Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

New Microsoft Word Document

MỞ ĐẦU
Trong đời sống hàng ngày, lạm phát là một trong những vấn đề của kinh tế học vĩ
mô. Nó đã trở thành mối quan tâm lớn của các nhà chính trị và công chúng. Lạm phát đã
được đề cập rất nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế .
Đứng giữa tình hình hiện nay, cần phải động viên mọi nguồn lực tạo nên sức mạnh tổng
hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tăng trưởng bền vững và ổn định lạm phát
ở mức thấp đó là những mục tiêu hàng đầu của điều tiết vĩ mô ở tất cả các nước. Không
có gì đáng ngạc nhiên khi câu hỏi có sự tồn tại và bản chất của mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế đã được các nhà kinh tế hoạch định chính sách đặc biệt quan
tâm và trở thành trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về chính sách.
Chính vì những tác hại to lớn do lạm phát gây ra cho nền kinh tế mà việc nghiên cứu
lạm phát là ọt vấn đề cần thiết và cấp bách đối với nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế thị
trường còn non nớt như nền kinh tế ở nước ta. Chúng ta cần phải tìm hiểu xem lạm phát
lá gì ? Do đâu mà có lạm phát ? Tại sao người ta lại quan tâm đến lạm phát? Nguyên
nhân của lạm phát? Bài viết này sẽ điểm lại một cách có hệ thống các lý thuyết, các
bằng chứng thực nghiệm về lạm phát và mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế cũng như đưa ra một số gợi ý về hướng điều tiết vĩ mô của Việt Nam trong thời gian
tới.Nên em chọn đề tài “Nguyên nhân, hiện trang và hậu quả của lạm phát, chính sách
chóng lạm phát của nước ta”.
1
NỘI DUNG
A. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái niệm lạm phát:
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá trung bình theo thời gian.
Chỉ số biểu hiện lạm phát chính là chỉ số lạm phát hay cũng chính là chỉ số giá cẳ chung
của toàn bộ hàng hóa cấu thành nên tổng sản phẩm quốc dân.Trong thực tế người ta sử
dụng 2 hỉ số là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá cẳ sản xuất (PPI).Ở Việt Nam thì
sử dụng chỉ số CPI. Quy mô và xu hướng của lạm phát phụ thuộc vào quy mô và sự
biến động của tỉ lệ lạm phát.Lạm phát là mức giá chung tăng lên theo thời gian ( là sự
biến động của chỉ số giá tiêu dùng).
2.Nguyên nhân lạm phát
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn dấn tình trạng lạm phát, trong đó” lạm phát do cầu kéo”
và “lạm phát do chi phí đẩy” được coi là thủ phạm chính.
Cân đối thu chi là điều bkhông thể tránh khỏi khi xảy ra lạm phát.
- Lạm phát do cầu kéo:
Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hóa
hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường. Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ
kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó. Gía cả của mặt hàng khác cũng theo đó
leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về
giá cả của mặt hàng đó. Gía cả của các loại hàng hóa trên thị trường. Lạm phát do sự
tăng lên về mặt cầu được gọi là”lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một mặt hàng hay
dịch vụ đó lên mức cao hơn. Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là” quá
nhiều tiền duổi theo quá ít hàng hoá”.
- Lạm phát do chi phí đẩy:
Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy
móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế,… Khi giá cả của một hoặc vài yếu tố này
tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của xí nghiệp chắn chắc cũng tăng lên. Các xí nghiệp
vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm. mức giá chung
của toàn thể nền kinh tế cũng tăng.
- Lạm phát do cơ cấu:
Ngành kinh doanh có hiệu quả tang tiền công danh nghĩa cho người lao động. Ngành
kinh doanh không có hiệu quả, vì thế, không có khả năng tăng tiền công cho người lao
động trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu
quả sẽ tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh từ đó.
- Lạm phát do cầu thay đổi:
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác
lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính cứng nhắc
phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn
khôngf giảm giá. Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá. Kết quả là
mức giá chung tang lên, dẫn đến lạm phát.
- Lạm phát do xuất khẩu:
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm dược huy dộng
cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng
cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
- Lạm phát do nhập khẩu:
2
Khi giá hàng hóa nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng. Lạm
phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên. Khi lạm phát xảy ra, giá trị
của đồng tiền sụt giảm – Lạm phát tiền tệ . Cung tiền tăng(chẵng hạn do ngân hàng
trung ương mua ngoai tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại
tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước)
khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát.
B. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
I.THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM.
Lạm phát về thực chất là sự mất giá của đồng tiền so với hàng hóa, dịch vụ, với nguyên
nhân tổng quát là mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu, mà biểu hiện của nó là mất
cân đối tiền-hàng: tổng cung cao hơn tổng cầu, tiền nhiều hơn hàng thì lạm phát (còn
tổng cung ít hơn tổng cầu, tiền ít hơn hàng thì thiểu phát).
Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những yếu tố tác động đến hai vế của quan
hệ cân đối này, tức là các yếu tố tác động đến tổng cung, đến hàng và các yếu tố tác
động đến tổng cầu, đến tiền.
Xét theo các mặt này, thì các nguyên nhân của lạm phát thời gian qua bao gồm các yếu
tố sau.
1. Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối cùng, hay
đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàng năm, phải nhập siêu,
phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp.
Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu, mà còn rất
dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng, lạm phát ) và có
trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô ).
Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1% trong thời kỳ
2001-2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010. Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt
Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005 lên 72,2% thời kỳ 2006-2010.
Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009 của Việt Nam là 72,8%, trong khi của
Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%, Singapore 52,4%, Malaysia 64%, Indonesia 68,2%,
Thái Lan 68,3%, Ấn Độ 69,6%, Hàn Quốc 70,3% ).
Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy mô GDP
bình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; nhưng có
một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của một bộ
phận dân cư.
Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lên qua các
thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1 tỷ USD thời kỳ
2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010).
Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó đáng lưu
ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập khẩu lớn như thủy sản,
sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực vật, thức ăn gia súc và nguyên
phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường, thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng
3
phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp
cao mà nhập khẩu nguyên phụ liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo
nguyên liệu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có
kim ngạch lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy nguyên
chiếc, hóa mỹ phẩm lên đến mấy tỷ USD.
2. Nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suất lao động
thấp. Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên qua các thời kỳ (thời
kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ 2006-2010 lên 6,2 lần, cao
gấp đôi nhiều nước trong khu vực).
Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt
Nam từ năm 2003 trở về trước ở mức trên dưới
57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức
trên dưới 40%, trong khi ICOR của khu vực này
cao gấp rưỡi hệ số chung của cả nước.
Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm
2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ tương đương
với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương
ứng của một số nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD, Brunei 72.500 USD,
Singapore 62.724 USD, Hàn Quốc 38.235 USD, Malaysia 17.718 USD, Thái Lan 6.915
USD, Trung Quốc 5.460 USD, Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD, Ấn Độ
2.706 USD ).
3. Tổng thu ngân sách/GDP của Việt Nam thuộc loại khá cao (mấy năm nay đạt trên
dưới 28%), nhưng thu từ dầu thô, từ hải quan, thu từ đất đai là những khoản không trực
tiếp phản ánh hiệu quả kinh tế và có xu hướng giảm (thu từ dầu thô năm 2005 chiếm
29,2%, 6 tháng đầu năm 2011 chiếm 13,9%; thu từ hải quan, tương ứng chiếm 16,7% và
22,5%; thu từ đất đai chiếm khoảng 6-7%).
Bội chi ngân sách/GDP từ năm 2006 trở về trước ở mức thấp, nhưng từ năm 2007 đến
nay ở mức cao, tuy đã có xu hướng giảm xuống trong vài năm nay, nhưng vẫn thuộc
loại cao. Trong tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi cho đầu tư, chi cho lĩnh vực xã hội là
cần thiết, nhưng thuộc loại cao, nhất là chi cho đầu tư công-thể hiện Nhà nước còn “ôm”
nhiều quá mà cần khuyến khích các nguồn lực xã hội.
4. Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ ra cuối cùng của lạm phát. Tốc độ tăng dư
nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP.
Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên
13,7 lần, trong khi GDP chỉ gấp trên 2 lần; hệ số
giữa tốc độ tăng của tín dụng và của GDP lên đến
trên 6,2 lần-một hệ số rất cao. Do vậy, dư nợ tín
dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%, cao gấp đôi con
số tương ứng của nhiều nước. Cùng với tăng trưởng
tín dụng là tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán,
4
mà tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam không chỉ là tiền đồng mà còn có vàng,
có ngoại tệ.
5 . Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm phát trên 4
mặt.
- Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực tiếp cho sản
xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền.
- Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh toán
tăng lên.
- Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tới nhập
lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến tâm lý,
đến lòng tin vào đồng nội tệ
- Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát ở trong
nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của thế giới;
làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND.
6. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị trường là tất yếu,
đúng hướng, là một nội dung quan trọng của đường lối đổi mới. Tuy nhiên, kết quả của
việc thực hiện lộ trình này nếu thực hiện dồn dập cùng một lúc sẽ tạo ra mặt bằng giá
mới cao hơn, như đã từng xảy ra trong thời kỳ lạm phát phi mã, hay vào tháng 2-3 vừa
qua.
7. Giá cả thế giới tăng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đối với lạm phát
ở trong nước xét trên các góc độ khác nhau.
- Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá cao (năm
1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm 2005 đạt 130,8%, năm
2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao hơn)-tức là có độ mở khá cao, đứng
thứ 5 thế giới-nên biến động giá cả trên thế giới sẽ tác động nhiều đến biến động giá ở
Việt Nam hơn các nước khác.
- Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng kép: vừa
tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng.
8. Ngoài ra, cũng cần tính đến sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh đầu tư . Từ
quý II/2007, thị trường chứng khoán sau khi lên đỉnh đã đao xuống mạnh, làm cho một
lượng tiền lớn từ kênh này chuyển sang làm cho giá bất động sản bốc lên và giá tiêu
dùng tăng cao vào cuối năm 2007, đạt đỉnh điểm vào năm 2008.
Giá vàng, giá bất động sản tăng cao vào năm 2009, đầu năm 2010 cũng đã hút một
lượng tiền lớn vào đây, nên CPI cũng tăng chậm lại. Từ cuối 2010, chứng khoán và bất
động sản đều giảm, góp phần làm cho sức ép tăng giá tiêu dùng cao lên. Sự chuyển
động của dòng tiền giữa các kênh cũng góp phần tạo lên sự cộng hưởng và chia sẻ dòng
tiền với thị trường tiêu dùng.
5
II.PHÂN TÍCH LẠM PHÁT NƯỚC TA TẠI SAO CAO VÀO NĂM 2011
Lạm phát cao trong năm 2011 do nhiều nguyên nhân gây ra chứ không phải chỉ do sự
tăng giá của những nhu yếu phẩm. Nguyên nhân thứ nhất là nhà nước chủ trương phát
triển kinh tế ở mức độ cao bằng mọi giá, đặc biệt bắt đầu từ nhiệm kỳ 5 năm vừa qua
của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Mới đây chính phủ đặt ra những chỉ tiêu phát triển
không thực tế: 7%-7.5% mỗi năm trong 5 năm tới và 7%-8% trong 10 năm tới. Trong
khi đó, kinh tế Việt Nam trải qua nạn lạm phát 11.8% vào năm 2010 cao hơn tất cả
những nước láng giềng. Nhà nước không thể nhắm vào mức phát triển kinh tế cao trong
khi cần phải chế ngự nạn lạm phát. Để đạt được mục tiêu phát triển, chính phủ gia tăng
chương trình đầu tư công qua các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và hậu quả là làm
tăng mức cầu về tín dụng. Do đó có thể nói rằng lạm phát hiện nay phần lớn do sức cầu
kéo. Vào ngày 19/1 năm nay, ông Nguyễn Văn Thao thuộc Ủy Ban Trung Ương của
Đảng Cộng Sản Việt Nam còn tuyên bố rằng một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt
Nam là ổn định kinh tế vĩ mô để duy trì mức độ phát triển.
Ngoài ra Việt Nam còn có vấn đề bội chi ngân sách tương đương với 8.9% và 5.9% của
tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product – GDP) lần lượt trong hai năm 2009 và
2010. Cán cân thương mại thiếu hụt thường xuyên trong nhiều năm vừa qua. Mức thiếu
hụt này tương đương với 8.9% và 10.2% của GDP trong 2009 và 2010. Những con số
này chứng tỏ rằng chi tiêu của nhà nước cao hơn thu nhập và nhu cầu nhập khẩu cao
hơn trị giá hàng xuất khẩu. Hai sự thiếu hụt này tạo áp lực trên giá cả bằng cả hai tác
động cầu kéo và chi phí đẩy. Tuy nhiên trong trường hợp bội chi ngân sách, chi tiêu của
nhà nước làm tăng GDP trong ngắn hạn còn cán cân thương thiếu hụt làm giảm GDP.
Nguyên nhân kế tiếp không kém quan trọng là việc gia tăng tín dụng quá cao, trên 20%
trong suốt 10 năm vừa qua, đôi khi lên đến 50.2% vào 2007 và 45.6% vào năm 2009.
Theo Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN), mức tín dụng tăng 27% trong năm 2010, vượt
quá mục tiêu 25%. Mức tín dụng chỉ tiêu cho năm 2011 là 23%. Nay mới hạ xuống dưới
20%. Ngoài ra, phần lớn những tín dụng này lại được ưu tiên dành cho những DNNN,
thường hoạt động kém hiệu quả, với những điều kiện thuận lợi.
Nguyên nhân thứ năm là năng suất của kinh tế Việt Nam thấp. Đây là hệ quả tất yếu của
một nền kinh tế xây dựng trên một khu vực nhà nước lớn với các DNNN làm ăn thường
là thua lỗ. Vào cuối năm 2010, công ty quốc doanh xây cất tầu thủy Vinashin rơi vào
tình trạng gần phá sản là một thí dụ mới nhất. Vinashin hay là Vietnam Shipbuilding
Industry Group, được thành lập vào năm 2005 với số vốn 750 triệu USD từ công trái
phiếu của nhà nước. Vào tháng 7, 2010, Việt Nam công bố rằng Vinashin mắc món nợ
chồng chất lên 4.4 tỉ USD, không có khả năng trả nợ và bị đe dọa phá sản. Vào tháng 8,
2010, cựu chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình và một số viên chức điều hành bị bắt vì
vi phạm luật lệ quản trị, nhưng cho tới nay chưa có ai bị truy tố. Vào cuối năm 2010,
Vinashin điều đình với các chủ nợ để xin hoãn trả 60 triệu USD trên số nợ 600 triệu
USD. Cho đến đầu tháng 3 vừa qua, Vinashin vẫn chưa trả được nợ. Khả năng khai phá
sản có thể sẽ xẩy ra.
Trong khi vụ Vinashin chưa giải quyết xong và ngay sau khi nhà nước tuyên bố cho
tăng giá xăng dầu và điện, gần đây lại xẩy ra vụ Công Ty Cho Thuê Tài Chánh ALC II
thua lỗ 3,000 tỉ đồng. Công ty nhà nước này thua lỗ đã nhiều năm, những đến 2007 mới
bị phát hiện. Đến cuối 2009 ông Vũ Quốc Bảo, Tổng Giám Đốc ALC II mới bị mãn
6
nhiệm, và cho mãi đến giữa tháng 4 vừa qua, dân mới được biết vì cơ quan cảnh sát điều
tra quyết định bắt tạm giam ông Bảo.
Nguyên nhân thứ sáu là chi phí gia tăng trong nhiều tháng vừa qua. Theo Nghị Quyết số
11/NQ-CP ban hành ngày 24/2/2011, nhà nước cho phép gia tăng giá xăng dầu trong
nước cho phù hợp với giá xăng dầu thế giới và giá điện trong nước theo cơ chế thị
trường. Tăng giá điện và xăng ảnh hưởng đến tất cả mọi lãnh vực kinh tế và trực tiếp
làm nạn lạm phát trầm trọng thêm. Đây là một hiện tượng chi phí đẩy.
Việc tăng giá xăng là một việc không tránh được vì giá xăng dầu trên thế giới tăng và
Việt Nam là một nước nhập cảng xăng dầu nhiều hơn gấp bội lượng xăng dầu xuất
khẩu. Việc điều chỉnh giá xăng dầu được quy định theo Nghị Định 84/2009 của nhà
nước về kinh doanh xăng dầu. Theo nghị định này giá cơ sở được tính theo công thức
sau đây: Giá CIF (bao gồm giá xăng dầu thế giới, phí bảo hiểm và chi phí vận chuyển
đến Việt Nam)
+ Thuế, phí.
+ Chi phí kinh doanh định mức (600 đồng/lít).
+ Lợi nhuận định mức (300 đồng/lít).
+ Mức trích quỹ bình ổn giá (300 đồng/lít).
Tuy nhiên, công thức này không áp dụng mạnh mẽ trong thời gian qua cho đến gần
đây. Vì ngân sách quốc gia thiếu hụt nghiêm trọng cộng thêm kinh tế bất ổn nói chung
mà nhà nước đã có quyết định không hợp thời là tăng giá xăng liên tục ba lần kể từ đầu
năm nay. Lần tăng 30% mới nhất đã đưa giá xăng lên đến 21,300 VN/lít trong tháng 3.
Cũng vào dịp này giá dầu diesel tăng 24%.
Điện ở Việt Nam cũng được chính phủ bao cấp lâu nay. Giá thành cao hơn giá bán. Giá
điện trung bình tại Việt Nam hiện nay là 5.2 cent / kWh (tính theo USD), chỉ bằng một
nửa so với giá điện của các nước trong khu vực. Chi phí sản xuất ra 1kWh điện trung
bình từ 7 đến 12 cent. Việc hủy bỏ bao cấp là cần thiết và nhà nước đã cho phép tăng
giá điện 15.3% bắt đầu có hiệu lực vào tháng 3. Đây cũng là một quyết định không hợp
thời vì Việt Nam đang phải đối phó với nạn lạm phát cao. Nhưng áp lực là do công ty
quốc doanh Điện Việt Nam (EVN) bị lỗ lã và ngân sách thiếu hụt. Thật vậy, những nhà
lãnh đạo của Bộ Công Nghệ và Thương Mại, qua một bản tin của Vietnam Business
News đề ngày May 4, 2011, tiết lộ rằng mục đích chính của việc tăng giá điện là để
giảm thiểu lỗ của công ty. Ông Đinh Quang Tri, Phó Tổng Giám Đốc EVN cho biết
thêm rằng giá điện tăng vừa qua không bù đắp được tất cả những lỗ lã của công ty trong
năm 2010. Con số này lên tới 8.000 tỉ VNĐ. Như vậy có nghĩa nhà nước có thể sẽ cho
phép EVN tăng giá điện lên nửa trong tương lai. Thực vậy, một bản tin của Bloomberg
News viết rằng “Một quyết định của chính phủ cho phép giá điện được điều chỉnh ba
tháng một lần tùy theo điều kiện thị trường có thể báo hiệu cho một sự tăng giá 40% vào
tháng Sáu, theo một nguồn tin của Viet Capital Securities.”
Nguyên nhân thứ bẩy là việc phá giá đồng bạc Việt Nam (VNĐ). Trong 15 tháng vừa
qua, Việt Nam đã phá giá VNĐ tất cả 4 lần và trong khoảng thời gian này trị giá của
7
VNĐ đã giảm tổng cộng khoảng 20% so với đồng US dollar (USD). Trong lần thứ tư
xẩy ra vào ngày 11/2/2011, VNĐ sụt giá 9.3% so với USD. Hối suất chính thức của
VNĐ tăng từ 18,932 lến đến 20,693 cho một USD. NHNN quyết định phá giá VNĐ là
để giảm bớt sự chênh lệch giữa hối suất chính thức và hối suất chợ đen, đôi khi sự cách
biệt lên đến 9% và làm giảm sự khan hiếm ngoại tệ. Sự phá giá VNĐ cũng giúp tăng
xuất khẩu và giảm chênh lệch cán cân thương mai vì làm giảm chi phí sản xuất trong
nước. Tuy nhiên, đồng Việt Nam mất giá cũng làm tăng lạm phát vì giá sản phẩm và
nguyên liệu nhập khẩu sẽ gia tăng tính theo VNĐ.
Ngoài ra, còn có những nguyên nhân bên ngoài là giá thực phẩm và giá săng dầu gia
tăng. Nhưng tất cả mọi nước đều chịu ảnh hưởng của hai thứ sản phẩm này không phải
chỉ riêng Việt Nam. Như vậy, lạm phát ở Việt Nam do nhiều yếu tố. Các giải pháp
kiềm chế lạm phát cần tác động vào các yếu tố đó.
III. Chính sách chống lạm phát của nhà nước
Trước tình trạng lạm phát gia tăng, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số
11/NQ-CP ngày 24-02-2011 đưa ra bẩy “giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.” Thi hành nghị quyết này, nhà nước đã
cho thi hành chính sách siết chặt tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và cắt giảm mức gia tăng
tín dụng. NHNN đã tăng lãi suất tài trợ (refinance rate) lên đến 14% và lãi suất chiết
khấu (discount rate) lên đến 13%. Các lãi suất mới bắt đầu có hiệu quả từ 1/5/2011.
Cũng về mặt tiền tệ, NHNN nhắm cắt giảm mức gia tăng tín dụng từ 23% xuống còn
18%-19% trong năm nay.
Để gia tăng kiểm soát thị trường vàng và ngoại hối, chủ yếu là đồng USD, hầu bảo vệ
đồng nội tệ và ổn định tỷ giá, nhà nước ra lệnh cấm buôn bán vàng miếng trên thị
trường tự do, cấm trao đổi bằng đồng USD và đồng thời “thực hiện các biện pháp cần
thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước
bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp lý, bảo
đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất
kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối.”
Nhà nước dễ dàng ban hành biện pháp cấm đoán trên, nhưng khó mà có thể kiểm soát
việc thi hành. Vì vậy, hiệu quả của biện pháp này đối với vấn đề chống lạm phát chưa
có thể kết luận được.
Vào cuối tháng 4 vừa qua, nhà nước Việt Nam trình bầy dự định thực hiện một số biện
pháp tài chánh song song với các biện pháp tiền tệ để chống lại nạn lạm phát bao gồm
việc giảm bớt chương trình đầu tư công, cắt giảm bội chi ngân sách xuống dưới 5% của
GDP, và giảm những chi phí thường xuyên 10% trong 9 tháng còn lại của năm 2011.
Tuy nhiên, nhà nước xem ra rất chậm chạp về lãnh vực này vì thực tế cho thấy chưa có
biện pháp tài chánh nào được thực hiện. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư gửi 10 phái đoàn đến
các địa phương để nghiên cứu các dư án đầu tư của nhà nước, nhưng chưa công bố
những dự án nào cần phải loại. Một thành viên của Ủy Ban Kinh Tế của Quốc Hội cho
biết rằng không nơi nào muốn những dự án của họ bị hủy bỏ vì những dự án này mang
tiền đến địa phương và cho ngay chính họ. Theo TS Trần Du Lịch, thành viên Hội Đồng
Tư Vấn Chính Sách Tài Chính và Tiền Tệ Quốc Gia, một trong những lý do của sự
8
chậm trễ này chính là không có sự phân biệt rõ ràng giữa ngân sách quốc gia và ngân
sách địa phương.
Một số chuyên viên tên tuổi đã lên tiếng thúc dục nhà nước thi hành những biện pháp tài
chánh như TS Vũ Thanh Tú Anh, Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Kinh Tế
Fulbright, TS Quách Đức Pháp, Chủ Tịch Hội Chuyên Gia Đầu Tư Tài Chánh, ông Cao
Sỹ Kiêm, cựu Thống Đốc NHNN. Thật vậy, những biện pháp tiền tệ không đủ để ngăn
chặn lạm phát mà nhà nước cần phải thi hành những biện pháp tài chánh, đặc biệt là cần
phải cải tổ toàn diện khu vực DNNN, nguồn gốc của những đầu tư thiếu hiệu quả và phí
phạm tài nguyên quốc gia.
IV. Hậu quả của lạm phát
Một trong những hậu quả của tình trạng lạm phát mà chúng ta đã thấy ở trên là lạm phát
làm giảm phát triển. Nhà nước sau cùng đã phải giảm chỉ tiêu phát triển 1% từ 7%-7.5%
xuống 6.5% cho năm 2011 đặc biệt là ngừng, đình hoãn, giãn tiến độ thực hiện một số
dự án đầu tư của nhà nước. Với lãi suất và đối với tình trạng kinh tế vĩ mô bất ổn do lạm
phát gây ra, các nhà đầu tư tư nhân có khuynh hướng giảm đầu tư hoặc rút ra khỏi Việt
Nam.
Nạn lạm phát làm cho đồng tiền VNĐ yếu đi và mất giá. Người tiêu thụ bớt tin tưởng
vào VNĐ và do đó họ có khuynh hướng giữ vàng hoặc ngoại tệ. Mới đây NHNN đã áp
dụng một số biện pháp để giảm bớt hiện tượng dollar hóa thị trường bằng cách kiểm
soát chợ đen, tăng tỉ lệ dự trữ USD từ 4% lên đến 6%, và giới hạn lãi suất dành cho tiền
USD ký quỹ xuống còn 3%. Kể từ khi có cuộc khủng hoảng tài chánh thế giới vào năm
2008, các đồng nội tệ Á châu đều lên giá so với USD và mức lạm phát tối đa cũng chỉ
bằng nửa Việt Nam. Chỉ riêng tiền của Việt Nam bị mất giá. Đây là một thử thách đối
với Việt Nam.
Vì đồng VNĐ mất giá cho nên dân chúng thu mua và tích trữ vàng và đồng USD. Các
cơ sở kinh doanh không bị đòi hỏi phải bán giữ ngoại tệ cho ngân hàng trung ương.Do
đó những cơ sở này cũng lưu trữ ngoại tệ. Trong khi đó, mức tồn trữ ngoại tệ của
NHNN quá thấp. Kể cả vàng mức dự trữ ngoại tệ của NHNN vào cuối năm 2010 là 15.5
tỉ USD, tương đương với 1.9 tháng trị giá nhập cảng theo báo cáo của Quỹ Tiền Tệ
Quốc Tế. Hiện nay có khoảng 400,000 công nhân Việt Nam làm việc ở ngoại quốc và
khoảng ba triệu “Việt kiều” đang sống ở nước ngoài. Theo thống kê của Quỹ Tiền Tệ
Quốc Tế, số tiền của công nhân “xuất khẩu lao động” và “Việt kiều” chuyển về Việt
Nam dưới dạng “gross remittance” hay “net private transfers” trong hai năm 2009 và
2010 là 6 tỉ USD (thực tế) và 6.1 tỉ USD (dự đoán). Con số ngoại tệ này cũng không
đáng kể gì đối với nhu cầu ngoại tệ của Việt Nam hiện nay. Tình trạng cán cân thương
mại thiếu hụt do nhập nhiều hơn xuất khẩu kéo dài quá lâu đã làm hao mòn dự trữ ngoại
tệ. Trong thời gian từ 2005-2010, tổng số nhập siêu của Việt Nam là 47.3 tỉ USD hay
trung bình mỗi năm là 7.9 tỉ USD. Thêm vào đó là nạn đầu tư vô tội vạ của các tập đoàn
kinh tế quốc doanh. Thay vì chú trọng vào việc sản xuất, một số tập đoàn này lại đầu tư
vào dịch vụ kinh doanh phi sản xuất như chứng khoán và nhà đất. Đó là những lý do
làm cho Việt Nam đang trải qua tình trạng khan hiếm ngoại tệ khiến cho các nhà nhập
khẩu gặp khó khăn khi thu mua ngoại tệ để mua hàng từ nước ngoài.
9
Theo ông Lê Xuân Trình, Phó Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty Dầu Việt Nam (PV Oil),
trung bình PV Oil cần 80-90 triệu USD mỗi tháng để nhập cảng dầu, nhưng chỉ mua
được một phần USD, còn phần lớn phải đi vay. Trong ba tháng đầu của năm 2011, số
nợ của PV Oil đã lên đến 100 triệu.
Theo một số báo ở trong nước, xăng trở nên khan hiếm, đặc biệt tại các tỉnh ở miền Tây
Nam phần, giáp ranh với Campuchia, sau khi có quyết định tăng giá xăng. Báo SGGP
tường thuật rằng nhiều trạm chỉ bán xăng nhỏ giọt, hoặc đề bảng hết xăng, hoặc tạm
đóng cửa để sửa chữa. Vụ khan hiếm xăng dầu ảnh hưởng đến những người sống về
dịch vụ chuyên chở bằng ghe máy, thuyền máy, hay xe hơi.
Lạm phát nói chung ảnh hưởng đến lương
bổng của công nhân và nhửng dân nghèo ở
nông thôn một cách mạnh mẽ. Vì giá xăng dầu
và điện gia tăng, các công ty chuyên chở đã
tăng chi phí chuyên chở bằng 15%-20%. Các
công ty đường sắt cũng gia tăng lệ phí 25% kể
từ 1/4/2011. Những công ty hàng không cũng
có những quyết định tương tự. Cuối cùng chỉ
có những người tiêu thụ chịu mọi hậu quả.
Một cuộc điều tra dư luận của 2,100 công nhân
tại bẩy thành phố và tỉnh doTổng Liên Đoàn
Lao Động Việt Nam thực hiện vào cuối tháng
11, 2010 .cho thấy rằng chỉ có 3.9% số người hồi âm là thỏa mãn với số lương bổng,
trong khi đó 50.9% không hài lòng. Vào năm 2010, ở Việt Nam có khoảng 216 vụ đình
công xẩy ra. Trong hai tháng đầu của năm nay, có trên 20 vụ đình công liên hệ tới lạm
phát mà phần lớn là ở tại những công ty đầu tư nước ngoài sản xuất quần áo, giầy, và đồ
điện tử với lương bổng rất thấp và điều kiện làm việc nghèo nàn.
Tuy nhiên lạm phát ở mức độ vừa phải cũng có cái lợi, đó là nó góp phần phân phối lại
thu nhập trong xã hội, giữa những người thừa tiền và những người có hàng hóa cần
thanh lý. Sau khi lạm phát kết thúc thì tiền sẽ phân phối dều hơn, ít trường hợp người
này quá nhiều tiền còn người kia quá nhiều hàng nhưng lại thiếu vốn.
KẾT LUẬN
10
Hiện nay Việt Nam ở vào tình trạng tứ bề thọ địch về phương diện kinh tế.
Những nhà hoạch định kinh tế phải đương đầu với các mục tiêu khác nhau mà những
biện pháp áp dụng sẽ tạo ra những ảnh hưởng trái ngược nhau: giảm lạm phát, duy trì
phát triển, giảm đầu tư công, duy trì khu vực DNNN, thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu,
cân bằng ngân sách và cán cân thương mai. Qua những chỉ thị về ngừng, đình hoãn,
giãn tiến độ thực hiện một số dự án đầu tư của nhà nước cho 2011, Nghị quyết 11 cho
thấy nhà nước đã không tiên đoán được tình trạng lạm phát nói riêng và kinh tế vĩ mô
khó khăn nói chung hiện nay.
Cho đến ngày 3/5/2011, ông Võ Hồng Phúc, Bộ Trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư
mới xác nhận tại diễn đàn của Ngân Hàng Phát Triển Á châu đang nhóm họp tại Hà Nội
rằng ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là chống lạm phát và ấn định mục tiêu phát triển
kinh tế theo tình trạng lạm phát hiện nay. Mục tiêu phát triển mới là 6.5% thay vì 7% –
7.5%.
Tình trạng kinh tế khó khăn của Việt Nam hiện nay không phải chỉ giới hạn ở
vấn đề lạm phát nghiêm trọng. Thật sự lạm phát chỉ là mặt nổi của một tình trạng đáng e
ngại hơn. Đó là một sự bất ổn kinh tế toàn diện, từ ngân sách quốc gia thiếu hụt, khu
vực DNNN lỗ lã, cán cân thương mại mất cân bằng, thị trường bong bóng nhà đất, đầu
tư thiếu kiểm soát, khan hiếm ngoại tệ, cho đến tiền VNĐ mất giá, và nhất là đời sống
dân nghèo cơ cực hơn. Cải tổ khu vực quốc doanh là một việc làm cấp thiết hiện nay
nếu Việt Nam muốn tiến một cách bền vững, muốn loại bỏ những sự phung phí tài
nguyên, và muốn ngặn chặn tình trạng lạm phát tận gốc một cách hiệu quả.
MỤC LỤC
11
MỞ ĐẦU………………………………………………………
THÂN BÀI……………………………………………………
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Định nghĩa…………………………………………………
2. Nguyên nhân………………………………………………
B. THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
I. THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
1. Xét tổng quát……………………………………………….
2. Nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của lạm phát……………
3. Tổng ngân sách/GDP của VN thuộc loại khá cao……
4. Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ ra cuối cùng của lạm phát.Tốc
độ tăng dư nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP….
5.Tình trạng vàng hóa và đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm
phát trên 4 mặt………………………………………………………
6. Việc thực hiện lộ trình giá trị thị trường khi chuyển sang kinh tế thị
trường……………………………………………………………………….
7. Gía cả thế giới tăng………………………………………
8. Ngoài ra, cũng cần tính đến sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh
đầu tư………………………………………………………….
II. PHÂN TÍCH LẠM PHÁT NƯỚC TA TẠI SAO CAO VÀO NĂM
2011………………………………………………………………………
III. CHÍNH SÁCH CHỐNG LẠM PHÁT CỦA NHÀ NƯỚC …
KẾT LUẬN…………………………………………………
TÀI LIỆU THAM KHẢO
12

Xem chi tiết: New Microsoft Word Document


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét