Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

hoạt động tín dụng đối với làng nghề tại ngân hàng công thương Hà Tây


5
- Số hộ hoặc lao động làm nghề cơng nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp ở
làng đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ hoặc lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ cơng nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp ở làng
chiếm tỷ trọng trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong
năm. Đảm bảo vệ sinh mơi trường theo các quy định hiện hành.
- Có hình thức tổ chức phù hợp, chịu sự quản lý Nhà nước của chính
quyền địa phương, gắn với các mục tiêu kinh tế - xã hội và làng văn hố của địa
phương.
Tên nghề của làng phải được gắn với tên làng: nếu là làng nghề truyền
thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt tên cho nghề của
làng. Nếu làng có nhiều nghề phát triển, sản phẩm nghề nào nổi tiếng nhất thì
nên lấy nghề đó đặt tên cho nghề của làng, hoặc trong làng có nhiều nghề khơng
phải là nghề truyền thống hay chưa có sản phẩm nghề nào nổi tiếng thì tên nghề
của làng nên dựa vào nghề nào có giá trị sản xuất và thu nhập cao nhất để đặt tên
nghề gắn với tên làng. Việc đặt tên nghề của làng do nhân dân bàn bạc thống
nhất và chính quyền địa phương xem xét đề nghị .
3. Phân loại làng nghề
Người ta thường phân loại làng nghề theo những tiêu thức sau:
Căn cứ vào số nghề của một làng, làng nghề được chia thành làng một
nghề và làng nhiều nghề.
- Làng một nghề là những làng ngồi nghề nơng ra chỉ làm thêm một nghề
thủ cơng duy nhất, chiếm ưu thế tuyệt đối như: Vạn Phúc, Bát Tràng
- Làng nhiều nghề là những làng ngồi nghề nơng ra còn làm thêm một số
nghề thủ cơng khác như Đồng Kỵ, La Phù
Căn cứ vào thời gian hình thành, làng nghề được chia thành làng nghề
truyền thống và làng nghề mới.
- Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất hiện lâu đời trong lịch
sử và tồn tại đến ngày nay.
- Làng nghề mới là những làng mới xuất hiện trong thời gian gần đây do
nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hố đó xuất hiện.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
4. Sự cần thiết của việc phát triển các làng nghề
Cùng với việc xây dựng một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, nước ta đang từng bước đẩy mạnh sự nghiệp cơng nghiệp hố -
hiện đại hố, trong đó đặc biệt chú ý đến khu vực nơng thơn. Trải qua q trình
tồn tại và phát triển, các làng nghề đã chứng tỏ được vai trò vơ cùng quan trọng
của mình trong việc thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nơng thơn Việt Nam. Như
vậy phát triển các làng nghề là một trong những chiến lược quan trọng trong sự
nghiệp cơng nghiệp hố - hiện đại hố nơng nghiệp và nơng thơn vì khơng chỉ
mang lại lợi ích kinh tế, nó còn góp phần ổn định đời sống chính trị - xã hội cho
bà con nơng dân.
* Về mặt kinh tế
Làng nghề giúp phát triển kinh tế của địa phương, thúc đẩy q trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế - cơ cấu lao động nơng thơn theo hướng cơng nghiệp
hố - hiện đại hố, góp phần xây dựng nơng thơn mới.
Thực tế cho thấy việc phát triển các ngành nghề đã tạo ra một nguồn thu
nhập cho các hộ gia đình và lao động làm nghề cao hơn các hộ thuần nơng. Theo
số liệu điều tra của bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn, thu nhập bình qn
hàng tháng của một lao động hộ chun ngành nghề là 240.000 đồng đến
250.000 đồng và đối với hộ kiêm nghiệp là 180.000 đồng đến 190.000 đồng, cao
gấp 1,5 lần so với hộ thuần nơng. Thu nhập bình qn của một lao động ở cơ sở
chun ngành nghề (doanh nghiệp, tổ hợp ) là trên 400.000 đồng / tháng, gấp 3
- 4 lần lao động hộ thuần nơng. Tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề của các hộ
ngành nghề kiêm nơng nghiệp là khoảng 70% - 75% tổng thu nhập, và của các
hộ nơng nghiệp kiêm ngành nghề là 40%. Có những làng nghề mà thu nhập bình
qn từ sản xuất cơng nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp lên tới trên 10 triệu đồng /
người / năm như: làng nghề dệt kim - bánh kẹo La Phù - Hà Tây (12,58 triệu
đồng), làng nghề chế biến nơng sản Minh Khai - Hà Tây (10,3 triệu đồng) Các
làng nghề tiểu thủ cơng nghiệp hàng năm đã sản xuất một khối lượng hàng hố
lớn đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và còn xuất khẩu được ra thị trường
quốc tế. Các sản phẩm xuất khẩu đã mang lại một nguồn thu lớn cho các hộ sản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
xuất phải kể đến như: lụa, thổ cẩm, gốm sứ, các sản phẩm đá chạm khắc
Phát triển các ngành nghề còn tạo ra nguồn giá trị sản lượng cao cho các
địa phương có làng nghề. Ở Hà Tây, các làng nghề như La Phù, Dương Liễu,
Lưu Xá, Đức Giang, Minh Khai, Chun Mỹ, Phương Trung, Hồ Xá, doanh
thu từ nghề chế biến nơng sản, thực phẩm chiếm 75% - 85% tổng giá trị sản
lượng của xã. Ở Bắc Ninh, các làng nghề chiếm 70%-90% tổng giá trị sản lượng
của địa phương. Ở Nam Định, các làng nghề như Tơng Xá, Vân Thành, Xn
Tiến, La Xun, Cát Đằng giá trị sản lượng cũng chiếm tới 80% - 90%. Nhờ
đó, các làng nghề đã có nguồn vốn đầu tư để cải thiện và tăng cường cơ sở hạ
tầng nơng thơn như xây dựng giao thơng, phát triển mạng lưới điện và điện
thoại, xây dựng các cơ sở giáo dục, y tế, xây dựng nhà ở kiên cố, hình thành các
thị trấn, phố làng.
* Về mặt xã hội
Các làng nghề phát triển góp phần tạo thêm cơng ăn việc làm cho lao
động nơng thơn đang dư thừa nhiều, qua đó làm giảm tỷ lệ thất nghệp, giảm tốc
độ di dân lên thành phố, thực hiện chủ trương “ly nơng bất ly hương” và hạn chế
các tệ nạn xã hội.
Các hộ làm nghề trước hết tạo cơng ăn việc làm cho cho các thành viên
trong gia đình. Các cơ sở chun làm nghề tạo việc làm thường xun cho bình
qn khoảng 30 lao động, ngồi ra còn thu hút thêm những lao động nhàn rỗi
trong nơng thơn. Các làng nghề thường sử dụng tối thiểu khoảng 50% số lao
động trong làng làm nghề thường xun và khoảng 20% lao động khơng thường
xun. Những làng nghề có quy mơ sản xuất lớn còn thu hút cả lao động ở các
làng lân cận, hình thành nên chợ lao động. Ngồi ra làng nghề phát triển còn tạo
ra việc làm cho đội ngũ lao động làm dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản phẩm của
mình như: khai thác, vận chuyển, cung cấp ngun vật liệu, lưu thơng, tiêu thụ
sản phẩm
Nhờ tạo việc làm, tăng thu nhập, giải quyết thời gian nơng nhàn, các làng
nghề được coi là động lực trực tiếp làm chuyển dịch cơ cấu xã hội nơng thơn
theo hướng tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, nâng cao phúc lợi cho người lao động,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
đồng thời góp phần đáng kể trong việc hạn chế phát sinh các tệ nạn xã hội ở
nơng thơn.
* Về mặt chính trị
Nhà nước chủ trương phát triển các làng nghề sẽ cải thiện được đời sống
của người lao động, làm cho họ tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước. Nhờ đó sẽ ổn định được tình hình chính trị ở nơng thơn.
Làng nghề phát triển cũng góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế, qua đó củng cố
tiềm lực an ninh quốc phòng của địa phương và của cả nước.
Ngồi ra, các sản phẩm mang tính truyền thống của làng nghề cũng góp
phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hố của dân tộc, bảo tồn tinh hoa nghề
nghiệp của cha ơng. Các sản phẩm này khi đến với cộng đồng quốc tế sẽ giúp
bạn bè quốc tế hiểu biết hơn về đất nước, về nét đẹp truyền thống của con người
Việt Nam.
II. VAI TRỊ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA LÀNG NGHỀ
1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Trên cơ sở hoạt động của ngân hàng thì ta có thể hiểu: Tín dụng ngân
hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hố) giữa ngân hàng và bên đi
vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó ngân hàng chuyển
giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả
thuận, bên đi vay có trách nhiệm hồn trả vơ điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân
hàng khi đến hạn thanh tốn.
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng nhưng trên thực tế, các
ngân hàng thương mại thường phân chia tín dụng dựa trên hai tiêu thức: đối
tượng khách hàng và thời hạn cho vay.
Căn cứ vào đối tượng khách hàng, tín dụng ngân hàng được chia thành
hai loại: Tín dụng đối với các doanh nghiệp quốc doanh và tín dụng đối với các
doanh nghiệp ngồi quốc doanh.
Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng ngân hàng được chia thành ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
thường được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp
và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng
đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản
cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, cơng nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,
xây dựng các dự án mới có quy mơ nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm và
thường được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các
thiết bị, phương tiện vận tải có quy mơ lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Trong hoạt động thực tế của các ngân hàng thương mại thì tỷ trọng của
các khoản tín dụng ngắn hạn là lớn nhất.
2. Quy trình tín dụng của ngân hàng
Quy trình tín dụng của ngân hàng chính là quy trình nghiệp vụ cho vay,
một trong những nghiệp vụ cơ bản của các ngân hàng thương mại. Theo quy
định của Ngân hàng Cơng thương Việt Nam thì quy trình nghiệp vụ cho vay là
bản hướng dẫn về trình tự tổ chức thực hiện các nội dung cơ bản của kỹ thuật
nghiệp vụ cho vay của ngân hàng, từ khi phát sinh đến khi kết thúc mà các cán
bộ tín dụng và cán bộ lãnh đạo ngân hàng có liên quan phải thực hiện.
Để giúp cán bộ tín dụng thực hiện được một khoản cho vay có chất lượng
và hiệu quả, các ngân hàng thường đưa ra một quy trình tín dụng chặt chẽ, thích
hợp với một nhóm đối tượng nhất định hoặc chung cho tồn bộ khách hàng vay
vốn. Quy trình tín dụng thường bao gồm các bước như sau:
- Bước 1: Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và
làm hồ sơ vay vốn, bao gồm: giấy đề nghị vay vốn, các báo cáo tài chính thời
điểm gần nhất.
- Bước 2: Điều tra, tổng hợp, thu thập thơng tin về khách hàng và phương
án vay vốn: phỏng vấn khách hàng, tổng hợp những thơng tin từ các ngân hàng
có quan hệ với khách hàng, các tổ chức có liên quan, thơng tin từ thị trường và
tại nơi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
- Bước 3: Phân tích, thẩm định khách hàng và phương án vay vốn: năng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
lực pháp lý, uy tín, năng lực tài chính của khách hàng, phương án vay vốn và
khả năng trả nợ, đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
- Bước 4: Trưởng phòng tín dụng căn cứ vào tờ trình thẩm định, đề nghị
duyệt cho vay của cán bộ tín dụng và hồ sơ vay vốn của khách hàng để ra quyết
định đối với khách hàng.
- Bước 5: Cán bộ tín dụng hồn chỉnh hồ sơ cho vay và chuyển hồ sơ sang
bộ phận kế tốn.
- Bước 6: Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay để quyết định hình thức
phát tiền vay bằng tiền mặt, ngân phiếu, chuyển khoản cho phù hợp.
Sau khi phát tiền vay cho khách hàng, cán bộ tín dụng phải kiểm tra, giám
sát khách hàng trong q trình sử dụng vốn vay, đồng thời tiến hành thu hồi nợ
khi đến hạn và tiến hành xử lý rủi ro nếu có.
Quy trình tín dụng nói chung phải được xây dựng trên cơ sở phù hợp với
hoạt động của ngân hàng và thuận tiện cho khách hàng vay vốn. Quy trình tín
dụng đưa ra phải được thực hiện một cách nghiêm ngặt để đảm bảo cho tính hệ
thống và an tồn của hoạt động tín dụng, tạo điều kiện cho khâu kiểm tra, kiểm
sốt tín dụng trước, trong và sau khi cho vay.
3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển làng nghề
* Tín dụng ngân hàng cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở
các làng nghề
Có thể nói vốn là một yếu tố quan trọng nhất với mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh, là tiền đề của mọi hoạt động sản xuất vật chất. Đơn vị sản xuất ở
làng nghề hầu hết là các hộ gia đình mà nguồn tiền dự trữ nhỏ, khơng đủ để đầu
tư ban đầu cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh. Mặt khác q trình sản xuất
ở làng nghề trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, phụ thuộc nhiều vào tính thất
thường của nguồn ngun liệu và thị trường tiêu thụ. Vì vậy, nhu cầu vốn ở các
làng nghề là rất lớn. Các ngân hàng thương mại với nguồn vốn dồi dào sẽ đáp
ứng được mọi nhu cầu tài chính cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở các làng
nghề, góp phần cho q trình sản xuất được tiến hành liên tục.
Nhờ có nguồn tín dụng của Ngân hàng mà các làng nghề có vốn để mua
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
ngun vật liệu dự trữ cho mùa sản xuất sau, đây là một yếu tố quan trọng do
sản xuất ở các làng nghề phụ thuộc rất nhiều và nguồn ngun vật liệu, do đó có
những lúc nhu cầu của thị trường lớn nhưng các hộ và cơ sở lại khơng có
ngun liệu để sản xuất. Chủ động được khâu này sẽ giúp cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các làng nghề ổn định, đảm bảo được thu nhập cho người
lao động.
* Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của làng
nghề
Các đơn vị sản xuất kinh doanh ở làng nghề khi vay vốn ngân hàng đều
phải trả lãi cho đồng vốn mà họ được sử dụng. Do đó họ buộc phải sử dụng
đồng vốn một cách có hiệu quả và làm ăn có lãi. Họ phải tính tốn sao cho mỗi
đồng vốn bỏ ra phải bù đắp được chi phí sản xuất, thuế, lãi ngân hàng đồng thời
phải thu được lãi. Như vậy, thơng qua việc cung cấp vốn, ngân hàng đã gián tiếp
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các làng nghề, buộc họ phải chú ý đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, nâng cao hiệu quả sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm
Nhờ có nguồn vốn vay ngân hàng, các hộ và cơ sở ở làng nghề có thể mở
rộng quy mơ sản xuất, qua đó sẽ tiết kiệm được chi phí cho một đơn vị sản
phẩm, nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm của làng nghề. Thêm vào đó, khi
tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng, các chủ hộ và cơ sở sản xuất ở làng nghề
phải thực hiện hạch tốn kinh tế đầy đủ để chứng minh việc sử dụng vốn đúng
mục đích. Việc làm này gián tiếp tăng trình độ quản lý sản xuất kinh doanh cho
các chủ hộ và cơ sở và đồng thời cũng góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh
doanh ở làng nghề.
Bên cạnh việc cung cấp nguồn tín dụng cho làng nghề, các cán bộ tín
dụng của ngân hàng còn đóng vai trò là những người tư vấn, giúp cho các dự án
sản xuất kinh doanh ở làng nghề hồn thiện hơn, mang lại lợi ích kinh tế cao hơn
cho các hộ và cơ sở sản xuất. Ngồi ra, đối với những đơn vị có hoạt động xuất
khẩu, các cán bộ tín dụng còn có thể cung cấp cho họ những thơng tin về thị
trường quốc tế, những thơng tin luật pháp cũng như các hình thức thanh tốn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của các làng nghề. Tuy nhiên việc tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng của
các làng nghề còn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm cả các
nhân tố chủ quan và khách quan có thể kể đến dưới đây.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối
với làng nghề
4.1. Những nhân tố từ phía ngân hàng
* Mục tiêu của ngân hàng
Tất cả mọi hoạt động của ngân hàng đều nhằm đạt được những mục tiêu,
chiến lược kinh doanh của ngân hàng đặt ra. Do đó, khi quyết định cho vay đối
với bất kỳ một đối tượng khách hàng nào cũng phải căn cứ vào mục tiêu chung
của ngân hàng. Thơng thường, ngân hàng tiếp cận khách hàng mục tiêu thơng
qua việc huy động các nguồn lực để mở rộng quan hệ tín dụng, có chính sách lãi
suất thuận lợi và thực hiện các ngun tắc an tồn tín dụng một cách phù hợp.
Như vậy, quyết định mở rộng tín dụng đối với làng nghề sẽ tuỳ thuộc vào
chiến lược kinh doanh và mục tiêu của ngân hàng.
* Lãi suất cho vay
Các khách hàng ở làng nghề khi vay vốn ở ngân hàng thường xem xét rất
kỹ yếu tố lãi suất vì nó là một yếu tố rất quan trọng, quyết định đến lợi ích kinh
tế của họ.
Lãi suất thực chất là giá cả của khoản cho vay, nó được thể hiện bằng tỷ lệ
% trên tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Những yếu tố ảnh
hưởng đến việc hình thành một mức lãi suất cho vay bao gồm: mức lợi nhuận
mong muốn, chi phí quản lý ngân hàng, lợi tức tương đương nếu đầu tư vào hoạt
động khác, rủi ro tín dụng của khoản vay, chi phi điều hành khoản cho vay, lãi
suất cạnh tranh
Lãi suất viết trên hồ sơ tín dụng khi cho vay là lãi suất danh nghĩa, còn lãi
suất mà ngân hàng thu được (lãi suất thực) thì nhỏ hơn, lãi suất thực = lãi suất
danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát. Để đảm bảo cho hoạt động cho vay của ngân hàng
có lãi thì lãi suất thực phải dương.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
Các mức lãi suất đưa ra thường tỷ lệ với mức độ rủi ro, tỷ lệ rủi ro của
khoản vay càng lớn thì mức lãi suất đưa ra càng cao. Ngồi ra lãi suất còn phụ
thuộc rất lớn vào chi phí vốn và chi phí quản lý khác của ngân hàng.
Do trên thị trường có rất nhiều tổ chức tín dụng có thể cho vay nên khách
hàng thường chọn vay vốn ở nơi có lãi suất thấp nhất. Điều này ảnh hưởng rất
nhiều đến khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải
đưa ra được một mức lãi suất phù hợp, sao cho vừa đảm bảo được lợi nhuận của
ngân hàng, vừa phù hợp với lợi ích của khách hàng. Đặc biệt là đối với khách
hàng ở các làng nghề, ngân hàng nên có một chính sách lãi suất ưu đãi để
khuyến khích họ vay vốn.
* Bộ máy tổ chức và nguồn nhân lực
Mạng lưới chi nhánh, địa bàn hoạt động của ngân hàng phải phù hợp với
hoạt động của làng nghề, phải đáp ứng được các nhu cầu cần thiết của làng nghề
thì mới mở rộng được tín dụng đối với các hộ và cơ sở sản xuất kinh doanh. Để
có thể thu hút được khách hàng ở các làng nghề thì ngân hàng cần có một mạng
lưới chi nhánh rộng khắp, tiếp cận được từng làng nghề. Đây là một yếu tố quan
trọng vì thực tế ở các làng nghề cho thấy nhiều hộ, cơ sở có nhu cầu vay vốn
nhưng do ở địa bàn khơng có phòng giao dịch của ngân hàng nên họ lại tìm đến
các quỹ tín dụng của xã mặc dù lãi suất vay ở các quỹ tín dụng này cao hơn
ngân hàng. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngân hàng cũng cần phải
có thái độ lịch sự, chu đáo, tơn trọng khách hàng, nhất là các khách hàng là nơng
dân ở làng nghề đến vay vốn. Ngân hàng cần phải chú trọng đến vấn đề này vì
chỉ cần một khách hàng ở làng nghề có ấn tượng tốt về ngân hàng thì chắc chắn
họ sẽ quảng bá hình ảnh về ngân hàng và các khách hàng khác cũng sẽ tìm đến
ngân hàng khi có nhu cầu vay vốn và ngược lại. Ngồi ra ngân hàng cần phải cử
cán bộ tín dụng đến với các làng nghề để giúp cho người dân hiểu thêm về quy
trình, điều kiện vay vốn vì trên thực tế vẫn có nhiều người cho rằng vay vốn
ngân hàng thì thủ tục rất phiền hà, thậm chí còn phải có cả xác nhận của chính
quyền xã về phương án sản xuất kinh doanh của họ. Do vậy, nếu có chính sách
mở rộng tín dụng đối với làng nghề thì ngân hàng cần phải xem xét đến vấn đề
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
này.
* Cơ chế tín dụng của ngân hàng
Cơ chế tín dụng đối với làng nghề bao gồm quy trình, thủ tục, thời hạn,
điều kiện, phương thức cho vay và một số quy định khác. Ngân hàng chỉ có thể
mở rộng được tín dụng đối với làng nghề khi có một cơ chế tín dụng phù hợp
với đặc điểm và nhu cầu của các hộ, cơ sở trong làng nghề và khả năng đáp ứng
của ngân hàng. Khi các nhân tố này được thực hiện tốt thì số hộ ở làng nghề có
quan hệ với ngân hàng sẽ nhiều hơn, thường xun hơn. Đây chính là một trong
những nhân tố quan trọng nhất quyết định việc mở rộng tín dụng ngân hàng đối
với làng nghề.
Các quy trình, thủ tục tín dụng phải trung hồ được hai mục tiêu là an
tồn tín dụng cho ngân hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Thời
hạn, quy mơ, phương thức tín dụng nên linh hoạt đối với từng khách hàng, xây
dựng trên cơ sở cả hai bên cùng có lợi.
4.2. Những nhân tố từ phía làng nghề
Những nhân tố từ phía ngân hàng tuy rất quan trọng trong việc mở rộng
tín dụng đối với làng nghề nhưng trên thực tế thì nhóm nhân tố từ phía làng
nghề lại đóng vai trò quyết định. Ngân hàng chỉ có thể mở rộng tín dụng đối với
làng nghề nếu các hộ và cơ sở ở các làng nghề có nhu cầu vay vốn và quan trọng
hơn là phải đáp ứng được các điều kiện của ngân hàng. Những yếu tố mà ngân
hàng thường xem xét khi quyết định cho các khách hàng ở làng nghề vay vốn
bao gồm: nhu cầu vay vốn, khả năng tài chính, khả năng trả nợ và đảm bảo tín
dụng.
* Nhu cầu vay vốn
Ngân hàng thường chỉ cho vay khi xét thấy nhu cầu tín dụng của khách
hàng là thiết yếu. Nhu cầu tín dụng thiết yếu là nhu cầu vay vốn để sử dụng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, nhằm duy trì và phát triển sản
xuất. Nhu cầu này tuỳ thuộc vào ngành nghề hoạt động, số lượng đơn đặt hàng,
nguồn vốn tự có và quy mơ mở rộng sản xuất kinh doanh của khách hàng ở làng
nghề trong từng giai đoạn cụ thể, bao gồm:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét