Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Quản trị marketing chiến lược bài toán du lịch việt nam

Đơn cử như khi Di sản Khu di tích Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội vừa được công
nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân loại vào đầu tháng 8 năm ngoái, sau đó đã có
rất nhiều tranh cãi xung quanh việc có nên khai quật, mở rộng tiếp không gian cũng như
để tìm kiếm thêm nhiều giá trị khác ở khu di tích này. Đã có những ý kiến cho rằng, đó
là một việc nên làm để mở rộng và làm phong phú hơn nữa những giá trị của Hoàng
thành Thăng Long, nhưng cũng lại không ít người thì nói, nên giữ nguyên hiện trạng
như khi được công nhận để bắt tay vào khai thác về mặt thăm quan, du lịch. Cả hai ý
kiến này đều có những lý lẽ riêng thuyết phục.
Nhưng rồi cũng lại vừa có một tin mới vào đầu tháng 4 vừa rồi cho hay, vì việc thi công
những công trình lân cận đã khiến cho Di tích Hoàng thành Thăng Long bị sụt lún
nghiêm trọng, nhiều người còn ngần ngại đặt ra câu hỏi rằng, rồi di tích này sẽ có nguy
cơ không còn nguyên vẹn nữa!? Dù sau đó, ban quản lý di tích cũng đã tổ chức cuộc
họp thống nhất và đưa ra ý kiến xử lý nhưng câu chuyện này một lần nữa cho thấy sự
không quy củ trong quy hoạch, đầu tư, phát triển và bảo tồn di tích Hoàng thành Thăng
Long và cả với phần lớn Di sản ở Việt Nam.
Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) có nguy cơ không còn nguyên vẹn do bị sụt lún
Trong thời gian vừa qua, một điều đáng mừng là đã có rất nhiều động thái của Bộ
VHTT&DL phối hợp cùng các đơn vị có liên quan tổ chức nhiều chương trình, hội thảo,
triển lãm nhằm xem xét, bàn bạc và tìm phương hướng cũng như thúc đẩy phát triển du
lịch di sản nói riêng và phát triển ngành du lịch nói chung.
Làm mới du lịch di sản từ những cái cũ
Cần phải nói ngay rằng, làm mới du lịch di sản không có nghĩa là tất cả di sản phải được
làm mới (trùng tu, tôn tạo, xây dựng mới) mà đó chính là phải có những sự đầu tư mới,
chính sách hoạch định mới cũng như nhiều dự án mới tập trung khai thác tốt tiềm năng
du lịch di sản.
5
Rất nhiều ý kiến được đưa ra trong các cuộc hội thảo, triển lãm nhằm xây dựng, định
hướng một cách đúng đắn nhất lời giải cho bài toán du lịch di sản ở Việt Nam.
Hầu hết các ý kiến đều tập trung vào các giải pháp thuộc về lĩnh vực con người, nhân
lực của ngành du lịch di sản. Các hoạt động tuyên truyền, tổ chức hội thảo, tập huấn góp
phần nâng cao nhận thức bảo tồn cho chính cộng đồng địa phương ở khu vực di sản là
điều thiết yếu, nó giúp cho chính những người dân nơi có di sản biết quý trọng, nâng niu
và có cách làm phù hợp để phát triển những tiềm năng này. Thứ nữa, vấn đề nhân lực
cho nghành du lịch di sản cũng đang là một vấn đề đau đầu khi có quá ít người thực sự
am hiểu về di sản, giá trị về văn hóa, lịch sử của các di sản ngay cả khi nhận trách
nhiệm trùng tu, tôn tạo hay đơn giản chỉ từ người chịu trách nhiệm hướng dẫn viên du
lịch trong một mô hình du lịch di sản cụ thể.
CẦn đào tạo nguồn nhân lực cho nghành du lịch di sản, bắt đầu từ những hướng dẫn
viên du lịch
Một yếu tố quan trọng thứ hai mà nhiều ý kiến của các Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành đưa
ra đó là sự cần thiết đầu tư vào các giải pháp, hoạch định cụ thể, đúng đắn cho mô hình
phát triển du lịch di sản. Các giải pháp cụ thể: Hoàn thiện, nâng cao chất lượng các dịch
vụ du lịch tại các di sản văn hóa thế giới; Đẩy mạnh nghiên cứu cải tiến, làm mới các
sản phẩm cũ; Xác định sản phẩm định vị thương hiệu cho các di sản; Tăng cường liên
kết để phát triển sản phẩm du lịch; Phát động sự tham gia của cộng đồng…
Ông Trương Minh Tiến - Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội – nơi
được coi là có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch di sản ở Việt Nam cũng cho biết,
mặc dù 2012 được chọn là năm Du lịch di sản ở khu vực các tỉnh duyên hải Bắc miền
Trung - Huế, nhưng Hà Nội với nhiều di tích lịch sử, và 3 di sản lớn là Khu di tích
Hoàng thành Thăng Long, Hội Gióng (Di sản VHTG) và Bia tiến sĩ ở Văn Miếu Quốc
Tử Giám (Di sản Ký ức thế giới) đã đưa ra nhiều phương án để đẩy mạnh phát triển du
6
lịch di sản trong năm 2012, tạo ra một mô hình xuyên suốt trong du lịch di sản ở cả
nước.
Thái Anh
Du lịch Di sản: Tiềm năng còn bị bỏ ngỏ
Thứ Năm, 28.7.2011 | 15:04 (GMT + 7)
Với 5 di sản văn hóa vật thể đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế
giới, Việt Nam hoàn toàn có thể khai thác mạnh vào mô hình du lịch Di sản. Vậy
nhưng, tiềm năng này vẫn đang bị bỏ ngỏ một cách đáng tiếc!
Cùng với việc ngày càng có nhiều danh thắng, địa danh của Việt Nam có mặt trong danh
sách di sản thế giới, việc phát triển du lịch di sản đang là một vấn đề nhận được nhiều
quan tâm của dư luận, đặc biệt là việc làm sao để phát triển được dòng du lịch vốn nhiều
tiềm năng này tại Việt Nam.
Những “mỏ vàng” của ngành “công nghiệp không khói”
Kể từ tháng 12.1993, khi Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO quyết định ghi tên quần
thể di tích Cố đô Huế vào Danh mục Di sản Văn hóa Thế giới, cho tới nay nước ta đã có
7 di sản văn hóa vật thể và thiên nhiên được nhận vinh dự đó. Trong số này có 5 Di sản
Văn hóa vật thể là: Quần thể di tích Cố đô Huế, Khu phố cổ Hội An, Khu di tích Mỹ
Sơn, Trung tâm Khu Di tích Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, và mới đây nhất, ngày
27.6 vừa qua Thành nhà Hồ cũng được công nhận là Di sản văn hóa vật thể của nhân
loại.
Thành Nhà Hồ - thêm một di sản vừa được công nhận là Di sản văn hóa thế giới
Có lẽ, không cần phải nói thêm gì về giá trị của những Di sản này bởi nó đã được cả thế
giới công nhận, về những giá trị lịch sử, văn hóa mà nó mang theo.
7
Không chỉ có những di sản văn hóa đã được thế giới công nhận, theo thống kê mới nhất
của Cục Di sản văn hóa (Bộ VHTTDL), hiện nay trên cả nước có khoảng trên 4 vạn di
tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh. Trong đó, có hơn 3 nghìn di tích được xếp
hạng cấp quốc gia, hơn 5 nghìn di tích xếp hạng cấp tỉnh.Cộng thêm vào đó là gần 1
nghìn di sản phi vật thể được sưu tầm nghiên cứu, lưu trữ…
Với sự phong phú đa dạng như vậy của các di sản văn hóa ở Việt Nam, dễ thấy rằng bên
cạnh việc bảo tồn các di sản thì việc đưa những di sản này vào khai thác, và phát triển
về du lịch là một điều cần thiết. Bởi văn hóa là yếu tố nội sinh của du lịch, nên những di
sản phong phú, nhiều giá trị về văn hóa chính là thế mạnh nội lực giúp Việt Nam có thể
đẩy mạnh phát triển “ngành công nghiệp không khói” - du lịch trên cơ sở những di sản
có sẵn.
Hoàng thành Thăng Long cũng vừa được công nhận năm ngoái với những giá trị lịch sử
và văn hóa mà nó mang theo
2011 sẽ là năm Du lịch Di sản!
Với một con số có thể gọi là “khổng lồ” về các di sản văn hóa tại Việt Nam, việc đưa Di
sản vào phát triển du lịch là một điều cần thiết. Trước nhất là đối với sự phát triển của
du lịch, tiềm năng di sản không thể bị… bỏ ngỏ mãi. Thứ nữa, việc phát triển du lịch
cũng tạo nhiều cơ sở để việc bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản như lịch sử, văn hóa
được thực hiện một cách quy củ, nề nếp và đúng đắn nhất.
Xác định được tầm quan trọng của việc phát triển Du lịch di sản, mới đây, Bộ
VHTT&DL vừa chính thức gọi tên Năm Du lịch quốc gia 2012 là "Năm Du lịch quốc
gia các tỉnh duyên hải Bắc miền Trung - Huế 2012" với chủ đề "Du lịch di sản". Không
khó để nhận ra, khu vực Duyên hải Bắc miền Trung – Huế đã có ít nhất 2 trên 5 di sản
văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận. Chưa kể đến những Di sản còn lại
đều nằm ở những vùng lân cận. Việc phát triển thành một mô hình du lịch di sản trong
8
năm cũng như trong một chuỗi không gian nhất định được coi là một sự định hướng
đúng đắn.
2011 sẽ là năm "Du lịch Di sản" với điểm chính ở khu vực Bắc miền Trung - Huế
Nói về sự phát triển du lịch trong quan hệ với bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn
hóa, nhiều Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành cũng đã khẳng định về vai trò và những lợi thế
của Việt Nam khi đưa Di sản vào phát triển Du lịch. Viện phó Viện phát triển Du lịch
Việt Nam, ông Phạm Trung Lương còn cho rằng, việc nước ta có sự phong phú về Di
sản (đã được công nhận và chưa được công nhận) chính là một thế mạnh để cạnh tranh
với các mô hình du lịch khác, và thậm chí là với ngành du lịch của các nước khác trong
khu vực và trên thế giới.
Chọn Năm du lịch 2011 với chủ đề là “Du lịch Di sản”, nhưng một thực trạng cho thấy,
Du lịch Di sản ở Việt Nam vẫn là một bài toán khó tìm lời giải – điều đó xuất phát từ
chính những sự thống nhất không đồng đều trong cơ cấu quản lý, triển khai thực hiện
của mô hình nhiều tiềm năng này.
(Còn nữa)
Du lịch Việt Nam: Bài toán 31% hay 85%
Tags: Thái Bình Dương, Du lịch Việt Nam, khách du lịch, toàn thế giới, quốc tế, 2 năm,
điểm đến, bài toán, thu hút, tiếp theo, 31%, ngành, 85%, hội
9
Theo công bố của Tổ chức VISA và Hiệp hội du lịch
khu vực châu Á-Thái Bình Dương (PATA), trong
cuộc khảo sát vừa thực hiện trên 5.000 khách du lịch
quốc tế từ 10 thị trường du lịch trọng điểm trên toàn
thế giới có 31% cho biết, Việt Nam sẽ là điểm đến
tiếp theo của họ trong vòng 2 năm tới.
Đó là một con số khả quan, có thể mang đến cho ngành du lịch nước nhà nhiều cơ hội
phát triển, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng lượng khách quốc tế đến Việt Nam từ mục tiêu
đạt 4,4 triệu lượt khách trong năm 2007, lên 6 triệu lượt khách vào năm 2010.
Tuy nhiên, những cơ hội đang đến cũng đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam rất nhiều
khó khăn. Cơ sở hạ tầng, phòng ở khách sạn thiếu trầm trọng, sản phẩm du lịch nghèo
nàn vẫn là vấn đề nan giải với ngành du lịch nước nhà, không chỉ trong thời điểm hiện
tại mà ít nhất còn kéo dài thêm vài năm nữa.
Nếu vấn đề trên được cải thiện thì ngành du lịch Việt Nam mới có thể đón thêm 31%
khách du lịch “mới” và hy vọng giảm bớt tỷ lệ 85% khách quốc tế đến Việt Nam “một
đi không trở lại” vì không để lại ấn tượng tốt trong du khách.
Ngành du lịch Việt Nam đã có nhiều hướng giải quyết, đầu tư để thu hút khách quốc tế
trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, nhưng sẽ không có nhiều thay đổi khi mà các dự
án đầu tư vẫn ì ạch, chưa thể hoàn thành.
Ngay cả TPHCM, một TP lớn đi đầu về phát triển kinh tế, nhiều dự án đầu tư phục vụ
mục tiêu thu hút du lịch trong giai đoạn đến năm 2010 vẫn chưa khả thi, còn thiếu sự
phối hợp đồng bộ giữa các ngành, chưa tạo ra thêm một sản phẩm du lịch mới nào cho 2
- 3 năm tới.
TPHCM muốn mở rộng, phát triển sản phẩm, tăng việc tham quan, mua sắm cho khách
du lịch nhưng lại thiếu bãi đỗ xe; chưa chọn được địa điểm để quy hoạch thành khu phố
đi bộ ở quận 1; tour du lịch tham quan khu phố Đông y quận 5 kết hợp với nhà hàng
thực dưỡng, chương trình nghệ thuật văn hóa dân tộc phục vụ du khách ở rạp Kim Châu
vẫn chưa thể hoàn thành, dù đã khởi động cách đây nhiều năm. Việc nâng cấp, mở rộng
các khách sạn cao cấp như Rex, Kim Đô, Grand, Majestic cũng phải chờ 2,3 năm nữa
mới hoàn thành.
Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang là “tâm điểm” của thế giới, thu hút 60% lượng
khách trên toàn cầu. Việt Nam đang có lợi thế, là một trong những điểm đến của khách
quốc tế trong những năm tới. Rõ ràng đây là một yếu tố thuận lợi, một cơ hội không dễ
có cho ngành du lịch Việt Nam. “Thiên thời” đã có, chúng ta còn thiếu chất xúc tác tạo
ra “địa lợi, nhân hòa” để phát triển du lịch thật sự.
10
Việt Nam nằm trong 10
điểm đến hấp dẫn nhất năm
2007.
Năm 2016, VN nằm trong 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới
Tags: Du lịch Việt Nam, nghiên cứu công nghiệp, nhất thế giới, ngành công nghiệp,
vào danh sách, bản báo cáo, hấp dẫn, nằm trong, của ngành, tăng trưởng, cơ hội, năm,
điểm, 10
Trong bản báo cáo vừa công bố “Các cơ hội của ngành công nghiệp du lịch Việt Nam
(2007 - 2009)”, Hãng nghiên cứu công nghiệp toàn cầu RNCOS dự báo Việt Nam sẽ lọt
vào danh sách 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới vào năm 2016.
Theo tính toán của RNCOS, trong 5 năm tới (2007 - 2011), tốc độ tăng trưởng của
ngành công nghiệp du lịch Việt Nam luôn đạt mức trên 14%. Báo cáo cho biết: “Việt
Nam là một trong những nền kinh tế thể hiện sự tăng trưởng ấn tượng nhất ở châu Á.
Nước này đã đón khoảng 3,6 triệu khách du lịch quốc tế năm 2006, so với 2,1 triệu
người năm 2000. Doanh thu từ du lịch đạt 2,4 tỷ USD (chiếm 3,9% GDP), so với 1,2 tỷ
USD năm 2000”.
Các chuyên gia kinh tế của RNCOS khẳng định, nhờ sự bùng nổ của ngành công nghiệp
du lịch, sẽ có thêm nhiều cơ hội việc làm, tăng thu nhập cho người dân và tăng sức mua.
Ngành du lịch cũng sẽ đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Việt Nam. Giao thông, y tế và các ngành công nghiệp liên quan khác cũng sẽ được
hưởng lợi từ sự bùng nổ của du lịch.
Báo cáo nhấn mạnh: “Du lịch nằm trong số những ngành công nghiệp tăng trưởng
nhanh nhất tại hầu hết các nước trên thế giới.
Tại các nước châu Á, Việt Nam nằm trong số những điểm du lịch đạt tỷ lệ tăng trưởng
cao nhất. Trong những năm gần đây, Việt Nam chào đón khách du lịch đến từ nhiều
nước, nhiều khu vực”.
Trí Đường
Cơ hội cho Du lịch Việt Nam
Tags: Thái Bình Dương, Hội An, Quảng Nam, Năm APEC, Tourism Working Group,
Hàn Quốc, phát triển nguồn nhân lực, Du lịch Việt Nam, Di sản Thế giới, đánh giá chất
lượng, nền kinh tế, trong khu vực, tạo điều kiện, Đảo Thái Bình, tăng cường, nhằm
11
Sapa một địa điểm du lịch
thu hút nhiều khách nước
ngoài
- Với chủ đề “Thúc đẩy hợp tác du lịch APEC vì sự thịnh vượng chung”, Hội nghị Bộ
trưởng Du lịch APEC lần thứ 4 đã chính thức diễn vào ngày 12/10 đến ngày 18/10 với
sự tham dự của hơn 200 bộ trưởng và quan chức thuộc ngành du lịch của 21 nền kinh tế
thành viên APEC cùng với 3 tổ chức quan sát viên APEC: ASEAN, Hội đồng hợp tác
kinh tế các quốc đảo Thái Bình Dương (PECC), Hội đồng các quốc đảo Thái Bình
Dương (PIF), và một số tổ chức du lịch khu vực và thế giới (PTA, WTO, WTTC)…
Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4 là cơ hội để các thành viên đánh giá tính
hiệu quả của các dự án trong khuôn khổ 4 mục tiêu chính sách của Hiến chương du lịch
APEC đã được thông qua từ năm 2000 của Hội nghị lần thứ nhất tại Hàn Quốc. Theo
đó, sau 6 năm, nhiều dự án đã được triên khai thực hiện các mục tiêu trên. Tuy nhiên,
với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch toàn cầu hiện nay, cần thiết phải có nhiều
hơn nữa các đề xuất từ các nền kinh tế thành viên nhằm nâng cao hiệu quả của các dự
án.
Tại Hội nghị, báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá chất lượng, hiệu quả dự án của Nhóm
công tác du lịch TWG (Tourism Working Group) về những vấn đề đang đặt ra đối với
du lịch APEC như bảo đảm an ninh cho du khách, chính sách phát triển du lịch, các biện
pháp nhằm đảm bảo phát triển du lịch bền vững, tạo điều kiện đi lại thuận lợi trong khu
vực, đẩy mạnh trao đổi về du lịch, giữ gìn bản sắc văn hóa nhằm phát triển du lịch bền
vững.v.v. sẽ là cơ sở để đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường hợp tác du lịch
APEC cùng với việc thảo luận và thông qua nội dung triển khai ưu tiên của Năm APEC
2006 về du lịch.
Bên cạnh đó, Hội nghị cũng sẽ thảo luận một số sáng kiến của các nền kinh tế thành
viên về tăng cường hợp tác du lịch APEC trong đó Việt Nam đóng góp một số sáng kiến
như: Tổ chức Hội chợ du lịch APEC hàng năm, tổ chức diễn đàn đầu tư du lịch APEC,
mở các tuyến đường bay trực tiếp nối liền các di sản thế giới của các nước thành viên.
Hội nghị cũng sẽ thông qua “Tuyên bố Hội An về tăng cường hợp tác Du lịch APEC”,
khẳng định quyết tâm của các bộ trưởng trong thúc đẩy hợp tác du lịch, coi du lịch là
một trong những lĩnh vực ưu tiên hợp tác của APEC, khuyến khích các nền kinh tế
thành viên tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực du lịch, tiêu
chuẩn hóa dịch vụ, sớm áp dụng tài khoản vệ tinh du lịch, tăng cường phối hợp giữ khu
vực nhà nước và tư nhân trong phát triển du lịch, chia sẻ thông tin.v.v.
Tác động của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch APEC lần thứ 4 (TMM) đến du lịch Việt
12
Nam hết sức to lớn, bởi hầu hết các thị trường
nguồn du lịch Việt Nam đều nằm trong khu
vực APEC. Việc tổ chức TMM sẽ tạo điều
kiện củng cố, thúc đẩy và tăng cường hợp tác
du lịch song phương và đa phương với các nền
kinh tế thành viên APEC, tạo cơ sở khai thác
tốt hơn nữa nguồn lức bên ngoài phục vụ phát
triển du lịch.
Đây cũng là dịp để tăng cường quảng bá hình
ảnh du lịch Quảng Nam - “Một điểm đến hai di
sản thế giới”, góp phần tạo nên hình ảnh đậm
nét về một nước Việt Nam năng động cởi mở, mến khách và là một điểm đến an toàn,
hấp dẫn với du khách khu vực và quốc tế. Mặt khác, đây cũng là cơ hội tốt để du lịch
Việt Nam nâng cap chất lượng dịch vụ, đào tạo nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao, tăng sức cạnh tranh thu hút du khách trong hội nhập kinh tế quốc tế, đặc
biệt là sau khi Việt nam gia nhập WTO.
Nhân lực cho ngành du lịch : Bài toán quá khó ?
Việt Nam nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi có tốc độ tăng trưởng về
lượng khách quốc tế đến cao nhất thế giới. Nhưng nguồn nhân lực phục vụ ngành du
lịch vẫn còn "đuối sức" so với tốc độ tăng trưởng khi hiện chỉ có 30% lao động trong
ngành du lịch được qua đào tạo.
Làm thế nào để đạt mục tiêu 80% nhân lực qua đào tạo trong năm 2015 đang là bài toán
đặt ra cho ngành du lịch Việt Nam .
Cầu vượt xa cung
Du lịch đã được xác định là một ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam với mục tiêu đạt
6 triệu khách du lịch quốc tế, 25 triệu khách nội địa, doanh thu du lịch đạt 4 - 4,5 tỷ
USD trong năm 2010. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, trong giai
đoạn từ năm 1990-2007, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng gấp 17 lần, từ
250.000 lượt của năm 1990 lên 4,2 triệu lượt trong năm 2007. Theo đó, lực lượng lao
13
động trong ngành cũng tăng cao, từ 20.000 lao động của năm 1990 lên hơn 1 triệu hiện
nay.
Theo dự báo, đến năm 2015, du lịch Việt Nam cần khoảng 1,5-2 triệu lao động. Hiện cả
nước có khoảng 40 trường đại học có khoa du lịch, 83 trường cao đẳng và trung cấp du
lịch, hàng năm đào tạo hàng chục ngàn học sinh và sinh viên làm việc trong ngành du
lịch. Tuy nhiên, phần lớn chỉ được đào tạo ở phần nổi, chưa đi sâu vào chuyên ngành,
thiếu thực tiễn vì công tác đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, tài liệu và
đội ngũ giảng dạy.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam thừa
nhận, nguồn nhân lực phục vụ du lịch Việt Nam vẫn còn yếu, hiện chỉ có 30% nhân lực
làm trong ngành du lịch được qua đào tạo bài bản, chất lượng sản phẩm du lịch của Việt
Nam vẫn còn thua xa nhiều nước trong khu vực. Đây là thách thức lớn của ngành du
lịch Việt Nam trong "cuộc chiến" cạnh tranh thị phần. Nếu không xây dựng được sản
phẩm du lịch và dịch vụ có chất lượng thì sẽ rất khó cạnh tranh với các nước.
Ngành du lịch Việt Nam đang hướng tới mục tiêu trong năm 2015: 80% lao động phục
vụ du lịch được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; 100% cơ sở đào tạo có chương trình đáp
ứng yêu cầu thực tiễn, với 100% giáo viên được đào tạo và chuẩn hóa… Những con số
quá lớn này dường như là những mục tiêu "quá sức" với ngành du lịch Việt Nam trong 7
năm tới.
Bài học từ các nước
Thực tế hiện nay, trong đào tạo nhân lực cho ngành du lịch, các trường đào tạo tại Việt
Nam thiếu cơ sở vật chất để học viên thực tập, điều này làm cho học viên thiếu nhiều kỹ
năng khi ra thực tế. Trong thời gian gần đây, một số trường đã hướng đầu tư vào cơ sở
vật chất để nâng cao đào tạo.
Trong đó, Saigontourist đã có đề án xây dựng khách sạn, làm nơi thực tập cho học sinh
Trường Trung học Nghiệp vụ Du lịch Khách sạn TPHCM. Ông Hà Thanh Hải, Phó
Tổng Giám đốc khách sạn Sofitel Metropole Hà Nội ( thuộc tập đoàn quản lý khách sạn
Accor của Pháp ) nhận xét, với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay, vấn đề
tuyển dụng và đào tạo nhân viên lao động cho khách sạn càng trở nên cấp thiết.
Đây là một thách thức lớn không chỉ riêng với Sofitel Metropole Hà Nội mà cho nhiều
khách sạn cao cấp khác ở Hà Nội, nhất là khi nhiều khách sạn cao cấp đang được đẩy
nhanh xây dựng tại Hà Nội, TPHCM. Ông Hải cho biết, Sofitel Metropole Hà Nội xác
định đào tạo tại chỗ, đến các trường đào tạo nói chuyện, định hướng công việc cho học
viên, "săn" người từ lúc các học viên còn ở trường. Theo quy định của tập đoàn Accor,
mỗi cán bộ, nhân viên của khách sạn phải được đào tạo, nâng cao kiến thức 4 giờ/tháng.
Tham dự hội nghị Đảm bảo chất lượng phát triển nguồn nhân lực du lịch, vừa diễn ra tại
TPHCM vào đầu tháng 11-2008, tiến sĩ Steven Chua, Chủ tịch Học viện đào tạo du lịch,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét