Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
Các nguồn thu nhập của hộ gia đình bao gồm: tiền lương định kỳ, các khoản
biếu tặng, thừa kế, lãi đầu tư… Nhu cầu chi tiêu bao gồm: chi tiêu thường xuyên
cho nhu cầu sinh hoạt, chi không thường xuyên do những nhu cấu đột xuất. Thông
thường, thời gian và khối lượng nguồn thu nhập không trùng hợp với nhu cầu chi
tiêu dẫn đến hiện tượng thừa tiền tạm thời vào thời gian này và tạm thời thiếu tiền
vào thời gian khác. Hiện tượng khách quan này đòi hỏi các chủ thể này phải thực
hiện hành vi vay mượn để giải quyết có hiệu quả nhất sự thiếu trùng khớp tạm thời
giữa thu nhập và chi tiêu. Xét trên phạm vi toàn xã hội, hộ gia đình luôn là chủ thể
cung ứng vốn tạm thời nhàn rỗi cho các chủ thể khác thông qua bộ phận tiết kiệm.
- Sự không trùng khớp giữa thu nhập và chi tiêu trong quá trình kinh doanh
của các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Một chu kì kinh doanh có thể được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn dự trữ,
sản xuất và tiêu thụ với đặc điểm khác nhau về thu nhập và chi tiêu làm cho một
doanh nghiệp có thể thừa vốn ở giai đoạn này nhưng lại trở thành chủ thể thiếu
vốn ở giai đoạn khác. Trong giai đoạn dự trữ, Doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu
mua sắm rất lớn nhưng lại chưa có thu nhập. Đây là giai đoạn doanh nghiệp phải
đi vay để bổ sung nhu cầu vốn cho các khoản chi mua nguyên vật liệu mua sắm
máy móc thiết bị, thuê công nhân. Nhu cầu đi vay giảm xuống khi doanh nghiệp
bước vào quá trình sản xuất. Trong giai đoạn này, nhu cầu chi tiêu chỉ nhằm mục
đích bảo dưỡng máy móc, quản lí qui trình sản xuất. Giai đoạn tiêu thụ sản phẩm
là giai đoạn có thu nhập lớn hơn chi tiêu và doanh nghiệp thường đóng vai trò cho
vay trong giai đoạn này. Vốn nhàn rỗi ở các doanh nghiệp thể hiện dưới dạng quỹ
khấu hao chưa dùng đến, hoặc do chênh lệch về số lượng và thời gian tiêu thụ sản
phẩm và thời gian mua nguyên liệu, do những khoản phải trả nhưng chưa đến kỳ
trả, và các khoản phải nộp nhưng chưa đến kỳ nộp. Đặc điểm vốn nhàn rỗi của
doanh nghiệp là rất ngắn hạn, về mặt dài hạn doanh nghiệp luôn luôn là chủ thể có
nhu cầu bổ sung vốn.
- Sự không trùng khớp giữa thu và chi ngân sách nhà nước.
Nguồn thu ngân sách Nhà nước chủ yếu được hình thành từ thuế, các nghĩa
vụ đóng góp khác hoặc từ nguồn thu bán tài sản của Nhà nước thường mang tính
chất định kì theo tháng, quý. Trong khi đó các nhu cầu chi tiêu của ngân sách lại
diễn ra thường xuyên cho các mục đích: chi quản lí hành chính, chi phúc lợi, chi
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 5 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
đầu tư cho các công trình trọng điểm. Do đó, Nhà nước cũng có nhu cầu vay vốn
khi thiếu hụt và là nguồn cung ứng vốn khi ngân sách dư thừa tạm thời, trường
hợp phổ biến là thu ngân sách không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu và ngân sách
rơi vào tình trạng bội chi đòi hỏi phải có nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng.
Các khoản vốn nhàn rỗi tạm thời cũng như những nhu cầu vốn phát sinh rất
đa dạng về thời gian, số lượng, yêu cầu tính lỏng, mức rủi ro. Sự phát triển các
hình thức tín dụng phong phú cho phép thoả mãn yêu cầu chuyển nhượng vốn
phức tạp này. Bằng cách đó, tín dụng thực chất là chiếc cầu nối liền nhu cầu tiết
kiệm với nhu cầu đầu tư của xã hội.
1.3. Sự phát triển của tín dụng:
- Từ tín dụng thương mại đến tín dụng ngân hàng
- Từ tín dụng nặng lãi đến tín dụng thị trường có cạnh tranh hoàn hảo
- Từ tín dụng ngân hàng đến thị trường tài chính
- Từ tín dụng nội địa đến tín dụng quốc tế
2. Các hình thức tín dụng:
2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và thường
được sử dụng để cho vay thiếu hụt lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho
vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng và được sử
dụng để cung cấp vốn cho các doanh nghiệp vào các vấn đề như: xây dựng cơ bản,
đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và
mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn giữa hai kỳ hạn trên, loại
tín dụng này được cung cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ
thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
2.2. Căn cứ vào đối tượng tín dụng:
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu động
của các tổ chức kinh tế như cho dự trữ hàng hoá đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp, cho vay để mua phân bón, giống, thuốc trừ sâu đối với các hộ sản xuất
nông nghiệp. Tín dụng vốn lưu động thường dùng để cho vay bù đắp mức vốn lưu
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 6 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
động thiếu hụt tạm thời, loại tín dụng này thường được chia ra làm các loại sau:
cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay để thanh toán các khoản nợ hình thức chiết khấu
thương phiếu.
- Tín dụng vốn cố định: là loại tín dụng được dùng hình thành tài sản cố
định, loại tín dụng này thường dùng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và
đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới,
thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung hạn và dài hạn.
2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng:
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là hình thức tín dụng dành cho
các doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hoá và
lưu thông hàng hoá.
- Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng.
2.4. Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng:
- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được biểu
hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá, trong đó người cho vay là người bán
chịu hàng hoá vì đã chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị hàng hoá
bán chịu cho người mua.
- Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, trong đó ngân hàng là người giữ
vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay.
- Tín dụng nhà nước: là quan hệ tín dụng được thực hiện dưới hình thức tiền
tệ hoặc hiện vật giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể kinh tế khác
trong xã hội, trong đó Nhà nước biểu hiện là người đi vay.
- Tín dụng doanh nghiệp: là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp
và công chúng. Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới hai hình thức hoàn toàn
khác nhau: quan hệ tín dụng tiêu dùng và quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và
công chúng với tư cách là người tiết kiệm.
II. Vai trò và chức năng - tác dụng của tín dụng:
1. Vai trò của tín dụng:
1.1. Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội:
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 7 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
- Thứ nhất: vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách
kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội.
- Thứ hai: làm thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế và làm cho
sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và
giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh.
- Thứ ba: Tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn
tự có của bản thân, nhằm tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản
xuất của xã hội.
- Thư tư: làm cho người đi vay thực sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn
để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng.
1.2. Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục
tiêu vĩ mô:
Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng, nhà nước có
thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín
dụng, ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến tổng cung và
các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu
dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô
cần thiết.
1.3. Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội:
Các chính sách xã hội về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ
không hoàn lại từ Ngân sách Nhà nước. Song, phương thức tài trợ không hoàn lại
thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này,
phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ
có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở
rộng quy mô tín dụng chính sách. Chẳng hạn việc tài trợ vốn cho người nghèo với
lãi suất thấp. Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách được
đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn. Khi các đối tượng chính sách buộc
phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ
năng lao động của họ cũng sẽ được cải thiện từng bước. Đây là sự đảm bảo chắc
chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 8 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
họ có thể tồn tại độc lập với nguồn vốn tài trợ. Đó chính là mục đích cho việc sử
dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tài trợ.
2. Chức năng – tác dụng của tín dụng:
2.1. Chức năng phân phối lại vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội:
Chức năng phân phối lại vốn tiền tệ là tín dụng thực hiện việc di chuyển các
khoản vốn tạm thời nhàn rỗi đến những nơi phát sinh nhu cầu về vốn. Và như vậy
vốn được giao cho người sử dụng có hiệu quả nhất. Bằng cách đó, tín dụng góp
phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh của xã hội.
2.2. Chức năng thanh khoản:
Chức năng thanh khoản của tín dụng là chức năng cổ xưa nhất của tín dụng.
Nó xuất phát từ chỗ các nhà kinh doanh muốn có một khoản tiền để trả cho một ai
đó, nhưng họ không có số tiền đó, nên họ đến một ngân hàng nào đó để xin cấp
một khoản tín dụng. Khoản tín dụng này được chuyển vào tài khoản của người thụ
hưởng để trả nợ của người xin vay.
Khi món nợ tín dụng đáo hạn, người xin vay phải nộp vào ngân hàng cho vay
số tiền cần thiết để trả nợ và lãi cho ngân hàng và quan hệ tín dụng được chấm
dứt.
2.3. Chức năng tạo tiền:
Tín dụng không những tạo ra thanh khoản, mà nó còn làm cho số lượng
phương tiện lưu thông và thanh toán trong nền kinh tế tăng lên. Khi một ngân hàng
cấp một khoản tín dụng thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc nó tạo ra một khoản
tiền cung ứng thêm trong nền kinh tế.
Để ngăn chặn bớt khả năng tạo tiền thông qua việc cấp tín dung, các ngân
hàng trung ương đều có quy định dự trữ bắt buộc là 10% cho khoản tiền gửi mà
các tổ chức tín dụng phải chấp hành. Còn 90% số dư tiền gởi nhận được thì các tổ
chức tín dụng được cấp tín dụng.
Ngân hàng trung ương chịu trách nhiệm điều tiết khối lượng tiền cung ứng
cho nền kinh tế thông qua việc sử dụng các công cụ có thể tác động gián tiếp đến
khối tín dụng mà các ngân hàng thương mại cung cấp cho nền kinh tế như: dự trữ
bắt buộc, chính sách tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc hoặc tỷ lệ dư nợ tín dụng trên
số dư tiền gởi của các ngân hàng thương mại.
Tóm lại:
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 9 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
- Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Những đặc
trưng của quan hệ tín dụng là: chuyển nhượng quyền sử dụng vốn, tin tưởng và có
hoàn trả.
- Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá
trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng thừa, thiếu vốn diễn ra thường xuyên
giữa các chủ thể kinh tế trong xã hội.
- Các quan hệ tín dụng được tổ chức thành hệ thống và có mối quan hệ hỗ trợ
nhau nhằm đảm bảo hiệu quả của sự dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu. Các loại
hình tín dụng trong hệ thống bao gồm: tín dụng thượng mại, tín dụng ngân hàng,
tín dụng Nhà nước và tín dụng doanh nghiệp.
- Thông qua chức năng phân phối lại vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong
phạm vi toàn xã hội, tín dụng được sử dụng như là kênh chuyển tải tác động của
Nhà nước đối với các mục tiêu vĩ mô và là công cụ có hiệu quả để thực hiện các
mục tiêu chính sách trong từng thời kì.
III. Các chỉ tiêu dùng để phân tích và đánh giá hoạt động tín dụng của
ngân hàng:
1. Doanh số cho vay:
Hoạt động cho vay là hoạt động chính yếu và quan trọng nhất của bất cứ một
ngân hàng thương mại nào. Sự chuyển hoá từ vốn tiền sang vốn tín dụng để bổ
sung cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế không chỉ có ý nghĩa đối
với nền kinh tế mà cả đối với bản thân ngân hàng. Bởi vì nhờ cho vay mà tạo ra
nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng để từ đó bồi hoàn lại tiền gửi của khách
hàng, bù đắp các chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên
hoạt động cho vay là hoạt động mang tính rủi ro lớn, vì vậy cần phải quản lý các
khoản cho vay một cách chặt chẽ thì mới có thể ngăn ngừa hoặc giảm thiểu rủi ro.
2. Doanh số thu nợ:
Ngân hàng là tổ chức trung gian đi vay để cho vay. Tiền đi vay qua dân cư,
qua các tổ chức tín dụng, qua NHNN…đều phải trả lãi. Đó là chi phí khi ngân
hàng sử dụng vốn của các chủ thể trong nền kinh tế. Hoạt động của ngân hàng là
đi vay để cho vay nên vốn của nó phải được bảo tồn và phát triển. Khi các chủ thể
trong nền kinh tế sử dụng vốn của ngân hàng thì họ phải trả lãi cho ngân hàng.
Phần lãi này phải bù đắp phần lãi mà ngân hàng đi vay, phần chi phí cho hoạt động
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 10 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
của ngân hàng và đảm bảo có lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động cho vay là hoạt
động có nhiều rủi ro, đồng vốn mà ngân hàng cho vay có thể được thu hồi đúng
hạn, trễ hạn hoặc có thể không thu hồi được. Vì vậy công tác thu hồi nợ được ngân
hàng đặt lên hàng đầu, bởi một ngân hàng muốn hoạt động tốt, không phải chỉ
nâng cao doanh số cho vay mà còn chú trọng đến công tác thu nợ làm sao để đảm
bảo đồng vốn bỏ ra và thu hồi lại nhanh chóng, tránh thất thoát và có hiệu quả cao.
Mặc dù việc thu nợ là yếu tố chưa nói lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng
một cách trực tiếp, nhưng nó là yếu tố chủ yếu thể hiện khả năng phân tích, đánh
giá, kiểm tra khách hàng, của ngân hàng là thành công hay không. Việc thu hồi
một khoản nợ đúng với các điều kiện đã cam kết trong hợp đồng tín dụng là một
thành công rất lớn trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng. Vì đã cho vay
đúng đối tượng, người sử dụng vốn vay đúng mục đích có hiệu quả và người vay
đã tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng qua việc họ trả nợ và lãi đúng hạn cho ngân
hàng.
3. Tình hình dư nợ:
Dư nợ phản ánh thực trạng hoạt động của một ngân hàng tại một thời điểm
nhất định. Mức dư nợ ngắn hạn cũng như trung và dài hạn phụ thuộc vào mức độ
huy động vốn của ngân hàng. Nếu nguồn vốn huy động tăng thì mức dư nợ sẽ tăng
và ngược lại. Bất cứ một ngân hàng nào cũng vậy, để hoạt động tốt thì không chỉ
nâng cao doanh số cho vay mà còn phải nâng cao mức dư nợ.
4. Tình hình nợ quá hạn:
Đối với khoản cho vay khi đến kỳ hạn trả nợ mà khách hàng không trả được
nợ đúng hạn thì có thể chuyển sang nợ quá hạn. Nếu khách hàng vì những nguyên
nhân khách quan không trả được nợ đúng hạn thì có thể làm đơn xin gia hạn hoặc
điều chỉnh kỳ hạn nợ nếu được ngân hàng đồng ý. Sau khi hết thời gian gia hạn
hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ mà khách hàng vẫn không trả được nợ cho ngân
hàng thì nợ đó được chuyển sang nợ quá hạn. Còn nếu khách hàng không có đơn
xin gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ tất yếu ngân hàng cũng chuyển nợ đó sang
nợ quá hạn ngay sau khi hết hạn.
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 11 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
Nợ quá hạn, nợ khó đòi là những biểu hiện rõ nét của chất lượng tín dụng.
Khi phát sinh nợ quá hạn cũng đồng nghĩa với các khoản vay của ngân hàng đã bị
rủi ro. Vì vậy ngân hàng cần tìm ra các nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn, đồng
thời tìm ra các giải pháp để hạn chế nợ quá hạn, nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân
hàng cũng đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng hoạt động cho ngân hàng.
5. Tình hình vốn huy động trên tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này cho ta biết khả năng sử dụng vốn huy động của ngân hàng vào
việc cho vay vốn. Thông thường khi nguồn vốn ở ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so
với nguồn vốn sử dụng thì dư nợ sẽ càng cao hơn vốn huy động rất nhiều. Nếu
ngân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ nguồn vốn cấp trên thì không hiệu quả
bằng việc sử dụng nguồn vốn huy động. Và được tính bằng công thức:
Vốn huy động trên tổng dư nợ = số dư vốn huy động / tổng dư nợ (%)
Vì vậy, nếu chỉ tiêu này trên 50% thì hiệu quả hoạt động của ngân hàng
càng cao, tính tự chủ của ngân hàng cao trong hoạt động tín dụng, vì đã sử dụng
đồng vốn huy động được có hiệu quả.
6. Tình hình thu nợ trên doanh số cho vay (hệ số thu nợ):
Hệ số thu nợ = doanh số thu nợ / doanh số cho vay (%)
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu hồi nợ của ngân hàng khi cho khách hàng
vay, ngân hàng sẽ thu lại được bao nhiêu phần trăm khi sử dụng chính số tiền cho
vay của mình. Nếu tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng thu hồi nợ của ngân hàng
là rất tốt, ngân hàng hoạt động có hiệu quả.
7. Tình hình nợ quá hạn trên tổng dư nợ:
Nợ quá hạn trên tổng dư nợ = nợ quá hạn / tổng dư nợ (%)
Đây là chỉ tiêu thể hiện trực tiếp công tác thẩm định phương án sản xuất kinh
doanh của cán bộ tín dụng. Đồng thời phản ánh khả năng thu hồi vốn của ngân
hàng đối với khách hàng cũng như uy tín của khách hàng đối với ngân hàng. Nói
cách khác, chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng. Hiện nay theo
mức độ cho phép của ngân hàng nhà nước thì tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là
dưới 5%, trong đó tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng nợ quá hạn thấp thì được coi là tín
dụng có chất lượng tốt. Nếu nợ quá hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ thì
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 12 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
chất lượng tín dụng của ngân hàng kém, và rủi ro tín dụng kèm theo là rất cao, và
ngược lại.
8. Tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận = Lợi nhuận / doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời trong tổng thu nhập của ngân
hàng qua các năm. Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng sinh lời càng cao, ngân
hàng hoạt động có hiệu quả, và ngược lại.
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 13 SVTH: Phạm Minh Châu
Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp mở rộng tín dụng tại NHN
o
&PTNT huyện Châu Thành
CHƯƠNG 2
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ
NHNo&PTNT HUYỆN CHÂU THÀNH
I. Quá trình hình thành và phát triển:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành là chi
nhánh của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đồng Tháp.
Tên giao dịch: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh
huyện Châu Thành - Đồng Tháp.
Trụ sở giao dịch: Số 191, quốc lộ 80, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu
Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Điện thoại: 067.840622 (067.840228)
Giám đốc: Lê Thanh Hoà.
Từ khi thành lập đến nay, ngân hàng đã qua ba lần đổi tên. Theo sự biến đổi
của nền kinh tế, trong đó lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng và những yêu cầu
cần thiết trong lĩnh vực này thì tháng 8 năm 1988, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
chi nhánh huyện Châu Thành đổi tên thành Ngân hàng phát triển nông thôn và
hoạt động kinh doanh đa năng hơn. Tháng 10 năm 1990 lại đổi tên thành Ngân
hàng nông nghiệp huyện Châu Thành.
Trong quá trình hoà nhập vào cơ chế mới, hoạt động của ngân hàng gặp
không ít khó khăn. Tuy nhiên, nhờ sự cố gắng của đội ngũ cán bộ nhân viên mà
ngân hàng nông nghiệp huyện Châu Thành ngày càng khẳng định đựơc vị trí của
mình trong quá trình đưa nền kinh tế huyện nhà ngày một phát triển đi lên. Ngày
nay, chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Châu Thành
đã thật sự trở thành người bạn đáng tin cậy của các doanh nghiệp nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, cá thể sản xuất kinh doanh và nông dân trên địa bàn huyện.
Như vậy, xét về mặt pháp lý thì ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Châu Thành là doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động tín dụng với
các loại hình kinh doanh chủ yếu sau:
- Nhận tiền gởi ngắn hạn và trung hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
(USD).
_________________________________________________________________
GVHD: Nguyễn Tấn Nhân 14 SVTH: Phạm Minh Châu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét