năng chuyên môn sẽ không sâu, là nguyên nhân dẫn đến thị trường chứng khoán kém
phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động cho vay hơn
là thực hiện các nghiệp vụ của thị trường chứng khoán. Đồng thời nó dễ gây nên tình
trạng lũng đoạn thị trường khi điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh. Ưu
điểm của mô hình CTCK chuyên doanh là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân
hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng
khoán để thúc đẩy thị trường phát triển; tuy nhiên xu thế ngày nay lại chính là việc
hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ.
1.1.1.2 Đặc điểm công ty chứng khoán
Hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) rất đa dạng và phức tạp với các
hoạt động nghiệp vụ và phụ trợ như: môi giới, tự doanh, lưu ký chứng khoán, tư
vấn tài đầu tư, quản lý danh mục Do đó ở từng quốc gia khác nhau, thậm chí ngay
cùng một nước, các CTCK mang những đặc trưng riêng bởi sản phẩm, dịch vụ…
mà họ cung cấp.
Ở Việt Nam, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách
nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Luật
chứng khoán ra đời năm 2006, và chính thức áp dụng từ 1/1/2007- là văn bản luật
cao nhất quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, quy định một số
nghĩa vụ của một CTCK như: thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và
giám sát, ngăn ngừa những xung đột lợi ích trong nội bộ công ty và trong giao dịch
với người có liên quan; quản lý tách biệt chứng khoán của từng nhà đầu tư, tách biệt
tiền và chứng khoán của nhà đầu tư với tiền và chứng khoán của CTCK; ký hợp
đồng bằng văn bản với khách hàng khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng, cung cấp
đầy đủ thông tin cho khách hàng; thu thập tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính,
mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro của khách hàng…
Các công ty chứng khoán ở các nước hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức
khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty hay mức độ phát triển
của thị trường. Tuy nhiên chúng vẫn có những đặc trưng cơ bản sau:
(1) Công ty chứng khoán đóng vai trò là một tổ chức trung gian tài chính, thể hiện ở
các khía cạnh
• Trung gian về thanh toán: do CTCK là một thành viên của hệ thống thanh toán
lưu ký nên nó là một trung gian thanh toán.Chức năng này được thể hiện thông
qua việc thanh toán giữa người phát hành và nhà đầu tư, giữa người mua và
người bán. Nếu người mua và người bán cùng mở tài khoản và cùng lưu ký tại
một công ty chứng khoán thì việc thanh toán sau giao dịch của họ đơn giản hơn
rất nhiều.
• Trung gian về rủi ro: trên TTCK luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các chủ thể tham
gia vào TTCK như: các CTCK, các nhà đầu tư… luôn phải đối mặt với các rủi
ro đó. Nhà đầu tư khi thực hiện kinh doanh chứng khoán trên TTCK có những
rủi ro như: rủi ro trong sự tăng giảm giá chứng khoán, rủi ro trong khi giao dịch.
… CTCK đóng vai trò là là người đứmg giữa và thực hiện các giao dịch cho
khách hàng sẽ giúp nhà đầu tư phân tán rủi ro bằng việc đầu tư vào các chứng
chỉ quỹ và trong giao dịch cũng có người được lợi và người gặp rủi ro.
• Trung gian giao dịch: xuất phát từ nhu cầu của những chủ thể có điều kiện về
vốn nhưng trình độ, khả năng phân tích còn hạn chế nên quỹ đầu tư chứng
khoán ra đời. Để thu hút được nguồn vốn hoạt động thì các quỹ này phát hành
chứng chỉ quỹ đầu tư và chủ sở hữu của các chứng chỉ này là các chủ thể trên.
Hình thức hoạt động của các quỹ này là dùng một số lượng lớn vốn đầu tư vào
một số loại chứng khoán với kỳ hạn và mức rủi ro khác nhau để kiếm lời.
• Trung gian về thông tin: với chức năng này, CTCK phải thu thập,tìm hiểu thông
tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro với khách
hàng; đảm bảo các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng phải
phù hợp với khách hàng đó (theo Luật chứng khoán). Bên cạnh đó, các CTCK
phải công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính theo quy định.
• Trung gian tín dụng: đối với các CTCK thuộc ngân hàng mẹ thì vai trò này được
thể hiện rõ nhất. Vốn mà ngân hàng cho các nhà đầu tư vay để tham gia vào thị
trường chính là vốn huy động từ các nhà đầu tư trước đó. Họ là người gắn kết
các nhu cầu cần vốn (người bán chứng khoán) và nhu cầu của người cần đầu tư
(người mua chứng khoán).
(2) Chuyên môn hoá và phân cấp quản lý
Các CTCK chuyên môn hoá ở mức độ cao trong từng bộ phận, từng phòng ban,
từng đơn vị kinh doanh nhỏ. Một số bộ phận trong tổ chức công ty nhiều khi không
phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ như bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận
bảo lãnh phát hành…)
(3) Nhân tố con người
Trong CTCK, quan hệ với khách hàng có tầm quan trọng hàng đầu. Sản phẩm
càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng. Việc CTCK tạo được niềm
tin với các nhà đầu tư, đồng thời họ thích sử dụng các dịch vụ của công ty sẽ đem
lại cho công ty một nguồn doanh thu vô cùng lớn.
(4) Ảnh hưởng của thị trường tài chính
Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh hưởng
lớn tới chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các công ty
chứng khoán. Với những mức độ phát triển khác nhau của thị trường, cơ cấu tổ
chức và các sản phẩm cũng khác nhau để đáp ứng nhu cầu riêng.
(5) Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứng khoán mà
công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó. Tuy
nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được
chia ra làm hai khối tương ứng với hai khối công việc mà CTCK đảm nhận: khối I
và khối II. Trong đó,khối I là khối tư vấn và nghiên cứu- phân tích, khối II là khối
dịch vụ và hỗ trợ. Hai khối này thực hiện các công việc yểm trợ cho nhau.
(6) Một số đặc điểm khác
CTCK là một tổ chức trung gian đặc biệt hoạt động trên lĩnh vực khá nhạy
cảm nên chịu sự kiểm soát song hành của Nhà nước và hiệp hội kinh doanh chứng
khoán. Ở Việt Nam, CTCK chịu sự quản lý của Bộ tài chính và Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước. Nhà nước kiểm soát các CTCK bằng các văn bản quy phạm pháp
luật như các Nghị định, Luật chứng khoán và các thông tư hướng dẫn như: CTCK
phải đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo
quy định của UBCKNN; CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng
với tài sản của mình, không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế
chấp trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản; CTCK không được
dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanhm ngoại trừ trường hợp
số tiền đó phục vụ cho giao dịch của khách hàng…
1.1.1.3 Phân loại công ty chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán tồn tại rất nhiều loại hình công ty chứng khoán
hoạt động. Tuỳ vào từng tiêu thức mà người ta có các các phân loại khác nhau.
Nếu dựa trên tiêu thức lĩnh vực kinh doanh của CTCK , có quan điểm phân chia
CTCK thành các loại sau:
- Công ty môi giới chứng khoán là CTCK chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán
chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
- Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán là CTCK có lĩnh vực hoạt động chủ
yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá.
- Công ty kinh doanh chứng khoán là CTCK chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự
doanh, có nghĩa là bỏ vốn và tự và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.
- Công ty trái phiếu là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.
- Công ty chứng khoán không tập trung là các CTCK hoạt động chủ yếu trên thị
trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo thị trường.
Nếu dựa trên tiêu thức là các loại hình tổ chức của CTCK thì hiện nay, có ba
loại hình tổ chức cơ bản của CTCK, đó là: công ty hợp danh, công ty trách nhiệm
hữu hạn và công ty cổ phần.
Công ty hợp danh là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên. Thành viên
của CTCK hợp danh bao gồm: thành viên góp vốn và thành viên hợp danh. Các
thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình
về các nghĩa vụ của Công ty. Các thành viên góp vốn không tham gia điều hành
công ty, họ chỉ phải chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của
mình đối với khoản nợ của công ty.Thông thường khả năng huy động vốn của
công ty hợp danh
Công ty cổ phần là một công ty pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là
các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần có
quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) ra công chúng theo quy
định của pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Ưu điểm của công ty cổ phần là một loại hình tồn tại liên tục không phụ thuộc
vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưu hoặc qua đời. Rủi ro mà chủ sở hữu
của công ty phải chịu được hạn chế ở mức nhất định. Công ty cổ phần là loại hình
công ty có chế độ trách nhiệm cao nhất. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phần vốn
góp, ngoài ra họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty. Khi công ty bị phá sản, cổ đông là chủ sở hữu của công
ty nên sẽ nhận tài sản sau cùng. Họ có thể không nhận được gì từ tài sản của công ty,
song cũng không chịu trách nhiệm với công nợ của công ty. Chế độ trách nhiệm này
tạo điều kiện cho sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý. Với CTCK được tổ chức theo
mô hình hình thức công ty cổ phần và được niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ
đã được quảng cáo miễn phí.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: về cơ bản, công ty trách nhiệm hữu hạn giống với
loại hình công ty hợp danh, chỉ khác với loại hình công ty này, trách nhiệm là hữu
hạn với các thành viên. Ngoài trách nhiệm trên phần vốn góp, các thành viên chịu
một phần trách nhiệm đối với một phần công nợ của công ty. Trách nhiệm này
được ghi rõ trong điều lệ của công ty, được pháp luật bảo hộ. Cũng có loại công
ty trách nhiệm hữu hạn một chủ, có nghĩa là, chỉ có một thành viên giữ vai trò
điều hành công ty và chịu trách nhiệm vô hạn và đầy đủ đối với các hoạt động
của công ty, còn các thành viên khác chỉ chịu hữu hạn trên phần vốn góp.
Số lượng các thành viên của công ty bị giới hạn bởi pháp luật. Với công ty này,
số vốn đóng góp của các thành viên phải được đóng đủ khi được thành lập và được
ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát hành bất cứ một loại
chứng khoán nào. Việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện
tự do, còn đối với sự chuyển nhượng vốn góp cho người không phải là thành viên
phải được sự nhất trí của đa số các thành viên theo luật định. Đây là loại hình công
ty thích hợp với quy mô vừa và nhỏ.
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
Theo nghị định 14 của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật chứng khoán quy định vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh
doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài
tại Việt Nam là:
Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam;
Bảo lãnh phát hành chứng khoán : 165 tỷ đồng Việt Nam;
Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam;
Các CTCK phải có trụ sở, có trang thiết bị, thiết bị phục vụ cho kinh doanh
chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư
chứng khoán thì không phải đáp ứng các điều kiện về trang thiết bị. Sau đây là một
số hoạt động cơ bản của CTCK:
1.1.2.1 Hoạt động nghiêp vụ
a. Hoạt động môi giới chứng khoán
Khi thị trường chứng khoán càng phát triển ở trình độ cao thì các sản phẩm và
dịch vụ càng dồi dào về số lượng, đa dạng và phong phú về chủng loại, tinh tế và
nhạy cảm trong vận hành chức năng. Theo đó, đòi hỏi về việc cung cấp cho người
đầu tư những thông tin cần thiết những ý tưởng đầu tư, những lời khuyên mang tính
thời điểm hay mang tính chiến lược, và giúp cho các nhà đầu tư thực hiện theo cách
có lợi nhất, đòi hỏi phải có hoạt động môi giới chứng khoán phát triển mang tính
chuyên nghiệp cao, hay nói cách khác, trở thành một nghề.
Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian đại diện cho bên hay
bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Theo đó, công ty chứng khoán
đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao
dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm
đối với kết quả giao dịch của mình.
Với tư cách là khâu trung gian giúp thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá bằng
cách rút ngắn khoảng thời gian tìm kiếm để gặp gỡ giữa người mua và người bán,
hoạt động môi giới chứng khoán cho phép người mua trực tiếp thẩm định chất lượng
bằng các giác quan của mình. Và trong những trường hợp nhất định, hoạt động môi
giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những
lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo.
b. Hoạt động tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc các công ty chứng khoán tự tiến hành các hoạt động mua
bán các chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được
thực hiện trên các thị trường giao dịch tập trung hoặc trên thị trường OTC…
Mục đích của hoạt động tự doanh của CTCK là thu lợi cho chính mình thông
qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song
hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời
cũng phục vụ cho chính mình. Vì vậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung
đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó,
luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và
tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh
của mình.
Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường, pháp luật
của các nước đều yêu cầu các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải đáp ứng
một số yêu cầu nhất định như:
• Tách biệt quản lý: các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và
nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự
tách bạch này bao gồm cả yếu tố con người và các quy trình nghiệp vụ. Các
CTCK phải có đội ngũ nhân viên riêng biệt để thực hiện nghiệp vụ tự doanh.
Bên cạnh đó, các CTCK phải đảm bảo sự tách bạch giữa tài sản của khách
hàng với tài sản của chính công ty.
• Ưu tiên khách hàng: pháp luật các nước nói chung cũng như pháp luật các
nước nói riêng đều yêu cầu các CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách
hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch
của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty. Nguyên tắc
này đảm bảo sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng
khoán
• Bình ổn thị trường: bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các
CTCK với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông
qua hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình
ổn giá cả của các loại chứng khoán trên thị trường. Các CTCK phải tuân thủ
một số quy định như các giới hạn về đầu tư, lĩnh vực đầu tư… Mục đích của
các quy định này là nhằm bảo đảm một độ an toàn nhất định cho các CTCK
trong quá trình hoạt động, tránh sự đổ vỡ gây thiệt hại chung cho thị trường.
• Hoạt động tạo thị trường: các CTCK thông qua việc mua bán chứng khoán
cho chính mình với các chứng khoán mới chưa có thị trường giao dịch để tạo
thị trường cho các chứng khoán này, tạo tính thanh khoản cho chúng.
c. Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Muốn tiến hành các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng một cách thành
công thì các tổ chức phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn và thực
hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán. Như vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành là
việc CTCK có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước
khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá
chứng khoán trong giai đoạn đầu khi phát hành. Trên thị trường tài chính, ngoài công
ty chứng khoán thực hiện bảo lãnh phát hành còn có các định chế tài chính khác cũng
đảm nhiệm hoạt động này như ngân hàng đầu tư.
d. Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Do đặc điểm riêng trong ngành là giá cả chứng khoán luôn biến động nên hoạt
động tư vấn chứng khoán rất khó khăn, đồng thời có thể xảy ra nhiều mâu thuẫn về
lợi ích. Ở phần lớn các nước, người ta định nghĩa tư vấn chứng khoán là những hoạt
động tư vấn về giá trị của chứng khoán nhằm mục đích thu phí. Đối với Việt Nam,
việc quản lý các hoạt động tư vấn là cần thiết nhưng vô cùng khó khăn bởi trong điều
kiện ban đầu của thị trường thì hệ thống pháp luật chưa thể chặt chẽ.
Hoạt động chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
- Theo hình thức của hoạt động tư vấn gồm tư vấn trực tiếp và tư vấn gián tiếp.
- Theo mức độ uỷ quyền của hoạt động tư vấn gồm tư vấn gợi ý và tư vấn uỷ
quyền.
- Theo đối tượng của hoạt động tư vấn gồm tư vấn cho người phát hành và tư
vấn đầu tư
Nguyên tắc cơ bản của hoạt động đầu tư
- Không đảm bảo tính chắc chắn về giá trị chứng khoán: giá trị chứng khoán
không phải một số cố định mà nó luôn luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế,
tâm lý và diễn biến thực tế cuả thị trường.
- Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình chỉ dựa trên cơ sở
phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến quá khứ.
- Không dụ dỗ hoặc mời chào khách hàng mua, bán một loại chứng khoán nào
đó…
e. Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư chứng khoán
thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi mà vẫn bảo toàn vốn cho khách hàng.
Danh mục đầu tư có thể do khách hàng yêu cầu hay có sự chấp thuận của khách
hàng sau khi tư vấn.Lợi nhuận của công ty chứng khoán là từ quản lý danh mục
đầu tư.
Ở Việt nam thì nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư không phát triển như các
nước khác trên thế giới. Luật chứng khoán ra đời đã tách nghiệpvụ này sang cho các
quỹ đầu tư. Tuy nhiên, một số CTCK lớn vẫn hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này.
Rất nhiều nhà đầu tư ở Việt Nam có vốn nhưng lại chưa có kiến thức chuyên sâu về thị
trường chứng khoán nên họ tin tưởng giao phó tài sản của mình cho các CTCK và các
quỹ đầu tư. Một danh mục đầu tư phải chứa nhiều chứng khoán với những mức độ rủi
ro và lợi nhuận kỳ vọng khác nhau nhằm đem lại sự an toàn cho nhà đầu tư.
1.1.2.2 Các hoạt động khác
- Hoạt động tín dụng: đây là hoạt động thông dụng tại các thị trường chứng
khoán phát triển. Ở Việt Nam,hoạt động cho vay ký quỹ đã được áp dụng
trong nhiều công ty chứng khoán.
- Lưu ký chứng khoán: CTCK thực hiện việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán
của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán. Đây là quy
định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán
trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở
tài khoản lưu ký chứng khoán tại các CTCK. Thực hiện dịch vụ lưu ký
chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ nhận được các khoản phí lưu ký
chứng khoán,phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
SGDCK TP. HCM hiện nay có 20 thành viên lưu ký, trong đó có 17 thành
viên lưu ký là các CTCK và 3 thành viên lưu ký là các ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam.
- Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Nghiệp vụ này của
CTCK xuất phát từ nghiệp vụ quản lý hộ chứng khoán cho khách hàng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét