xảy ra hiện tượng này, vì đường sữa đa chuyển thành axit lactic). Tập cho trẻ em uống
sữa đều đặn từ nhỏ, giúp duy trì sự sản sinh men tiêu hoá đường sữa, sẽ tránh được
hiện tượng tiêu chảy nói trên. Thêm vào đó so với các thực phẩm khác và thu nhập
của đại bộ phận gia đinh Việt Nam (nhất là ở các vùng nông thôn) thì giá cả của các
sản phẩm sữa ở Việt Nam vẫn còn khá cao. Còn ở nhiều nước khác, với mức thu nhập
cao, việc uống sữa trở thành một điều không thể thiếu được trong thực đơn hàng
ngày)Những nước có điều kiện kinh tế khá đang xây dựng chương trình sữa học
đường, cung cấp miễn phí hoặc giá rất rẻ cho các cháu mẫu giáo và học sinh tiểu học.
Điều này không chỉ giúp các cháu phát triển thể chất, còn giúp các cháu có thói quen
tiêu thụ sữa khi lớn lên.
1.2 Phân tích kinh doanh
Danh mục sản phẩm của công ty rất đa dạng đáp ứng được nhu cầu ngày càng
cao của người tiêu dùng. Công ty có 4 thương hiệu lớn nhưng chủ lực là Vinamilk và
Dielac, nhãn hiệu Vfresh là nhãn hiệu mới rất có tiềm năng. Danh mụ sản phẩm sữa
là:
Sữa nước :
• Sữa nước cho gia đình: sữa tươi nguyên chất, sữa tuoi tiệt trùng Flex
• Sữa nước cho trẻ em: sữa tiệt trùng Milk Kid
Sữa chua:
• Sữa chua uống
• Sữa chua ăn
• Sữa chua men sống Probi
Sữa bột:
• Sữa bột dành chi bà mẹ mang thai và cho con bú: Dielac Mama
• Sữa bột dành cho trẻ em: Dielac Alpha Step 1, Dielac Alpha Step 2, Dielac
Alpha 123, Dielac Alpha 456
• Sữa bột dành cho trẻ biếng ăn và suy dinh dưỡng: Dielac Pedia
• Sữa bột dành cho người lớn: Vinamilk Canxi, Dielac Sure, Dielac Diecerna
5
• Bột ăn dặm Ridielac Alpha
Sữa đặc có đường:
• Sữa đặc có đường ông thọ
• Sữa đạc có đường ngôi sao Phương Nam
Ngoài ra còn có các sản phẩm như: kem, phô mai, café và sữa và nước trái cây Vfresh
Vinamilk là công ty sản xuất sữa lớn nhất Việt Nam hiện nay, công suất của 9
nhà máy của Vinamilk khoảng 570406 tấn sữa/năm với 200 dòng sản phẩm đa dạng
bao gồm sữa dinh dưỡng, thực phẩm dinh dưỡng, café và một số loại nước giải khát
Bảng 1: Kế hoạch công suất của Vinamilk
Sản phẩm Đơn vị
Công suất
Hiện tại Nhà máy mới Công suất dự kiến
Sữa đặc Triệu hộp 307 109 416
Sữa nước Triệu lít 155 107 262
Sữa chua Triệu lít 53 7 60
Sữa bột Tấn 19000 - 19000
Nguồn Vinamilk. BVSC tổng hợp
Doanh thu chính của Vinamilk là sản xuất và tiêu thụ sữa trong những năm qua
không ngừng tăng lên và luôn giữ vị trí đứng đầu thị trường. Theo bảng 2: thành phần
và cơ cấu doanh thu theo sản phẩm của Vinamilk cho thấy:
Sản phẩm sữa đặc: luôn là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh
thu từ thị trường nội địa của Vinamilk. Đây cũng là sản phẩm có mức tăng trưởng
doanh thu cao, với mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2004-2007 là 22,7%
Hiện tại thị trường sữa đặc của Việt Nam chủ yếu về VNM và Duchlady. Theo số liệu
của tổng cục thống kê từ năm 2000-2007 lượng sữa đặc do các công ty sản xuất tăng
rất nhanh và lớn gấp 3 lần lượng sữa đặc do các công ty nước ngoài sản xuất tại Việt
Nam. Sản phẩm sữa đặc của công ty hiện chiếm khoảng 79% thị phần sữa đặc trong
nước, phần chủ yếu còn lại thuộc về Dutch Lady.
Sản phẩm sữa nước: sản phẩm chiếm tỷ trọng đứng thứ 2 của VNM, chủ yếu
tiêu thụ nội địa và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 31% trong giai đoạn 2004-2007.
6
và chiếm 35% thị phần sữa nước nội địa. Sữa nước có thể là sản phẩm trọng tâm của
công ty trong thời gian tới.
Sữa bột: doanh thu từ sữa bột phụ thuộc vào nhiều hoạt động xuất khẩu. Hiện
được tiêu thụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Trong năm 2005 và 2006, doanh
thu từ sữa bột chiếm tỷ trọng cao, chủ yếu là do hoạt động xuất khẩu duy trì ở mức
cao. Doanh thu xuất khẩu bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trong năm 2008(sau vụ sữa
nhiễm melanmine), sau khi đã giảm mạnh vào năm 2007. VNM chiếm khoảng 13,8%
thị phần sữa bột trong nước. Sữa bột Dielac của VNM không có thế mạnh đáng kể so
với các sản phẩm nhập ngoại có chất lượng cao, được ưa chuộng và phân phối rộng
rãi.
Sữa chua: chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của công ty và có mức tăng
trưởng bình quân 26,2%/năm trong giai đoạn 2004-2007. Tuy nhiên, sản phẩm sữa
chua chiếm khoảng 10% tổng doanh thu của Việt Nam & có mức tăng trưởng bình
quân 26.2%/năm trong giai đoạn 2004 – 2007. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng doanh
thu sữa chua đã giảm xuống mức 10% trong năm 2007, bởi vinamilk hiện đã chiếm
khoảng 97% thành phần thị trường sữa chua là khó có khả năng mở rộng thêm thị
phần nhanh chóng.
Tỷ trọng doanh thu các dòng sản phẩm trong giai đoạn 2009 – 2010 thay đổi
theo hướng tỷ trọng doanh thu từ sản phẩm sữa nước và bột sẽ ngày càng cao trở
thành sản phẩm quan trọng nhất; sản phẩm sữa bột và sữa chua sẽ thấp hơn do tiềm
năng thị trường của các nước lớn hơn sản phẩm sữa khác.
Chi phí nguyên vật liệu (sữa bột và sữa tươi) dùng cho sản xuất chiếm tỷ trọng
lớn trong giá vốn hàng bán (chiếm 89% chi phí sản xuất). Hiện tại 60-70% nguyên
liệu là nhập khẩu (nguyên liệu sữa bột sau quá trình chế biến được hoàn nguyên thành
các sản phẩm sữa khác nhau) phần còn lại sữa tươi được thu mua trong nước.
Hiện công ty đang thu mua 44,5% sản lượng sữa tươi trong nước ( tương đương
30-40 % nguyên liệu dùng trong sản xuất). Do đó lợi thế cạnh tranh về mạng lưới và
chính sách thu mua sữa tươi. VNM đã kí hợp đồng mua khoảng 44,5% sản lượng sữa
7
tươi trong nước hàng năm ( khoảng 140 ngàn tấn trong năm 2007) , cao hơn nhiều so
với các đối thủ cạnh tranh. Khoảng 89% lượng sữa tươi được thu mua tại thành phố
Hồ Chí Minh- khu vực hiện tập trung 75% sản lượng sữa tươi trong nước. Các nhà
máy đặt gần các khu chăn nuôi, thuận tiện cho thu mua và chế biến. Hiện tại công ty
đang tăng lượng mua sữa tươi tại miền Bắc sau sự kiện sữa nhiễm Melanmine để hỗ
trợ nông dân.
Các sản phẩm của VNM chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường nội địa. Doanh thu
thị trường nội địa chiếm trên 85% doanh thu trong năm 2008. Trên thị trường hiện có
khoảng 23 công ty sữa trong đó VNM là công ty lớn nhất chiếm 38%, Dutch Lady :
28% theo sát.
Biểu đồ 1: Cơ cấu doanh thu của Vinamilk theo thị trường
Hệ thống phân phối trong nước: Công ty có 1787 nhân viên bán hàng, 240 nhà
phân phối cùng hơn 141000 điểm bán hàng, cao hơn đối thủ Dutch Lady có khoảng
80000 điểm bán lẻ, Nutifood với 121 nhà phân phối với 60000 điểm bán lẻ.
Sau vụ sữa nhiễm Melanmine, thị phần trong nước của công ty có nhiều khả
năng được mở rộng bởi một số đối thủ quan trọng của công ty gặp những bất lợi từ sự
kiện này và một số sự kiện liên quan đến chất lượng sữa thành phẩm. Trong điều kiện
nhu cầu tiêu thụ sữa ở Việt Nam vẫn đang tăng trưởng tốt, công ty không chịu ảnh
hưởng đây là cơ hội tốt để công ty tăng trưởng thị phần.
Chi phí nguyên liệu đầu vào: Nguyên liệu đầu vào của Vinanmilk bao gồm: bột
sữa các loại 100% nguyên liệu nhập khẩu, sữa tươi 100% nguyên liệu trong nước,
8
đường chủ yếu dùng sản phẩm trong nước. Sữa bột được nhập khẩu từ Châu
Âu,NewZealand, Mỹ, Australia và Trung Quốc. Việc phụ thuộc khá nhiều vào nguyên
liệu nhập khẩu đã khiến cho các công ty sản xuất sữa gặp nhiều khó khăn, bởi trong
giai đoạn 2007-2009 giá nguyên liệu sữa đầu vào tăng mạnh rồi lại giảm đột ngột với
biến động rất khó dự đoán trước.
Hiện nay, do sức tiêu thụ sữa tươi ngày càng tăng và sức tiêu thụ sữa bột
giảm do thu nhập người dân ngày càng tăng nên Vinamilk đang giảm bớt tỷ lệ
nguyên liệu bột sữa nhập khẩu và tăng cường các nguồn cung cấp sữa tươi. Tuy
nhiên, đợt tăng giá nguyên liệu lên 20%-30% mới đây đã ảnh hưởng bất lợi đến sản
xuất, chi phí đầu vào và khả năng sinh lợi của nhiều công ty sữa trong nước, trong đó
có Vinamilk.
Chi phí bán hàng là khoản chi phí chiếm tỷ lệ lớn thứ hai trong giá sữa, từ 5%-
27% giá vốn, trong đó chi phí quảng cáo, khuyến mại từ 1% đến19,2%. Trong khi
đó, thương hiệu uy tín của ngành hàng sữa lại được hình thành chủ yếu là từ quảng
cáo. Có thể thấy mức độ dày đặc của quảng cáo sữa trên các phương tiện thông tin
đại chúng.
Thị trường xuất khẩu không ổn định: doanh thu từ thị trường xuất khẩu trong
những năm qua diễn biến thất thường, thị trường chính của công ty là Iraq (chiếm hơn
80% doanh thu xuất khẩu) có mức ổn định không cao.
Trong giai đoạn 2005-2008, doanh thu nội địa tăng với tốc độ bình quân
21.2%/năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu biến động không ổn định
do tác động của doanh thu xuất khẩu. Lợi nhuận sau thuế của Vinamilk đang tăng
trưởng khá nhanh do lợi nhuận tại thị trường trong nước được duy trì ở mức cao, năm
2009 nộp ngân sách nhà nước gần 1000 tỷ đồng. Lợi nhuận biên đang được duy trì ở
mức cao, tăng từ 24,3% (năm 2006)- 27,4%(năm 2007) đạt mức 31,7% năm 2008, lợi
nhuận sau thuế năm 2009 đạt 2376 tỷ đổng.
1.3 Phân tích cạnh trạnh
a. Mức cạnh tranh
9
Kết quả điều tra từ Báo cáo điều tra thị hiếu tiêu dùng sữa năm 2009 và triển
vọng của AGROINFO cho thấy, thị trường sữa có thể vẫn sẽ sôi động bởi sự gia tăng
nhu cầu tiêu dùng ở thị trường thành thị và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất
sẽ ngày càng khốc liệt. Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sữa Việt Nam không
cao do phải phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu và thiết bị nhập khẩu, chất lượng sữa,
đặc biệt là sữa bột các loại có khả năng cạnh tranh rất kém so với sữa ngoại nhập do
hầu hết nguyên liệu, thiết bị, công nghệ phải nhập khẩu. Tuy nhiên, sản phẩm sữa đặc
có đường, sữa nước và sữa chua được đánh giá là có khả năng cạnh tranh do tỷ lệ sữa
tươi trong nước sản xuất ngày càng cao, các công ty trong nước đã tạo được thương
hiệu và uy tín với khách hàng.
b. Đối tượng chủ yếu cạnh tranh với Vinamilk
Công ty Vinamilk với sản phẩm đa dạng, có lợi thế về hệ thống phân phối rộng
khắp, do đó ngành hàng sữa tươi - tiệt trùng được dự báo vẫn sẽ được người tiêu dùng
tin tưởng trong thời gian tới. Tuy vậy, Vinamilk cũng sẽ chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ
của Dutch Lady, Netslé, Mộc Châu và HanoiMilk.
Tính thị phần theo giá trị thì Vinamilk và Dutch Lady (một liên doanh với Hà
Lan có nhà máy đặt tại Bình Dương) hiện là 2 công ty sản xuất sữa lớn nhất cả nước,
đang chiếm gần 60% thị phần. Sữa ngoại nhập từ các hãng như Mead Johnson,
Abbott, Nestle chiếm khoảng 22% thị phần, với các sản phẩm chủ yếu là sữa bột.
Còn lại 19% thị phần thuộc về khoảng trên 20 công ty sữa có quy mô nhỏ như
Nutifood, Hanoi Milk, Ba Vì
10
Thị phần ngành sữa Việt Nam
Nguồn: Dairy Vietnam, BVSC
Sữa bột hiện đang là phân khúc cạnh tranh khốc liệt nhất giữa các sản phẩm
trong nước và nhập khẩu. Trên thị trường sữa bột, các loại sữa nhập khẩu chiếm
khoảng 65% thị phần, Vinamilk và Dutch Lady hiện đang chiếm giữ thị phần lần lượt
là 16% và 20%.
Hiện nay các hãng sản xuất sữa trong nước còn đang chịu sức ép cạnh tranh
ngày một gia tăng do việc giảm thuế cho sữa ngoại nhập theo chính sách cắt giảm thuế
quan của Việt Nam khi thực hiện các cam kết CEPT/AFTA của khu vực ASEAN và
cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
Phân khúc thị trường sữa đặc và sữa nước chủ yếu do các công ty trong nước
nắm giữ: Chỉ tính riêng Vinamilk và Dutchlady, 2 công ty này đã chiếm khoảng 72%
thị phần trên thị trường sữa nước và gần 100% thị trường sữa đặc, phần còn lại chủ
yếu do các công ty trong nước khác nắm giữ. Sự cạnh tranh của các sản phẩm sữa
nước và sữa đặc nhập khẩu gần như không đáng kể.
Thị trường sữa nước được đánh giá là thị trường có nhiều tiềm năng tăng trưởng
trong tương lai, và đây cũng là thị trường có biên lợi nhuận khá hấp dẫn. Thị trường
các sản phẩm sữa đặc được dự báo có tốc độ tăng trưởng chậm hơn do tiềm năng thị
trường không còn nhiều, đồng thời biên lợi nhuận của các sản phẩm sữa đặc cũng
tương đối thấp so với các sản phẩm sữa khác.
c. Lợi thế cạnh tranh của vinamilk
Thị phần lớn, dây truyền công nghệ hiện đại, mạng lưới phân phối rộng, thương
hiệu mạnh là những nét nổi bật mà VNM hiện đang sở hữu cho vị trí dẫn đầu ngành
11
sản xuất sữa tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên có một điểm đáng chú ý cho toàn
ngành (không phải chỉ riêng VNM) là hiện nay nguồn nguyên liệu chính để sản xuất
là sữa bột lại phải nhập khẩu phần lớn (chiếm đến 70% nhu cầu nguyên liệu). VNM
đang sở hữu 5 trang trại chăn nuôi bò sữa ở Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình
Định và Lâm Đồng. Hiện nay sản lượng sữa nguyên liệu do các trang trại của VNM
cung cấp và thu mua ngoài của các hộ nông dân mới chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu.
Dự kiến đến năm 2012 nguyên liệu trong nước sẽ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu
sản xuất nhờ có đàn bò dự kiến lên tới 10,000 con. Hiện nay trang trại chăn nuôi tại
Nghệ An đang được xây dựng trở thành trang trại chăn nuôi hiện đại nhất Đông Nam
Á với quy mô lên đến 49ha với số lượng bò thuần chủng lên tới 3,000 con (dự kiến).
Đây có thể thấy là những bước chuẩn bị cơ sở của VNM để có thể chủ động hơn về
nguồn nguyên liệu và giảm thiểu được rủi ro từ biến động giá thế giới cũng như biến
động tỷ giá trong nước.
Việt Nam hiện đang là một thị trường tiềm năng không chỉ đối với VNM mà
toàn ngành sữa khi dân số hiện nay là 90 triệu dân. Trong đó, trẻ em chiếm tới 36%,
tốc độ tăng trưởng dân số bình quân hàng năm là 1.5% và tốc độ tăng trưởng thu nhập
khoảng 5% /năm. Thu nhập ngày càng được cải thiện cùng với sự gia tăng của dân số
trẻ sẽ là yếu tố khiến cho sức cầu các sản phẩm có lợi cho sức khỏe như sữa ngày
được nâng cao.
Sữa đặc, sữa nước và sữa chua là những mặt hàng VNM chiếm lĩnh được phần
lớn thị phần trong nước nhờ thời gian hoạt động tương đối lâu hơn so với các công ty
khác. Cạnh tranh lớn nhất trong các dòng sản phẩm của VNM hiện nay có lẽ là sản
phẩm sữa bột(đặc biệt là sữa bột dành cho trẻ em) từ các hãng ngoại nhập khẩu như
Dutch Lady, Nestle, Abbott, Mead Jonhson,…
Đối với các sản phẩm chức năng như sữa đặc, sữa bột dành cho trẻ nhỏ, phụ nữ
mang thai hay người già thì các sản phẩm thay thế không nhiều bởi khó có loại sản
phẩm nào có thể thay thế hoàn toàn cho chức năng của chúng.
12
Theo cam kết của WTO, thuế suất đối với sữa bột thành phẩm nhập khẩu cho
đến năm 2012 là 25% năm. Tuy nhiên hiện nay cả thuế nhập khẩu sữa bột nguyên liệu
cũng như sữa bột thành phẩm đều thấp hơn so với cam kết. Do đó trong một vài năm
tới khi áp dụng mức thuế suất mới này không chỉ giá sữa ngoại tăng mà ngay cả các
sản phẩm sữa nội địa cũng sẽ tăng giá theo. Với lợi thế nhờ quy mô và truyền thống
hoạt động lâu năm chắc chắn VNM không phải chịu sức ép về lợi nhuận biên như
những công ty mới. Thêm vào đó đối với các công ty sản xuất hàng tiêu dùng như
VNM, hệ thống đại lý rộng khắp trên cả nước. Đối với các doanh nghiệp mới có dự
định thâm nhập vào thị trường còn tiềm năng này thì đây cũng là một thử thách tương
đối lớn.
1.4 Phân tích khách hàng
Mặc dù tốc độ tăng trưởng doanh thu chưa thực sự ổn định song lợi nhuận lại
tăng trưởng khá đều, trung bình đạt khoảng 30%/năm. Đặc biệt năm 2009 mặc dù tình
hình kinh tế gặp khó khăn chung, song lợi nhuận của VNM tăng gần gấp đôi so với
năm trước đóng góp đến 90% doanh thu của VNM, một phần nhỏ doanh thu xuất khẩu
đến từ các nước như Trung Đông, Campuchia, Philippines và Úc với hai sản phẩm
chính là sữa bột và sữa đặc. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, công ty vẫn đang
xác định việc phát triển sản phẩm cho thị trường nội địa là mục tiêu chính, thị trường
nước ngoài sẽ là mục tiêu cho giai đoạn về sau.
Theo số liệu thu thập được hiện nay thị phần các mặt hàng của VNM như sau:
sữa chua 97%, sữa đặc 70%, sữa nước 55%, sữa bột 35% thị phần của cả nước. Như
vậy có thể thấy với lợi thế về quy mô và kinh nghiệm thì sữa đặc và sữa chua là hai
mặt hàng mà khó đối thủ nào có thể cạnh tranh với công ty tại thời điểm hiện tại.
Đồng thời có thể chứng tỏ rằng xu hướng chuộng sữa ngoại của khách hàng vẫn rất
lớn. Chất lượng sữa bột của Vinamilk không thua kém sữa ngoại vì tuân thủ công
nghệ quốc tế, trình độ quản trị quốc tế. Bằng chứng là Vinamilk hiện nay vẫn đang
xuất khẩu sản phẩm sữa bột cho trẻ em ra nước ngoài. Mỗi năm, xuất khẩu tới 70 triệu
USD sữa cho trẻ em sang Trung Đông. Công bằng mà nói, các hãng nước ngoài trội
13
hơn ta về mức độ tự động hoá và năng suất. Người ta tự động hoá toàn bộ, ta từng
phần. Còn trong chế biến sữa tươi, sữa bột, sữa chua, ta sản xuất như thế giới, chất
lượng ổn định, đảm bảo các yêu cầu về dinh dưỡng. Viện Dinh dưỡng quốc gia đã làm
test trên trẻ em uống sữa bột ngoại và Vinamilk, kết quả các chỉ tiêu của sữa nội
không thua kém, thậm chí còn nhỉnh hơn.
Vậy lý do tại sao khách hàng lại lựa chọn sản phẩm sữa ngoại, phải chăng là do
tâm lý "tiền nào của ấy".
1.5 Phân tích SWOT
S (điểm mạnh) W (Điểm yếu)
-S1: Vinamilk là công ty sữa hàng đầu
Việt Nam được hỗ trợ bởi truyền thống
hoạt động uy tín, cũng như thương hiệu
được xây dựng tốt.
- S2: Sản phẩm đa dạng thích hợp cho
các độ tuổi và đáp ứng các nhu cầu khác
nhau.
- S3: VNM có mạng lưới phân phối và
bán hàng trải rộng trên cả nước. Các đại lý
của VNM cũng được trang bị hệ thống tủ
đông để bảo quản sản phẩm sữa đến tay
người tiêu dùng.
- S4: Nhờ có ban lãnh đạo và điều hành
tốt. Điều này thể hiện ở khả năng kiểm
soát chi phí đầu vào ổn định, lợi nhuận của
công ty tăng trưởng ổn định qua các năm.
- S5: Có số vốn lớn và hệ thống PR rất tốt
- W1: Hiện nay mặc dù VNM đang có kế
hoạch xây dựng trang trại bò sữa trong
nước song nguyên liệu phần lớn vẫn phải
nhập khẩu do đó sẽ chịu tác động bởi các
yếu tố như: giá thế giới, tỷ giá…
- W2: Giá thành các sản phẩm từ sữa
hiện nay nếu như so sánh với các nước phát
triển trên thế giới vẫn đang ở mức khá cao.
Điều này khiến cho một phần đối tượng
người tiêu dùng trong nước có thể tiếp cận
với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
- W3: Thị phần lớn, thương hiệu mạnh
nhưng nếu so sánh về giá cả thì các sản
phẩm của công ty chưa có tính cạnh tranh
cao so với các sản phẩm khác
O (Cơ hội) T (Thách thức)
- O1: Thị trường sữa Việt Nam ngày
càng phát triển do thu nhập người dân
ngày càng được cải thiện, nhu cầu tiêu
dùng các sản phẩm tăng cường sức khỏe
như sữa ngày một tăng thêm.
- O2:Với lợi thế là một doanh nghiệp
nội địa lớn trong ngành, VNM sẽ dễ dàng
khi tìm hiểu thị hiếu người tiêu dùng nếu
như so sánh với các hãng sữa ngoại khác.
- O3: Hệ thống phân phối tốt cũng là
- T1: Sữa (đặc biệt là sữa bột nhập khẩu
dành cho trẻ em) hiện nay vẫn nhận được
sự quan tâm của người tiêu dùng trong
nước. Sữa nước, sữa chua và sữa đặc là
những sản phẩm mà VNM đã chiếm được
thị phần lớn. Tuy nhiên sự cạnh tranh ở
phân khúc sữa bột ngày càng khó khăn hơn
do tâm lý sính sữa ngoại của người tiêu
dùng.
- T2: Thị trường xuất khẩu chỉ đóng góp
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét