Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Luận văn thạc sĩ về Thực trạng và một số giải pháp thúc đẩy XK hàng dệt may VN vào thị trường Nhật Bản

5
lượng, tiêu chuẩn môi trường, kỹ thuật, hạn ngạch … mà các doanh nghiệp Việt
Nam luôn vướng mắc.
Nói như vậy không có nghóa là thò trường Nhật không có những yêu cầu cao về
chất lượng sản phẩm; họ cũng có những qui đònh riêng khắt khe cho sản phẩm
dệt may. Tuy nhiên, so với hai thò trường Mỹ và EU, nhìn chung các doanh
nghiệp Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận và thâm nhập sâu
hơn : quan hệ hai nước tốt đẹp, là thò trường không có rào cản về hạn ngạch,
cùng có những tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán trong sinh hoạt. Vì
vậy nghiên cứu về thò trường này là một điểm mới của đề tài này. Bên cạnh đó
đề tài cũng sẽ đề cập thêm một số nét cơ bản về văn hóa trong đời sống hàng
ngày ảnh hưởng đến cách ăn mặc của người Nhật, từ đó giúp các nhà xuất khẩu
dệt may Việt Nam đề ra được chính sách sản phẩm cho phù hợp với thò trường
này.
5. Kết cấu của đề tài: Luận án gồm 5 chương như sau
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Nhật Bản và một số vấn đề cần nắm vững khi xuất khẩu vào thò
trường Nhật
Chương III: Phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
vào thò trường Nhật trong thời gian qua.
Chương IV: Một số nét về văn hóa và lối sống ảnh hưởng đến cách ăn mặc của
người Nhật
Chương V: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may vào Nhật.





6
MỤC LỤC

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I_ Học thuyết về thương mại quốc tế
1. Học thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo 1
2. Quy luật tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất (H-O) 2
II_Một số vấn đề liên quan đến cách thức thâm nhập thò
trường nước ngoài cho một sản phẩm
1. Thò trường mục tiêu 3
2. Sản phẩm 4
III_Tổng quan về tình hình dệt may thế giới 5

CHƯƠNG II: NHẬT BẢN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỮNG KHI
XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT.
1. Giới thiệu về Nhật Bản
1.1 Đất nước và con người Nhật Bản 9
1.2 Kinh tế Nhật Bản trong những năm gần đây 10
2. Quan hệ Việt – Nhật
2.1 Những dấu mốc trong quá trình tái thiết quan hệ Việt – Nhật 14
2.2 Quan hệ thương mại, đầu tư Việt – Nhật 15
3. Thò trường dệt may Nhật và những vấn đề cần nắm
vững khi xuất khẩu vào thò trường này
3.1 Đặc điểm chung về thò trường dệt may Nhật 17
3.2 Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của Nhật 19
các mặt hàng nhập, các nước xuất khẩu chính sang thò trường Nhật
7
3.3 Các qui đònh và qui trình nhập khẩu hàng dệt may vào Nhật
3.3.1 Qui trình 29
3.3.2 Thuế nhập khẩu và thuế tiêu thụ 33
3.3.3 Tiêu chuẩn cho hàng công nghiệp nói chung 34
và dệt may nói riêng (JIS)
3.3.4 Hệ thống phân phối, tiêu thụ hàng dệt may tại Nhật 38
3.3.5 Luật lệ chung cho các sản phẩm nhập khẩu 40
3.3.6 Một số cơ quan điều hành liên quan xuất nhập khẩu dệt may 41

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG NHẬT TRONG THỜI
GIAN QUA.
1. Vài nét về tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam
1.1 Thực trạng về tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam 42
trong thời gian qua
1.2 Cơ cấu thò trường xuất khẩu dệt may của Việt Nam 44
2. Phân tích, đánh giá tình hình xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật
2.1 Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào Nhật
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu dệt may vào thò trường Nhật 46
2.1.2 Cơ cấu xuất khẩu dệt may vào thò trường Nhật theo mặt hàng 48
2.2 Đánh giá tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam vào Nhật 48
3. Những thuận lợi, khó khăn khi xuất khẩu dệt may
sang thò trường Nhật Bản
3.1 Những thuận lợi
3.1.1 Thuận lợi xuất phát từ nội tại 50
8
3.1.2 Thuận lợi có được từ sự hỗ trợ bên ngoài 51
3.2 Những khó khăn
3.2.1 Khó khăn và tồn tại rút ra từ thực tế ở các doanh nghiệp
Khó khăn 1: Liên quan đến vấn đề lao động và năng suất 52
lao động của ngành dệt may
Khó khăn 2: Liên quan đến nguyên phụ liệu, giá gia công, 54
chi phí sản xuất và máy móc thiết bò.
Khó khăn 3: Liên quan đến vấn đề vận chuyển, thủ tục hải 56
quan, đầu tư, giải ngân
Khó khăn 4: Liên quan đến vấn đề sản phẩm và tiếp cận thò trường 56
3.2.2 Khó khăn do từ yêu cầu của thò trường Nhật và tác động bên ngoài
Khó khăn 1: liên quan đến thời hạn giao hàng và hệ thống phân phối 58
Khó khăn 2: liên quan đến nhu cầu và thò hiếu người tiêu dùng Nhật Bản 59

CHƯƠNG IV: MỘT SỐ NÉT VỀ VĂN HÓA VÀ LỐI SỐNG 62
ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁCH ĂN MẶC CỦA NGƯỜI NHẬT

CHƯƠNG V: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY
VÀO NHẬT
1. Mục đích xây dựng giải pháp 65
2. Căn cứ xây dựng giải pháp
2.1 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc 66
2.2 Bài học kinh nghiệm từ Campuchia 66
3. Các giải pháp
3.1 Nhóm giải pháp để khắc phục khó khăn rút ra từ thực tế doanh nghiệp
9
3.1.1 Giải pháp khắc phục vấn đề về lao động và năng suất lao động 68
3.1.2 Giải pháp khắc phục vấn đề liên quan đến nguyên phụ liệu, 69
giá gia công, chi phí sản xuất và máy móc thiết bò
3.1.3 Giải pháp liên quan vấn đề vận chuyển, thủ tục hải quan và đầu tư 70
3.1.4 Giải pháp liên quan vấn đề sản phẩm và tiếp cận thò trường 70
3.2 Nhóm giải pháp để khắc phục khó khăn do đặc điểm của thò trường Nhật
3.2.1 Giải pháp khắc phục khó khăn liên quan đến thời hạn 73
giao hàng và hệ thống phân phối
3.2.2 Giải pháp khắc phục khó khăn liên quan đến thò hiếu và 74
nhu cầu người tiêu dùng Nhật

KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
10

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I_ HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1. Học thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo
Một cách tóm tắt, luận án xin điểm lại một số nét chính của học thuyết như sau:
- Mọi nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào quá trình phân công
lao động quốc tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả
năng tiêu dùng của một nước : chỉ chuyên môn hóa vào sản xuất một số
sản phẩm nhất đònh và xuất khẩu hàng hóa của mình để đổi lấy hàng
nhập khẩu từ các nước khác.
- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác, hoặc bò
kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm,
thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và
thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một số lợi thế so sánh nhất đònh về
một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất đònh về các mặt hàng
khác.
- Điều chính yếu trong lý thuyết của Ricardo là thương mại quốc tế không
yêu cầu sự khác nhau về lợi thế tuyệt đối. Thương mại quốc tế có thể xảy
ra khi có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ khi nào mà tương
quan về lao động cho mỗi sản phẩm khác nhau giữa hai loại hàng hóa.
Tuy nhiên học thuyết của Ricardo còn có những hạn chế cơ bản sau đây:
- Các phân tích của Ricardo không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu dùng
của mỗi nước, cho nên đưa vào lý thuyết của ông người ta không thể xác
đònh giá tương đối mà các nước dùng để trao đổi sản phẩm.
11
- Các phân tích của Ricardo không đề cập tới chi phí vận tải, bảo hiểm
hàng hóa và hàng rào bảo hộ mậu dòch mà các nước dựng lên. Các yếu tố
này ảnh hưởng quyết đònh đến hiệu quả của thương mại quốc tế.
- Lý thuyết của Ricardo không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận
lợi của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải
thích triệt để nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế.
2. Quy luật tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất (H-O)
Khắc phục hạn chế của Ricardo, E.Hecksher và B.Ohlin đã cố gắng giải thích
hiện tượng thương mại quốc tế như sau: “Trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi
nước đều hướng đến chuyên môn hóa các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng
nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất “. Nói cách khác, bằng
cách thừa nhận là mỗi sản phẩm đòi hỏi một sự liên kết khác nhau các yếu tố
sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai …) và có sự chênh lệch giữa các
nước về yếu tố này, mỗi nước sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất
cho phép sử dụng các yếu tố với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với các
nước khác. Như vậy cơ sở của sự trao đổi buôn bán quốc tế theo H-O là lợi thế
tương đối.
Tóm lại học thuyết H-O khuyến khích mọi nước đều tham gia vào quá trình
thương mại quốc tế, ngay cả những nước không có thể có lợi thế tuyệt đối.
Nghiên cứu các học thuyết về thương mại quốc tế chúng ta rút ra những kết luận
cơ bản sau:
- Quá trình thương mại quốc tế mang tính tất yếu khách quan vì rằng kinh
tế thế giới là một tổng thể thống nhất và sự phân công lao động quốc tế là
một tất yếu khách quan.
- Phát triển thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho mọi quốc gia, nước
giàu có cũng như nước nghèo kém phát triển.
12
- Cơ sở để phát triển xuất khẩu của mỗi quốc gia là phải dựa vào lợi thế
tương đối và tuyệt đối của mình và thực hiện nhập khẩu những mặt hàng
mà mình không không có lợi thế để phát triển.

II_CÁCH THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI CHO MỘT SẢN
PHẨM:
1. Thò trường mục tiêu:
Các yếu tố liên quan đến thò trường được phân bổ thành ba nhóm chính sau:
- Sự phân bố tự nhiên, kích cỡ và đòa lý của các khách hàng: nếu các khách
hàng tiềm năng có nhiều đặc điểm khác nhau, nếu họ phân tán rộng về
đòa lý và nếu họ mua thường xuyên với khối lượng nhỏ, thì nên sẵn có
nguồn hàng lớn đòi hỏi sử dụng các nhà bán buôn và các nhà bán lẻ trong
thò trường.
- Nhu cầu, mong muốn và sở thích của các khách hàng
- Mức độ phát triển kinh tế của thò trường nước ngoài là yếu tố quyết đònh
cách thức thâm nhập thò trường mà ở đó nó ảnh hưởng đến toàn bộ cơ cấu
của các kênh thay thế, tức là cấu trúc phân phối.
- Ngoài ra mức độ ổn đònh về chính trò và sự nới lỏng các hàng rào pháp
luật có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh marketing trong thò trường
mục tiêu. Cả hai yếu tố đều bắt nguồn từ chính sách của chính phủ và là
các thuộc tính của một thò trường. Chẳng hạn một thò trường có một mức
độ ổn đònh chính trò không cao về chính trò sẽ kéo theo một mức độ rủi ro
cao cho một công ty sử dụng xuất khẩu trực tiếp hoặc sản xuất ở nước
ngoài, trong đó việc thanh toán có thể bò chậm trễ, bò tắc nghẽn hoàn toàn
hoặc bò hạn chế lượng cung tiền tệ mong muốn. Trong trường hợp này
xuất khẩu gián tiếp sẽ tốt hơn cho nhà sản xuất.
2. Sản phẩm :
Bản chất của sản phẩm ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh marketing vì các sản
phẩm khác nhau rất lớn về đặc tính của chúng (giá trò đơn vò, trọng lượng, và
13
dung lượng, sự phức tạp về công nghệ …) và khác nhau về cách sử dụng; vì vậy
việc bán hàng cũng khác nhau rõ rệt. Chẳng hạn tính chất công nghệ của sản
phẩm có thể đòi hỏi dòch vụ cả trước và sau khi bán hàng.
Giai đoạn phát triển của một sản phẩm cũng như tính chất mới lạ tương đối của
nó đối với thò trường nước ngoài có thể có mối quan hệ với các kênh được sử
dụng. Nếu một công ty có một sản phẩm ít được biết đến thì có thể thấy sản
phẩm này sẽ trở nên phổ biến hơn nếu dựa vào người bán buôn và các đại lý
hơn là cố gắng bán trực tiếp.
Trong chính sách phát triển sản phẩm, có ba kiểu chính sách đáng được chú ý :
sức hấp dẫn, sức đẩy và sức kéo. Chính sách hấp dẫn là một chính sách không
mang tính xúc tiến thương mại, ở đây các nhà marketing quốc tế chỉ bán cho một
người trung gian và để cho sản phẩm tìm con đường riêng để đến với người tiêu
dùng và người sử dụng cuối cùng. Chính sách đẩy là một trong những chính
sách mang tính xúc tiến thương mại thông qua kênh marketing. Các thành viên
của kênh phải năng nổ bán hàng và quảng cáo sản phẩm đến các thành viên
khác ở cấp thấp hơn của kênh phân phối. Chính sách kéo nghóa là các nhà
Marketing quốc tế tiến hành hàng loạt quảng cáo ở thò trường mục tiêu để người
tiêu dùng bò thuyết phục mua; hay nói cách khác nghóa là làm mọi hành động để
tạo ra nhu cầu; sau đó người tiêu dùng sẽ “kéo” sản phẫm đi qua kênh phân phối
bằng cách đưa ra các yêu cầu về sản phẩm đối với nhà trung gian.
Một yếu tố khác mà các nhà xuất khẩu cần quan tâm đó là những khoảng cách
về văn hóa, dân tộc, môi trường, và khoảng cách không gian. Khoảng cách về
văn hóa bắt nguồn từ những vấn đề liên quan đến sự giao tiếp giữa những người
đến từ những người có cách cư xử, phong tục xã hội, và những quan điểm khác
nhau. Có vài cá nhân mang quan điểm mang tính đa dân tộc nhưng phần lớn
người ta đồng tình duy nhất với quan điểm một quốc gia mà họ đã nguyện lòng
14
trung thành dân tộc với quốc gia đó. Khoảng cách môi trường liên quan đến việc
các cá nhân trong một nước nỗ lực đưa ra những quyết đònh tốt nhất cho các
quốc gia khác, và cho những cá nhân khác. Khoảng cách không gian bắt nguồn
chủ yếu từ khoảng cách đòa lý cùng với những hạn chế của phương tiện liên lạc
hiện tại. Khắc phục được những khoảng cách này sẽ giúp các nhà xuất khẩu có
được hệ thống kênh hoạt động có hiệu quả, trôi chảy.
III_TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DỆT MAY THẾ GIỚI :
Năm 1995 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may toàn thế giới là 311 tỷ USD
(trong đó hàng dệt là USD 153 tỷ và hàng may mặc là USD 158 tỷ). Những nước
xuất khẩu chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản,
Đức, Italy, Bỉ, Pháp, Mỹ. Những nước nhập khẩu chủ yếu là Đức, Anh, Pháp,
Italy, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ (trích “Quan hệ kinh tế quốc tế,
GSTS Võ Thanh Thu (2003), NXB Thống kê).
Dự báo nhu cầu về dệt may của thế giới tăng nhanh với tốc độ hàng năm 5 -7%
do nguyên nhân là dân số thế giới tăng đạt 6,5 tỷ người vào năm 2020 và đời
sống của người dân trên thế giới được cải thiện. Dự báo nhu cầu về dệt may thế
giới khoảng 600 tỷ USD / năm
(trích “Quan hệ kinh tế quốc tế, GSTS Võ Thanh Thu
(2003), NXB Thống kê)
.
Theo thống kê của WTO, trong giai đoạn 1995 – 2000, kim ngạch mậu dòch
hàng may công nghiệp thế giới mỗi năm chiếm khoảng 4-5% tổng kim ngạch
hàng mậu dòch thế giới. Trong đó ngành may mặc của khu vực Châu Á chiếm
60% lượng may mặc của thế giới.
Vấn đề nổi cộm mà các nhà xuất khẩu dệt may trên thế giới được đánh dấu vào
ngày 01/01/2005, khi mà các nước thuộc thành viên của WTO được bãi bỏ chế
độ hạn ngạch khi xuất khẩu hàng dệt may sang EU, Mỹ. Chúng ta đã biết khi
còn hạn ngạch, sản xuất hàng may mặc không theo đúng quy luật thò trường.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét