xã hội dưới các hình
thức khác nhau- đó là nghiệp vụ tín dụng và đầu tư.
3.2.1
Nghiệp vụ tín dụng :
Đây là nghiệp vụ trong đó NHTM thỏa thuận với khách hàng (qua hợp đồng
tín dụng) để khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất đònh, trong một thời gian
nhất đònh, có lãi suất và phải hoàn trả. Nghiệp vụ tín dụng bao gồm :
* Cho vay trực tiếp : theo loại hình này, người xin vay tiến hành các thủ tục
vay vốn, ngân hàng sau khi thẩm đònh kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng,
nếu thấy hợp lệ thì ngân hàng sẽ thực hiện việc cho vay. Nghiệp vụ này được
gọi là cho vay trực tiếp vì người đi vay và người trả nợ là một chủ thể.
* Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay được thực hiện bằng cách chiết khấu
chứng từ có giá hoặc mua lại các chứng từ thương mại theo thỏa thuận giữa nhà
ngân hàng với các khách hàng.
* Cho thuê tài chính : đây là loại hình tài trợ dưới hình thức cho thuê máy
móc thiết bò theo yêu cầu của người đi thuê và được thực hiện qua công ty con
của NHTM (công ty cho thuê tài chính)
* Bảo lãnh ngân hàng : bảo lãnh ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký, nhờ
chứng thư bảo lãnh của nhà ngân hàng, mà người được bảo lãnh có thể ký kết và
thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, hợp đồng tài chính một cách thuận
lợi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét