Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn Quốc những năm qua ở Việt Nam

Khoá luận tốt nghiệp
Chương 1: SƠ LƯỢC PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm chung
1.1.1.Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Ở nước ta trong hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển và
không còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xã hội. Vì vậy, việc điều chỉnh các
quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài đã trở thành một yêu cầu cấp bách nhằm
làm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ được quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân các nước liên quan.
Để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, Nhà nước ta đã
ban hành một số văn bản pháp luật khác nhau trong từng thời kỳ mà điển hình là
Pháp lệnh HN & GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được Uỷ
ban thường vụ Quốc hội (khoá IX) thông qua ngày 2/12/1993, pháp lệnh là sự cụ
thể hóa quy định tại điều 53 Luật HN&GĐ1986. Pháp lệnh đã định ra những
nguyên tắc làm cơ sở cho việc chon luật được áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật trong quan hệ HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký nhiều Hiệp định tương trợ tư pháp
với các nước mà mở đầu là Cộng hòa dân chủ Đức năm 1980. Có thể nói, các
văn bản pháp luật trên đã góp một phần rất quan trọng trong việc điều chỉnh
quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài. Sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000(Luật HN&GĐ2000 ) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc
giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, Luật
đã dành hẳn một chương(Chương IX ) để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố
nước ngoài. Khoản 14 điều 8 Luật HN&GĐ2000 quy định:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân
và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 điều 100 thì: “Các quy định của
chương này cũng được áp dụng đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa
công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”
Như vậy, theo các quy định trên, quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài có
thể được hiểu là các quan hệ HN&GĐ sau:
Thứ nhất: Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài: Như vậy, một
trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệ
HN&GĐ có yếu tố nước ngoài là vấn đề quốc tịch của các bên chủ thể. Quốc
tịch được hiểu là mối quan hệ pháp lý hai chiều, được xác lập giữa cá nhân với
quốc gia nhất định, trong xã hội hiện đại, quốc tịch là căn cứ pháp lý duy nhất để
xác định ai là công dân của một quốc gia và trên cơ sở đó, làm phát sinh các
quyền, nghĩa vụ giữa Nhà nước và công dân. Ở Việt Nam, vấn đề này được quy
định trong Luật quốc tịch 2008, trong đó người nước ngoài được hiểu là người
không có quốc tịch của nước nơi mà họ đang cư trú bao gồm người có quốc tịch
nước ngoài và người không có quốc tịch:
Mặc dù Luật quốc tịch 2008 không quy định cụ thể về khái niệm người có
quốc tịch nước ngoài nhưng tại khoản 1 điều 3 khi giải thích thuật ngữ “ quốc
tịch nước ngoài” thì có thể hiểu, người có quốc tịch nước ngoài là người có quốc
tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam. Người có quốc tịch
nước ngoài có thể là người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài. Thực tế
hiện nay, đa số các quốc gia trong quan hệ quốc tế đều thừa nhận nguyên tắc
công dân quốc gia mang một quốc tịch là quốc tịch của quốc gia( nguyên tắc một
quốc tịch). Tuy nhiên thực tế vẫn xuất hiện tình trạng công dân của quốc gia
đồng thời mang hai hay nhiều quốc tịch, điều đó đồng nghĩa với việc người hai
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
hay nhiều quốc tịch sẽ xác lập mối quan hệ pháp lý giữa họ với không chỉ một
quốc gia mà với cả hai hay nhiều quốc gia mà họ mang quốc tịch.
Đối với người không quốc tịch, khoản 2 điều 3 Luật quốc tịch 2008 quy
định: “ Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng
không có quốc tịch nước ngoài” Như vậy, không quốc tịch được hiểu là tình
trạng pháp lý mà theo đó, một người không có quốc tịch của nước nào, hiện
tượng này xuất hiện trong các trường hợp sau:
- Có sự xung đột pháp luật của các nước về vấn đề quốc tịch;
- Khi một người đã mất quốc tịch cũ nhưng chưa có quốc tịch mới;
- Khi trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ của nước áp dụng nguyên tắc nguyên
tắc quyền huyết thống mà cha, mẹ là người không quốc tịch.
Có thể nói, không quốc tịch là tình trạng không bình thường nên trong
phạm vi quốc tế và ngay cả Việt Nam ta, cho đến nay đã có những nỗ lực lớn để
giảm bớt tình trạng này.
Tóm lại, căn cứ vào chủ thể tham gia thì quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước
ngoài có thể xảy ra trong các trường hợp sau: Giữa người Việt Nam với người
nước ngoài, giữa người Việt Nam với người không quốc tịch, giữa người nước
ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa người không có quốc tịch với nhau
thường trú tại Việt Nam.
Thứ hai: Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi,
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài (điểm C, khoản 4 điều
18LHNGDD2000):
Theo quy định này có thể hiểu, pháp luật Việt Nam thừa nhận việc phát
sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với nhau
theo pháp luật nước ngoài trong một chừng mực nhất định, điều này đồng nghĩa
với việc Việt Nam thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên
đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở
rộng quan hệ đa phương của nước ta với nước ngoài.
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở Ba Lan, họ có hai
con(một trai, một gái ) cùng bất động sản và động sản ở Ba Lan. Hai người sinh
sống với nhau ở Ba Lan 17 năm, nay trở về Việt Nam được 3 năm thì ly hôn.
Theo pháp luật Việt Nam, tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ ly hôn,
tuy nhiên việc giải quyết chỉ có thể được khi:
a) Tòa án Việt Nam công nhận việc kết hôn của hai công dân Việt Nam ở
Ba Lan là hợp pháp;
b) Tài sản của họ ở Ba Lan là hợp pháp
Như vậy để đảm bảo quyền lợi của cặp vợ chồng trên cũng như lợi ích của
con cái họ, tòa án Việt Nam không thể giải quyết nếu không tính tới việc trong
chừng mực nào đó cần thiết phải áp dụng Luật Ba Lan. Qua ví dụ trên cho thấy
sự cần thiết phải áp dụng luật nước ngoài để giải quyết các quan hệ sự quốc tế là
một nhu cầu khách quan để bảo đảm lợi ích, công bằng xã hội. Tuy nhiên, pháp
luật nước ngoài chỉ được xem xét áp dụng đối với quan hệ giữa công dân Việt
Nam với nhau trong khoảng thời gian họ cư trú trên lãnh thổ nước đó mà thôi,
hơn nữa không phải trong mọi trường hợp Việt Nam đều công nhận tính hợp
pháp của quan hệ hôn nhân đó, theo quy định tại điều 759 Bộ luật dân sự năm
2005( BLDS2005) và điều 101 Luật HN&GĐ2000 thì về nguyên tắc, pháp luật
nước ngoài chỉ được áp dụng trên lãnh thổ của Việt Nam để điều chỉnh quan hệ
hôn nhân và gia đình trong trường hợp quan hệ đó có người nước ngoài tham
gia, có quy phạm pháp luật dẫn chiếu tới việc áp dụng đó hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, vì vậy
nếu việc kết hôn đó trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam
như vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều kiện kết
hôn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam sẽ không công nhận,
việc áp dụng luật nước ngoài phải luôn gắn liền với việc bảo đảm độc lập, chủ
quyền bình đẳng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh, ổn định chế độ
xã hội chủ nghĩa và nền tảng pháp luật của nước ta, chính vì vậy hầu như không
thể có việc một quốc gia này đương nhiên lại thừa nhận việc áp dụng pháp luật
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
của một quốc gia khác để điều chỉnh các quan hệ của công dân nước mình. Tuy
nhiên, theo quy định tại điểm C khoản 14 điều 8 Luật HN&GĐ2000 thì quan hệ
HN&GĐ có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa “ công dân Việt Nam với nhau
mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài” .
Quy định này là chưa chính xác và cần được sửa đổi bởi lẽ sự kiện pháp lý là
căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó không chỉ theo pháp luật
nước ngoài mà còn phải xảy ra ở nước ngoài, có nghĩa là sự kiện pháp lý đó phải
phát sinh ở nước ngoài, điều này là phù hợp với quy định tại điều
758BLDS2005: “ Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít
nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, hoặc
là các quan hệ dân sự giữu các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam
nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước
ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó tại nước
ngoài
Thứ ba: Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan
đến quan hệ đó ở nước ngoài. Trong trường hợp này, các bên chủ thể đều là công
dân Việt Nam nhưng tài sản đang tranh chấp lại nằm ở nước ngoài. Tuy nhiên có
thể thấy tranh chấp về tài sản ở nước ngoài không chỉ xảy ra giữa công dân Việt
Nam với nhau mà còn trong cả quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài. Ví dụ: Trường hợp hai vợ chồng được hưởng thừa kế một khối tài sản của
gia đình chồng ở Mỹ.
Trong Tư pháp quốc tế, khi giải quyết vấn đề tài sản giữa vợ và chồng mà
tài sản ở nước ngoài thì vấn đề chọn luật áp dụng sẽ được đặt ra. Như ví dụ trên,
việc xác định quan hệ vợ chồng đối với khối tài sản này sẽ do pháp luật của Mỹ
hoặc pháp luật của Việt Nam điều chỉnh. Luật Việt Nam sẽ được áp dụng trên cơ
sở luật quốc tịch( Lex societatis) của các bên chủ thể, luật Mỹ sẽ được áp dụng
trên cơ sở luật nơi có vật. Trong trường hợp này, nếu tài sản là bất động sản thì
áp dụng theo nguyên tắc luật nơi có vật( Lex rei sitae) để điều chỉnh. Theo đó,
pháp luật của Mỹ sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ và chồng
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
* Theo quy định tại khoản 4 điều 100 Luật HN&GĐ2000 thì: “Các quy
định của chương này cũng được áp dụng đối với các quan hệ hôn nhân và gia
đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước
ngoài”
Trước khi Luật quốc tịch 2008 được ban hành, thuật ngữ “ người Việt Nam
định cư ở nước ngoài” được sử dụng trong nhiều văn bản pháp luật của Việt
Nam. Tuy nhiên các văn bản trước đây chưa có sự giải thích rõ ràng khái niệm
này. Chẳng hạn, điều 2 Luật quốc tịch 1998 đưa ra hai thuật ngữ “ Người Việt
Nam ở nước ngoài” và “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” đồng thời giải
thích: “ Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt
Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” và “ Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài “ là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn,
sinh sông lâu dài ở nước ngoài”. Cách giải thích này không rõ ràng, đặc biệt là
chưa có sự phân biệt giữa “ thường trú ở nước ngoài” và “ cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài ở nước ngoài”. Luật quốc tịch 2008 ngoài việc lược bỏ thuật ngữ “
Người Việt Nam ở nước ngoài” đã bổ sung giải thích cụm từ “ Người gốc Việt
Nam ở nước ngoài”. Theo điều 3 Luật quốc tịch 2008 “ Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu
dài ở nước ngoài”. Quy định trên cho thấy, yếu tố cư trú, sinh sống lâu dài ở
nước ngoài, yếu tố quốc tịch là căn cứ quan trọng để phân chia người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thành hai nhóm là công dân Việt Nam và người gốc Việt
Nam. Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài là người dù cư trú, sinh sống lâu
dài ở nước ngoài nhưng họ vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, còn người gốc Việt
Nam định cư ở nước ngoài là người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh
ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của
họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Như vậy, với sự giải thích này,
khái niệm “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” đã được hoàn thiện và làm
sáng tỏ, điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đất nước hiện
nay, khi mà nền kinh tế - xã hội đang trong quá trình thực hiện chính sách mở
cửa, hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới, điều đó dẫn đến số lượng
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng tăng lên, do đó các quan hệ hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài cũng tăng lên, đây cũng chính là nguyên nhân lý giải tại sao việc điều
chỉnh quan hệ HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai
bên định cư ở nước ngoài là cần thiết và được coi là quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài.
Tóm lại, từ cơ sở lý luận cũng như cở sở pháp lý trên, có thể rút ra khái
niệm về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau: Quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là các quan hệ hôn nhân và gia đình
có một trong các yếu tố sau: Chủ thể là người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ
đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản có liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
1.1.2. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội mà luôn được các nhà
triết học, xã hội học, luật học nghiên cứu. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn
gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết là
nhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy định quyền và
nghĩa vụ pháp lý giữa họ. Có thể nói, hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa một
người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận bằng
sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý đó là đăng ký kết hôn. Như vậy, đăng ký
kết hôn làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình
Cùng với sự tăng cường và mở rộng các quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với
các nước, số lượng các cuộc kết hôn có yếu tố nước ngoài giữa công dân Việt
Nam và người nước ngoài ngày càng tăng. Để điều chỉnh kịp thời vấn đề này,
Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật có các quy phạm xác định điều
kiện kết hôn cũng như nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại
điều 103 Luật HN&GĐ2000 “trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
kết hôn”. Như vậy, công dân Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài, dù
việc kết hôn được tiến hành ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài cũng phải luôn tuân
theo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn. Nếu việc kết hôn
được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người
nước ngoài, ngoài việc họ phải tuân theo pháp luật của nước mà người nước
ngoài là công dân, họ còn phải tuân theo các quy định về điều kiện kết hôn theo
Luật HN&GĐ2000 Việt Nam. Cũng theo điều 103 Luật HN&GĐ2000 việc kết
hôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật HN&GĐ2000 về điều
kiện kết hôn.
Như vậy, có thể nói, kết hôn là thủ tục pháp lý bắt buộc để xác lập quan hệ
vợ chồng, muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều kiện kết
hôn và đăng ký kết hôn, thông qua việc đăng ký kết kết hôn, Nhà nước ta đã
công nhận hôn nhân của đôi nam nữ. Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận
rằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Sự kiện này có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể của quan hệ giữa vợ và chồng, giữa
cha mẹ và con và xác định rõ thời điểm làm phát sinh các quan hệ đó.
1.1.3.Ý nghĩa của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trong những năm gần đây, việc kết hôn với người nước ngoài có chiều
hướng gia tăng, đây là hệ quả tất yếu của quá trình giao lưu hợp tác quốc tế giữa
Việt Nam với các nước. Công dân Việt Nam khi tham gia quan hệ kết hôn có
yếu tố nước ngoài bên cạnh việc được tiếp thu một nền văn hóa mới, được hiểu
biết hơn về con người, về ngôn ngữ, phong tục tập quán và lối sống của nước mà
họ làm vợ ( chồng) thì họ còn có thể được sống trong một điều kiện kinh tế đầy
đủ, hiện đại. Thực tế trong những năm qua cho thấy, việc kết hôn với người
nước ngoài thường xảy ra với những trường hợp là những người không có việc
làm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp và không ổn định nên hoàn cảnh kinh
tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, khi kết hôn với người nước ngoài họ mong muốn
có cuộc sống sung túc hơn, thoát khỏi cảnh nghèo khổ. Và thực tế cũng chứng
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
minh rằng, có những người sau khi kết hôn đã gửi tiền về giúp gia đình giải
quyết khó khăn, cải thiện cuộc sống.
Hiện nay, theo quy định của Luật HN&GD 2000 và các văn bản pháp luật
hiện hành, việc kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện
kết hôn và đăng ký kết hôn, kết hôn có yếu tố nước ngoài được Nhà nước ta tôn
trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước
quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình
với công dân Việt Nam, người nước ngoài được hưởng chế độ đãi ngộ như công
dân, tức là các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp
luật Việt Nam có quy định khác. Người Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước
Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp
luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế. Như vây, với việc Nhà nước ta
thừa nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài đã thể hiện chính sách ngoại giao nhất
quán với các nước trong khu vực và trên thế giới, điều này có ý nghĩa quan trọng
trong việc thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá của Việt Nam bởi lẽ, khi
kết hôn có yếu tố nước ngoài gia tăng sẽ nảy sinh ngày càng nhiều các gia đình
đa văn hóa, trong quá trình chung sống với nhau, các thành viên trong gia đình
sẽ tiếp thu những nền văn hóa khác nhau thông qua việc học ngôn ngữ, phong
tục tập quán của vợ( chồng ) mình, điều này tạo nên một quá trình giao lưu, tiếp
biến văn hóa lẫn nhau, góp phần tạo nên sự đa dạng trong văn hóa của Việt Nam
không chỉ trong giai đoạn hiện nay mà trong tương lai, thế hệ con cháu của họ sẽ
là cầu nối quan trọng thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa, thúc đẩy quan hệ hữu
nghị hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới.
Như vây, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích các
trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nhà nước có những chính sách phù
hợp đảm bảo quyền lợi của các bên khi tham gia quan hệ hôn nhân có yếu tố
nước ngoài. Thực tế những năm gần đây cho thấy, trước xu thế toàn cầu hóa nền
kinh tế thế giới, Việt Nam đã đề ra những chính sách nhằm kêu gọi, khuyến
khích các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, hợp tác, cùng với đó là
Phan Ngọc Mai DS31D

Khoá luận tốt nghiệp
sự gặp gỡ, tìm hiểu của những người nước ngoài và công dân Việt Nam, sau thời
gian làm quen, gặp gỡ họ đã nảy sinh tình cảm và kết hôn với nhau, hay những
trường hợp người Việt Nam ra nước ngoài làm ăn sinh sống và kết hôn với công
dân của những nước đó , việc pháp luật Việt Nam công nhận việc kết hôn có
yếu tố nước ngoài đã khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ những
quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người trong đó có quyền tự do kết hôn.
Điều 39 Bộ luật dân sự 2005 quy định “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo
quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn. Việc tự
do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những
người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người
nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”.
1.2. Nguyên tắc áp dụng Luật và thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu
tố nước ngoài
1.2.1. Nguyên tắc áp dụng luật
Theo quy định tại khoản 1 điều 7 Luật HN&GĐ2000 thì:“ Các quy định
của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ
trường hợp Luật này có quy định khác”. Như vậy, việc áp dụng pháp luật
HN&GĐ để giải quyết các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là định hướng
đầu tiên, chỉ trừ những trường hợp cụ thể mà “Luật này có quy định khác”. Hiện
nay, các văn bản pháp luật hiện hành trong nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân có
yếu tố nước ngoài tại Việt Nam là Luật HN&GĐ 2000, Nghị định số
68/2002/NĐ-CP, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên
quan. Ngoài ra, theo quy định tại điều 101 Luật HN&GĐ2000 thì pháp luật Việt
Nam sẽ được áp dụng trong trường hợp “ pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại
pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam”.
Theo quy định trên thì Nhà nước ta chấp nhận dẫn chiếu ngược trở lại. Hiện nay,
trong khoa học Tư pháp, đây được coi là vấn đề phức tạp và tồn tại hai quan
điểm về vấn đề này:
Phan Ngọc Mai DS31D

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét