Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014
Những lớp từ bị hạn chế về mặt sử dụng trong từ điển Việt _Bồ _ Nha của Alexandre de Rhodes
phương pháp đã bổ sung và hỗ trợ nhau, kết quả thu được từ việc áp dụng phương
pháp này cũng là tiền đề để thực hiện phương pháp khác.
6. Bố cục của khóa luận
Ngồi phần mở đầu và kết luận, nội dung của khóa luận gồm hai chương
Chương I: Một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chương II: Các thành phần từ vựng trong Từ điển VBL
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Lý luận về từ
1.1. Định nghĩa từ
Cho đến nay, trong ngơn ngữ học, các định nghĩa về từ được đưa ra rất nhiều.
Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác, đều đúng ,nhưng đều khơng đủ và
khơng bao gồm được hết tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngơn ngữ và ngay
cả trong từng ngơn ngữ cũng vậy. Tuy nhiên, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên
cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy khơng có sức
bao qt tồn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngồi phạm vi của nó một khối lượng
khơng nhiều các trường hợp ngoại lệ. Trong khố luận này, chúng tơi sử dụng định
nghĩa sau đây là định nghĩa được nhiều người chấp nhận, làm cơ sở khoa học cho
việc nghiên cứu của mình:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngơn ngữ được vận dụng độc lập, tái
hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.
Ví dụ:
Nhà, người, quần áo, sách vở, bút
Đi, đứng, cười, nói, u, ghét
Đẹp, xấu, dun, đỏ, vàng, xanh
Hoa hồng, nhà tầng, bồ hóng, bù nhìn
1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt
So với từ của các ngơn ngữ Ân- Âu, thì từ của tiếng Việt có những đặc điểm
sau đây:
- Từ của các ngơn ngữ đều được tạo bởi các hình vị. Nói cách khác, từ đựơc
tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp lại với nhau theo nhữmg ngun tắc
nhất định.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Ví dụ về từ trong tiếng Anh: Housewife, classroom, newspaper,
Hình vị là đơn vị ngơn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/ hoặc có giá trị về mặt ngữ
pháp.
Trong tiếng Việt, đơn vị cơ sở cấu tạo là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn
gọi là âm tiết. Như vậy, mặc dù ngun tắc phổ biến là từ được cấu tạo bởi các hình
vị, nhưng trong các ngơn ngữ khác nhau có thể khơng giống nhau.
Các đơn vị gọi là tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị
trong các ngơn ngữ khác. Chúng có hai đặc điểm cần thiết của một hình vị:
- Là đơn vị tối giản (đơn vị ngơn ngữ nhỏ nhất có nghĩa)
- Có giá trị về mặt ngữ pháp
Tuy nhiên giữa tiếng của tiếng Việt và hình vị của nhiều ngơn ngữ thuộc loại
hình khác cũng có nhuững điểm khác nhau khá căn bản sau:
Trước hết, xét về hình thức, chúng ta thấy rằng ở các ngơn ngữ thuộc loại
hình khác, ví dụ như ở nhiều ngơn ngư Ân Âu, hình vị chỉ là đơn vị thuần ngữ
pháp, hồn tồn khơng có liên quan gì đến các đơn vị ngữ âm gọi là âm tiết cả.
Hình vị ở các ngơn ngữ này khi thì có dạng ngữ âm là một âm vị, khi thì có dạng
ngữ âm là một tập hợp bất kỳ của nhiều âm vị (có thể nhỏ hơn âm tiết; bằng âm
tiết; hoặc lớn hơn âm tiết, bằng hai, ba âm tiết). Vì vậy, xác định âm tiết và xác
định hình vị những ngơn ngữ này là hai q trình tách biệt, đưa đến những kết quả
khác nhau.
Ở tiếng Việt, tình hình hồn tồn ngược lại. Giữa hình vị và âm tiết có một
mối tương quan rõ rệt. Giữa âm tiết và hình vị bao giờ cũng có một sự tương ứng
một đối một, sự tương ứng hồn tồn. Mõi tiếng trong tiếng Việt đứng về mặt ngữ
âm chính là một âm tiết, mà đứng về mặt ngữ pháp chính là một hình vị. Cho nên,
ở tiếng Việt, phân tích câu nói ra thành hìnhvị và phân tích câu nói ra thành âm tiết
bao giơ cũng đưa đến một kết quả giống nhau, đó là chia tách câu nói ra thành từng
tiếng một.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Mặt khác, xét về nội dung, hình vị tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nội dung
được thể hiện, chí ít nó cũng có giá trị hình thái học (cấu tạo từ). Sự có mặt hay
khơng của tiếng trong một ngữ đoạn nào đó bao giờ cũng đưa đến tác động nhất
định về mặt này hay mặt khác. Ví dụ:
Xanh- xanh xanh- xanh rì- xanh lè
Dài- áo dài- áo rất dài
Đến đây có thể kết luận rằng tiếng của tiếng Việt khơng phải là một hình vị
bình thường như hình vị của nhiều ngơn ngữ khác. Tiếng là một loại hình vị đặc
biệt: một hình tiết (Morphemsyllable), tức âm tiết có giá trị hình thái học [1,9].
- Từ của tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ:lời và nhời, trăng và
giăng, nhăn và dăn ) nhưng tuyệt nhiên khơng có biến thể hình thái học. Dù đứng
trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ ngun một hình thức.
Đây làđiều khác hẳn các ngơn ngữ Ân- Âu: ở các ngơn ngữ này, từ có thể tồn tại
dưới nhiều từ hình khác nhau [4].
2. Từ, ngữ trong từ điển VBL
2.1. Những khó khăn khi thống kê từ, ngữ
Từ điển VBL là cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ và
soạn giả lại là người nước ngồi. Chính vì các lẽ đó nên sự thiếu sót là điều khơng
thể tránh khỏi. Những khó khăn mà chúng tơi gặp phải khi xử lý tư liệu là:
- Mục từ khơng rõ ràng, từ để định nghĩa thường lẫn lộn với từ hoặc cụm từ
minh hoạ.Ví dụ:
+ Gọn, một gọn, hai gọn: Mười, hai mươi, dùng để nói về tơ sợi và những
thứ tương tự .
Trong ví dụ này, từ mà AdR giải nghĩa là “gọn”, các ví dụ minh hoạ là “một
gọn”, “hai gọn”. Tuy vậy, soạn giả chỉ giải nghĩa các ví dụ chứ khơng phải từ cần
giải nghĩa chính thức.
- Mục từ mà AdR đưa vào từ điển có cả đơn vị là từ và các đơn vị khơng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
phải là từ như yếu tố cấu tạo từ hay cụm từ tự do, cụm từ cố định. Ví dụ:
+ Mục từ là yếu tố cấu tạo từ: Xa, xấu xa (Xấu xa), trong ví dụ này thì Xa là
yếu tố cấu tạo (hình vị) nên từ xấu xa
+ Mục từ là cụm từ tự do: Diếc nhau (vạch những khuyết điểm của nhau
trong khi cãi vã), Cửa lác đi lác lại (cửa lắc đi lắc lại_ Cửa bị gió lung lay từ bên
này sang bên kia).
+ Mục từ là cụm từ cố định:
• Thành ngữ: Vơ thỉ vơ chung (vơ thuỷ vơ chung), hàng hà sa số
• Ngữ láy âm: Trùng trùng điệp điệp
- Trật tự A,B,C của các mục từ có nhiều lộn xộn gây nhiều phiền tối khi tra
cứu.
- Đây là cuốn từ điển nửa đối dịch, nửa giải thích nên bên cạnh nhiều từ được
tường giải con khá nhiều từ được đối dịch laị bằng tiếng Việt. Điều này làm cho
người nghiên cứu khó xác định được nội hàm khái niệm mà nó biểu thị, nhất là các
từ đồng âm Hán Việt. Do vậy, khi thống kê từ, chúng tơi rất khó xác định đâu là từ,
đâu là nghĩa được dùng. Ví dụ:
+ Lịch: lịch
+ Khun: khun
Ở 2 trường hợp này soạn giả chỉ thuần t đối dịch. Người tra cứu rất khó
xác định khun là danh từ chỉ đồ trang sức (khun tai) hay là động từ (khun
bảo).
- Từ điển VBL lấy tự làm đơn vị cơ bản cho nên khi giải nghĩa một từ thì
khơng thể dùng độc lập mà phải lấy một từ ghép làm dẫn chứng, đồng thời phải lặp
lại mấy lần từ đó. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho chúng tơi khi thống kê mục
từ có trong từ điển này. Chẳng như khi giải nghĩa từ đàng, AdR đã lấy từ phủ đàng
để giải nghĩa. Phủ đàng lại được giải thích thêm một lần nữa trong phần giải nghĩa
từ phủ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Một ngun nhân khách quan nữa là nhiều từ trong từ điển VBL có hình
thức ngữ âm khac hẳn ngày nay. Điều này cũng gây khơng ít khó khăn trong việc
xác định và thống kê mục từ của chúng tơi. Ví dụ: an uỷ (an ủi), phũ ba (phong ba),
buần (buồn), bua (vua), đệ nhít, thứ nhít (đệ nhất, thư nhất)
- Cùng là một mục từ nhưng có nhiều nghĩa khác nhau, thậm chí mâu thuẫn
nhau như mục từ sau đây:
+ Xác, làm xang xác: Làm việc rất cẩn thận.
+ Xang, làm xang xác: Làm rối loạn trí hiểu
2.3. Cách xử lý
Đối với khó khăn trong việc tác giả đưa cả cụm từ (tự do và cố định), chúng
tơi thống nhất gọi chung là mục từ . Như vậy, mục từ bao gồm từ và ngữ. Với cách
xử lý vậy thì việc soạn giả đưa cả cụm từ minh hoạ làm lẫn lộn với từ được giải
nghĩa, chúng tơi dều giải quyết dễ dàng. Chẳng hạn, ở trường hợp Gọn, một gọn,
hai gọn, chúng tơi tính là ba mục từ, gồm: gọn, một gọn, hai gọn.
Đối với những trường hợp soạn giả đưa cùng lúc nhiều mục từ mà chỉ có một
lời giải thích thì chungs tơi xem đó là các mục từ dồng nghĩa. Chẳng hạn, ở trường
hợp Ma quỷ, ma cỏ, chúng tơi tính là hai mục từ và chúng đồng nghĩa với nhau.
Đối với trường hợp mục từ có nhiều hình thức phát âm và ghi chính tả,ví dụ:
- Mục từ có nhiều hình thức phát âm khác nhau:
+ Gệch: xiên, chéo, giệch
+ Gệic: X, gệch
- Mục từ có nhiều cách ghi chính tả:
+ Ko: x.co
+ Kơ: x. cơ
+ Ku: x. cu
+ Kư: x. cư
(x. viết tắt của Xem)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Thì chúng tơi xử lý như sau: bước đầu là tìm mục từ chính và mục từ biến
thể. Mục từ chính là mục từ được giải nghĩa đầy đủ, còn mục từ khơng được giải
nghĩa mà chỉ có lời chỉ dẫn tra cứu tại đâu, chúng tơi xem là biến thể của mục từ
chính, tức là mục từ phụ. Khi thống kê, chỉ các mục từ chính là được tính.
Chúng tơi cũng chỉ tính là một mục từ đối với trường hợp mục từ được giải
nghĩa nhiều lần.
2.3. Mục từ trong từ điển VBL
Với cách làm việc như thế, theo thống kê của chúng tơi, từ điển VBL có tất
cả là mục từ được thu thập, đối dịch và giải nghĩa. Đây là số liệu mà chúng tơi tính
theo ngun tắc chỉ tính riêng các mục từ thuần t về mặt hình thức. Tức là các
mục từ mà AdR đối dịch sang tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh và được in đậm,
chứ khơng tính các từ ngữ được dẫn ra trong phần giải thích mà có liên quan về
nghĩa với các mục từ được giải thích. Ví dụ:
+ Đoạn: Hồn tất. Thơi đoạn: sau khi tơi đã hồn tất.
+ Đói: Đói. Đói lòng: đói bụnh. đói khát: đói và khát. Đói rách: người đói và
mặc áo rách rưới.
Ở hai ví dụ này, các mục từ chúng tơi thống kê là đoạn và đói, còn các mục
từ khác: thơi đoạn, đói lòng, đói khát, đói rách, chúng tơi khơng tính đến. Do cách
xử lý của chúng tơi là chỉ thống kê những mục từ thuần t về mặt hình thức nên số
lượng mục từ trong từ diển VBL là 6219 mục từ, nếu tính cả những mục từ nằm
trong phần lời giải thích thì số lượng phải tăng lên rất nhiều [Có thể tham khảo kết
quả thống kê của Viện Khoa học Xã hội “hơn một vạn từ ngữ Việt khác được dẫn ra
trong các mục từ vì có liên quan đến nghĩa các mục từ” (trích Lời nói đầu của Từ
điển VBL)]
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Chương II:
CÁC THÀNH PHẦN TỪ VỰNG TRONG TỪ ĐIỂN VIỆT- BỒ- LA
1. Giới thiệu
Vốn từ của một ngơn ngữ gồm hàng chục vạn đơn vị. Đã có những ý kiến
cho rằng nó chẳng có một trật tự nào cả. Vì vậy, khó có thể nói đến tính hệ thống
của từ vựng. Tuy nhiên, sau rất nhiều nỗ lực nghiên cứu người ta thấy rằng từ vựng
nói chung, từ vựng tiếng Việt nói riêng, khơng phải là một tập hợp hỗn loạn các từ
ngữ. Tuy số lượng rất lớn nhưng chúng làm thành một chỉnh thể gồm những hệ
thống nhỏ có liên quan đến nhau, gắn bó với nhau chặt chẽ. Các tiểu hệ thống này
đến lượt nó lại có thể phân chia thành các tiểu hệ thống nhỏ hơn nữa. Những tiểu
hệ thống phân biệt nhau bởi những đặc trưng, thuộc tính của chúng. Chẳng hạn, hệ
thống từ Hán Việt phân biệt với hệ thống từ thuần Việt bởi đặc trưng nguồn gốc. Từ
thuần Việt có nguồn gốc bản ngữ, còn từ Hán Việt lại có nguồn gốc ngoại lai (vay
mượn tiếng Hán). Hoặc từ nghề nghiệp phân biệt với từ vựng chung (từ tồn dân)
bởi đặc trưng phạm vi sử dụng.
Hệ thống từ vựng nếu nhìn bằng con mắt thuần ngữ pháp học, người ta có
thể phân chia nó thành lớp hạng khác nhau một cách tương đối chặt chẽ và mạch
lạc. Ngựơc lại, nếu nhìn bằng con mắt từ vựng học thì việc phân chia các lớp
dường như khơng được phân minh, rạch ròi bằng. Tuỳ thuộc vào tiêu chí mà người
ta có nhiều cách phân chia vốn từ tiếng Việt ra thành nhiều tiểu hệ thống, tức các
thành phần từ vựng khác nhau. Có thể khái qt bức tranh phân loại bằng bảng
dưới đây:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tiêu chí Thành phần từ vựng
Nguồn gốc Lớp từ bản ngữ (thuần)
Lớp từ ngoại lai
Các từ ngữ gốc Hán
Các từ ngữ gốc Ân- Âu
Vai trò trong đời
sống giao tiếp
Lớp từ tích cực
Lớp từ tiêu cực
Từ cổ
Từ cũ
Từ lịch sử
Từ mới
Phạm vi sử dụng
Phạm vi rộng: Từ vựng chung
Phạm vi hẹp
Thuật ngữ
Từ địa phương
Từ nghề nghiệp
Tiếng lóng
Phong cách
sử dụng
Lớp từ thuộc phong cách nói (khẩu ngữ)
Lớp từ thuộc phong cách viết
Lớp từ trung hồ về mặt phong cách
Trong chương này, chúng tơi tập trung nghiên cứu những bộ phận từ ngữ có
những nét đặc biệt “được đánh dấu” về một phương diện nào đó như phạm vi sử
dụng, vai trò trong đời sống giao tiếp, phong cách sử dụng, nguồn gốc Như vậy,
có nghĩa là bộ phận từ ngữ cơ bản, bộ phận từ vựng tồn dân của Từ điển VBL sẽ
chưa được chú ý phân tích, vì thời gian và khn khổ của khố luận khơng cho
phép.
Dưới đây là những phân tích và miêu tả cụ thể:
1.1. Từ cổ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Từ điển VBL được biên soạn từ đầu thập kỷ năm mươi của thế kỷ XVII. Như
vậy, cuốn từ điển này đã ra đời cách đây hơn ba trăm năm mươi năm. Trong khoảng
thời gian ấy, tiếng Việt đã có nhiều thay đổi. Sự thay đổi diễn ra ở cả ba bình diện:
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp với những mức độ khác nhau. Từ điển VBL là một
chứng tính quan trọng ghi lại sự biến đổi cùa tiếng Việt
Ở bình diện từ vựng, điều dễ nhận thấy là là vốn từ ở thời điểm AdR biên
soạn cuốn từ điển này đến nay đã có nhiều thay đổi. Thay đổi rõ nhất là có 517
mục từ ở thế kỷ XVII được dùng một cách rộng rãi, tồn dân thì đến nay khơng còn
được sử dụng nữa hoặc được sử dụng một cách hạn chế. Đó là những mục từ biểu
thị những sự vật, hiện tượng, thuộc tính mà trong tiếng Việt hiện nay đã có các từ
ngữ đồng nghĩa tương ứng. Chính sự xuất hiện các từ ngữ đồng nghĩa tương ứng ở
giai đoạn hiện nay đã làm cho bộ phận tiếng Việt này trở lên lỗi thời, xa lạ với trạng
thái tiếng Việt hiện tại .Theo cách phân lớp tiếng Việt theo tiêu chí tiêu cực và tích
cực, thành phần này thuộc lớp từ vựng tiêu cực (hiểu tích cực và tiêu cực ở đây là
những từ ngữ có đóng vai trò tích cực trong đời sống giao tiếp hay khơng) và người
ta đã thống nhất gọi là thành phần từ vựng này là từ cổ.
Từ cổ là những từ bị đẩy ra ngồi hệ thống từ vựng hiện đại, bởi trong q
trình phát triển, biến đổi đã xảy ra những xung đột về đồng nghĩa hoặc đồng âm và
bị từ khác thay thế. Chính vì thế từ cổ đều có từ tương ứng, đồng nghĩa với chúng
trong trạng thái từ vựng hiện tại .
Ở đây, chúng tơi xin được lưu ý thuật ngữ từ cổ mà chúng tơi dùng bao gồm
cả một bộ phận từ ngữ mà người ta vẫn gọi là từ cũ. Đó là những từ ngữ chỉ mới
thay thế cách đây khơng lâu, hoặc đang trên đường bị thay thế hẳn. Thực tế là
chúng cũng bị từ khác tay thế nhưng người đương thời vẫn hiểu chúng khá rõ, thậm
chí đơi khi rất rõ và vẫn dùng. Như vậy, nếu so về tính chất và mức độ cổ thì các từ
cũ khơng thể bằng các từ cổ thật sự. Các từ cũ trong từ điển VBL là: tràng an, kinh
đơ, ác quạ, cái ác, cai… Trong khố luận này, chúng tơi khơng tách riêng chúng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét