LLNN - 2011.02 - Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án
nhân dân theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN
ĐỌC NHIỀU (30 NGÀY):
• LLNN - 2011.02 - Quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - 17.02.2011
• LLNN - 2011.02 - Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân theo yêu
cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN - 17.02.2011
• NCLP - 2008.05 - Bội chi ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với lạm phát
hiện nay - 19.05.2008
• TTPL - 2010.12 - Về tư cách pháp nhân của công ty hợp danh - 05.12.2010
• NCLP - 2010.03 - Sự điều chỉnh của pháp luật về đạo đức công vụ ở Việt Nam -
15.03.2010
Trụ sở Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội. Ảnh: ST
Cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là định hướng
cơ bản
Cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là định hướng
cơ bản trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Theo quy định của Hiến pháp
Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công
và phối hợp thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Toà án nhân dân là một trong bốn
hệ thống cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, là nơi biểu hiện tập trung quyền tư pháp. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật trong các giai đoạn cách mạng của đất nước,
hệ thống ngành Toà án đã góp phần rất to lớn bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo
vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Hệ thống Toà án của nước ta đã trải qua những cải cách về tổ chức và hoạt động qua các thời
kỳ theo quy định của Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 của Chủ tịch
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm
1960, Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, Hiến pháp năm 1992
(đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), các luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 và năm
2002. Nhìn chung, những thay đổi, cải cách của hệ thống Toà án đã mang lại những kết quả
tích cực về tổ chức và hoạt động, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn và nhiệm vụ chính trị đặt ra
trong từng giai đoạn bảo vệ và xây dựng đất nước từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
nay. Tuy nhiên, trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xét xử cũng như yêu cầu của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức và thực hiện quyền tư pháp, Toà án phải là công cụ
hữu hiệu bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người , thì đòi hỏi ngành Toà án phải được cải
cách mạnh mẽ từ nhận thức, pháp luật, cơ sở vật chất và nguồn nhân lực phục vụ việc xét xử.
Cải cách tư pháp nói chung, cải cách Toà án nói riêng là những nhiệm vụ quan trọng trong quá
trình xây dựng nhà nước pháp quyền, đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng như:
Nghị quyết trung ương 8 khoá VII, Nghị quyết trung ương 3 và 7 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Đặc biệt, Nghị quyết số 49/NQ-TW
ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” có đề ra
nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án theo hướng: “Tổ
chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm:
Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Toà án
phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Toà
thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Toà án nhân dân tối
cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát
triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập Toà chuyên trách phải căn cứ vào
thực tế xét xử của từng cấp Toà án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Toà án nhân dân tối cao
theo hướng tinh gọn với đội ngũ thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có
kinh nghiệm trong ngành”.
Để triển khai thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động
của ngành Toà án, Toà án nhân dân tối cao đã và đang khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Đề án
tổng thể về thành lập Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, đổi mới
tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tối cao; đặt ra mục tiêu, nguyên tắc, phương hướng,
nội dung, từng bước đi và phân công trách nhiệm trong việc xây dựng, chuẩn bị các điều kiện
cần thiết cho việc tổ chức lại hệ thống Toà án theo yêu cầu của cải cách tư pháp.
1. Khái quát thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân hiện nay
Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Toà án xét xử
những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết
những việc khác theo quy định của pháp luật; cơ cấu tổ chức của ngành Toà án theo địa giới
hành chính: ở trung ương có Toà án nhân dân tối cao, ở địa phương có các Toà án nhân dân cấp
tỉnh và cấp huyện. Ngoài ra, còn có các Toà án quân sự được tổ chức trong quân đội để xét xử
những vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong trường hợp đặc biệt,
Quốc hội có thể thành lập các Toà án đặc biệt.
Trên phạm vi toàn quốc, hiện nay có 742 Toà án nhân dân, bao gồm: Toà án nhân dân tối cao,
63 Toà án nhân dân cấp tỉnh và 678 Toà án nhân dân cấp huyện (không tính các Toà án quân
sự). Nếu xét theo thẩm quyền xét xử, hệ thống Toà án nhân dân có thể phân thành 741 Toà án
cấp sơ thẩm (bao gồm 678 Toà án cấp huyện và 63 Toà án cấp tỉnh), 66 Toà án cấp phúc thẩm
(bao gồm 63 Toà án cấp tỉnh và 3 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao), 69 cơ quan xét xử
giám đốc thẩm, tái thẩm (bao gồm 63 Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, 5 Toà
chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao). Về
cơ cấu tổ chức của từng Toà án: Toà án nhân dân tối cao có Hội đồng Thẩm phán; Toà hình sự,
Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính, 03 Toà phúc thẩm, Tòa án quân sự
trung ương, bộ máy giúp việc.
Về số lượng cán bộ, Thẩm phán, đến thời điểm tháng 3/2008, Toà án nhân dân tối cao có
524/603 người, trong đó có 116/120 Thẩm phán; Toà án nhân dân cấp tỉnh có 3264/3559 người,
trong đó có 998/1118 Thẩm phán; 678 Toà án nhân dân cấp huyện có 7550/7822 người, trong
đó có 3250/3690 Thẩm phán. Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, 100%
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 95% Thẩm phán cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ cử nhân
luật; 90% Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, 66% Thẩm phán cấp tỉnh và 20% Thẩm phán
cấp huyện có trình độ cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị. Về phẩm chất đạo đức, 100%
Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp là Đảng viên, đa số đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về phẩm
chất đạo đức đối với người cán bộ, đảng viên theo quy định. Trên thực tế, nếu tính theo định
mức xét xử hiện nay quy định đối với Toà án cấp tỉnh, cấp huyện trên các địa bàn và tổng số
lượng án phải thụ lý, xét xử với tỷ lệ gia tăng án hàng năm là 15%, trong vòng 5 năm tới ngành
Toà án nhân dân cần bổ sung mỗi năm khoảng 1000 người, trong đó có khoảng 500 Thẩm
phán, thì mới đáp ứng yêu cầu công tác xét xử. Tuy nhiên, vấn đề lo ngại không chỉ dừng ở
việc thiếu số lượng mà vấn đề về trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán cũng
đang được đặt ra trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
do trình độ, năng lực của đội ngũ Thẩm phán về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế còn
nhiều hạn chế, trong khi đó đã bắt đầu phát sinh nhiều loại vụ án phức tạp cả về hình sự, dân
sự, kinh doanh - thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài.
Về cơ sở vật chất của các Toà án, do trong thời gian dài không được quan tâm đúng mức và do
tình hình chia tách địa giới hành chính, cấp tỉnh, cấp huyện trong hơn 10 năm qua nên hiện nay
trụ sở làm việc và hội trường xét xử của nhiều Toà án, nhất là ở cấp huyện còn thiếu thốn, chật
chội, thậm chí có đơn vị vẫn chưa được cấp đất để xây dựng trụ sở mà phải thuê nơi làm việc
và phòng xét xử. Bên cạnh đó, phương tiện làm việc, kinh phí hoạt động, chế độ chính sách đối
với Toà án được cấp như định mức đối với cơ quan hành chính sự nghiệp chưa thực sự phù hợp
với tính chất đặc thù của công tác xét xử, từ đó làm hạn chế đến hiệu quả công tác của các Toà
án.
Về hoạt động xét xử của các Toà án, trong những năm gần đây, số lượng các loại vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án liên tục gia tăng mạnh, trung bình mỗi năm tăng khoảng 15%
làm cho công việc của các Tòa án ngày càng quá tải. Riêng năm 2007 (số liệu tính từ 1/10/2006
đến 30/9/2007), tổng các loại vụ án mà Tòa án nhân dân các cấp thụ 1ý, xét xử là 256.647 vụ,
tăng 23.806 vụ so với năm 2006, trong đó Tòa án cấp huyện thụ lý, xét xử sơ thẩm 204.563 vụ;
Tòa án cấp tỉnh thụ lý xét xử 45.821 vụ (bao gồm sơ thẩm 18.683 vụ, phúc thẩm 26.739 vụ và
giám đốc thẩm, tái thẩm 399 vụ); Tòa án nhân dân tối cao thụ lý, xét xử 6.263 vụ (bao gồm
phúc thẩm 5.747 vụ, giám đốc thẩm, tái thẩm 516 vụ) và xem xét, xử lý 10.999 đơn đề nghị
giám đốc thẩm, tái thẩm.
2. Những bất cập và tồn tại chính về tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án hiện nay
Qua nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về thực tiễn tổ chức và hoạt động của các Toà án nhân dân
cho thấy một số tồn tại và bất cập chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thẩm quyền xét xử của mỗi Toà án hiện đang được xác định vừa theo lãnh thổ, vừa
theo tính chất các vụ việc và thủ tục giải quyết, xét xử các vụ án. Theo quy định của pháp luật
tố tụng, thì Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, các Toà án cấp trên đều
có thẩm quyền xét xử hỗn hợp hoặc vừa phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm như của Toà án nhân
dân tối cao, hoặc có đầy đủ cả ba thẩm quyền xét xử theo trình tự giải quyết một vụ án, đó là
vừa xét xử sơ thẩm, vừa phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm, tái thẩm như ở Toà án cấp tỉnh. Điều
này là không thể hiện đúng, chính xác tính chất hoạt động, vai trò, vị trí của Toà án mỗi cấp
quy định trong hệ thống Toà án. Trên thực tế, mặc dù đã từng bước tăng thẩm quyền xét xử cho
các Toà án nhân dân cấp huyện, nhưng các Toà án nhân dân cấp tỉnh vẫn phải giải quyết số
lượng không nhỏ các vụ án theo thủ tục sơ thẩm mà lẽ ra các vụ án này phải được xét xử, giải
quyết ở Toà án cấp huyện với tư cách là Toà án sơ thẩm trong hệ thống Toà án. Các bản án,
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án nhân dân cấp tỉnh, về mặt lý thuyết và cả trên
thực tế vẫn có thể bị huỷ bởi Toà án nhân dân tối cao nên làm hạn chế ý nghĩa pháp lý của chế
định giám đốc thẩm; tái thẩm. Đối với Toà án nhân dân tối cao vẫn tiếp tục giải quyết, xét xử
phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị
và trên thực tế, không ít các bản án, quyết định phúc thẩm của các Toà phúc thẩm Toà án nhân
dân tối cao đã bị kháng nghị và bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bởi chính Toà án
nhân dân tối cao vô hình trung đã làm ảnh hưởng đến vai trò, uy tín pháp lý của Toà án nhân
dân tối cao với tư cách là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống Toà án. Bên cạnh đó, việc
pháp luật quy định chế định giám đốc thẩm, tái thẩm là nhằm tạo cơ chế khắc phục các sai lầm
trong việc giải quyết, xét xử các vụ án và để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và đường
lối xét xử trên bình diện chung của cả hệ thống Toà án. Tuy nhiên, việc có quá nhiều cơ quan
có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm (gồm 63 Toà án cấp tỉnh, 5 Toà chuyên trách của Toà
án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao), thì mục tiêu thống nhất
trong việc áp dụng pháp luật và xác định đường lối xét xử chung của chế định giám đốc thẩm,
tái thẩm sẽ bị ảnh hưởng. Trên thực tế, đã có những quyết định giám đốc thẩm của Uỷ ban
Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, hoặc thậm chí có trường hợp quyết định giám đốc thẩm
của Toà chuyên trách Toà án nhân dân tối cao bị Hội đổng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
huỷ. Ngoài ra, việc có nhiều cấp giám đốc thẩm cùng với quy định không hạn chế về điều kiện
kháng nghị và thủ tục không rõ ràng trong việc xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, một mặt làm cho việc giải quyết một vụ án
kéo dài, thậm chí không có điểm dừng, mặt khác làm mất tính ổn định trong các phán quyết của
Tòa án và ở một chừng mực nào đó làm vô hiệu hóa nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai
cấp xét xử.
Thứ hai, về nhiệm vụ và tổ chức công việc của Toà án các cấp, ở Toà án nhân dân tối cao vẫn
còn nặng về xét xử phúc thẩm bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ rất quan trọng khác là
giám đốc việc xét xử của các Toà án, tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp dụng thống
nhất pháp luật, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, quản lý các Toà án địa phương về tổ chức; Toà
án nhân dân cấp tỉnh, tuy có vị trí là Tòa án cấp dưới, nhưng có vai trò vừa là Toà án cấp sơ
thẩm, phúc thẩm, vừa là một cấp giám đốc thẩm, tái thẩm, ngoài ra còn có nhiệm vụ quản 1ý
các Tòa án cấp huyện về tổ chức theo phân cấp của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, sức ép về
công việc đối với Toà án nhân dân cấp tỉnh cũng không phải nhỏ, nhất và đối với Toà án của
các thành phố lớn. Đối với Toà án nhân dân cấp huyện, do được tổ chức ở đơn vị hành chính
cấp huyện nên dàn trải, nhiều đầu mối, có nơi quá nhiều việc, có nơi lại quá ít việc.
Trên thực tế, những bất cập nói trên về tổ chức và hoạt động của các Toà án đang gây ra những
trở ngại, khó khăn cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và tổ chức công việc để
nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác ở Toà án mỗi cấp và ở từng Toà án. Đối với các Toà
án cấp huyện có khối lượng lớn về công việc (như các Tòa án thành phố, thị xã thuộc tỉnh của
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất
luôn là gánh nặng và là vấn đề bức xúc do xuất phát từ yêu cầu phải giải quyết một khối lượng
công việc về chuyên môn quá lớn và ngày càng tăng theo đà phát triển kinh tế xã hội ở các địa
phương đó. Ngược lại, đối với những Toà án cấp huyện ở khu vực Tây Nguyên, miền núi phía
Bắc có khối lượng công việc phải quyết không đáng kể nhưng vẫn phải bố trí đủ cán bộ theo cơ
cấu tổ chức bộ máy của Toà án theo quy định và yêu cầu phải có trụ sở, phương tiện làm việc
như các đơn vị khác nên đã gây ra lãng phí không đáng có về nhân lực và vật lực. Mặt khác, do
được tổ chức theo đơn vị hành chính nên Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân cấp
huyện được coi là các Toà án nhân dân địa phương, nên địa vị pháp lý của những Toà án cấp
này chưa được xác định một cách chính xác, hợp lý và phù hợp với vai trò, vị trí của Toà án
trong hệ thống bộ máy nhà nước. Cụ thể, Toà án nhân dân cấp tỉnh được xác định giống như
một cơ quan cấp sở của tỉnh, Toà án nhân dân cấp huyện được xem như một cơ quan cấp phòng
của huyện. Do đó, việc xử lý, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tổ chức của các Toà án
còn chưa thực sự thoả đáng. Chế độ tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ, Thẩm phán Toà án các
cấp được quy định như các ngạch cán bộ, công chức hành chính nhà nước khác là không đáp
ứng được yêu cầu công tác xét xử và không tương xứng với vị trí, vai trò và tính chất hoạt động
quan trọng của cơ quan Toà án trong bộ máy Nhà nước. Hiện tại, việc xây dựng, kiện toàn, bổ
sung đội ngũ cán bộ và việc cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các Toà án gặp
nhiều khó khăn mà nguyên nhân có phần xuất phát từ những yếu tố bất cập mang tính khách
quan nói trên.
Thứ ba, do các Toà án địa phương được tổ chức theo đơn vị hành chính, chịu sự lãnh đạo của
cấp uỷ Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp nên thực tế cho thấy, nơi nào cấp
uỷ và Hội đồng nhân dân quan tâm theo hướng tích cực và đúng quy định của pháp luật đến
công tác tư pháp thì Toà án nơi đó có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng đội ngũ cán bộ và
thực hiện nhiệm vụ xét xử được giao. Ngược lại, nơi nào cấp uỷ, Hội đồng nhân dân không
quan tâm đúng mức tới công tác Toà án hoặc để xảy ra tình trạng buông lỏng sự chỉ đạo, giám
sát hay can thiệp quá sâu vào việc xét xử của Toà án thì công tác Toà án gặp nhiều khó khăn,
phức tạp.
3. Định hướng cơ bản về đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Toà án nhân dân
Việc triển khai thực hiện thành lập Toà án sơ thẩm khu vực, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng
thẩm, đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tối cao trong thực tế, cần phải đặt ra
và giải quyết rất nhiều vấn đề cụ thể như: xác định nguyên tắc thành lập; vị trí và mô hình;
nhiệm vụ, thẩm quyền; tên gọi; tiêu chí thành lập và xác định số lượng; cơ cấu tổ chức; biên
chế; cán bộ và cơ sở vật chất; mối quan hệ với các cơ quan công tố và điều tra; mối quan hệ
giữa các cấp Toà án; sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử; về việc
bầu Hội thẩm nhân dân; quản lý về tổ chức đối với các Toà án; đưa ra các giải pháp và phân
công trách nhiệm tổ chức thực hiện. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra phương
hướng giải quyết một số vấn đề cụ thể về đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Toà án nhân
dân.
3.1. Về Toà án sơ thẩm khu vực
- Nguyên tắc thành lập, nhiệm vụ, thẩm quyền và số lượng các Toà án sơ thẩm khu vực
Trong quá trình xây dựng Đề án, có quan điểm cho rằng có thể thành lập Toà án sơ thẩm khu
vực ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một tỉnh hoặc khác tỉnh, vì
trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 chỉ nêu Toà án sơ thẩm cấp khu vực được tổ
chức không phụ thuộc vào đơn vị hành chính và được thành lập ở một hoặc một số đơn vị hành
chính cấp huyện, không xác định rõ là các huyện trong cùng một tỉnh hay ở các tỉnh khác nhau.
Tuy nhiên, phương án mỗi Toà án sơ thẩm khu vực được thành lập trên cơ sở một hoặc một số
đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một tỉnh sẽ bảo đảm và xác định được sự lãnh đạo của
cấp uỷ Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân một tỉnh nhất định đối với tổ chức và hoạt
động của Toà án nhân dân cấp khu vực.
Toà án sơ thẩm khu vực được coi là Toà án cấp thứ nhất trong hệ thống Toà án, có nhiệm vụ và
thẩm quyền chung là xét xử, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh
doanh- thương mại, tuyên bố phá sản, lao động, hôn nhân - gia đình, hành chính theo quy định
của pháp luật tố tụng. Bên cạnh thẩm quyền chung như nêu trên, thẩm quyền cụ thể của từng
Toà án sơ thẩm khu vực sẽ được xác định theo quản hạt tư pháp và theo tính chất của những vụ
việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Theo Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính
Trị, Toà án sơ thẩm khu vực là Toà án chuyên xét xử, giải quyết các vụ việc theo thủ tục sơ
thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm là chủ yếu, nhưng vẫn có nhiệm vụ
xét xử sơ thẩm một số vụ án. Do vậy, vẫn cần phải có các quy định của pháp luật tố tụng về các
loại vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án cấp phúc thẩm. Việc xác định thẩm
quyền theo vụ việc đối với các Toà án sơ thẩm khu vực cần phải có lộ trình hợp lý để vừa bảo
đảm hoạt động bình thường của Toà án sơ thẩm khu vực khi mới thành lập, vừa bảo đảm yêu
cầu của cải cách tư pháp.
Việc xác định thành lập khoảng bao nhiêu Toà án sơ thẩm khu vực cần dựa trên những tiêu chí
nhất định như: số lượng các loại vụ án xảy ra; quy mô về địa giới hành chính; số lượng dân cư,
địa bàn khu vực địa lý và điều kiện phát triển kinh tế xã hội khu vực dự kiến sẽ thành lập Toà
án sơ thẩm khu vực, trong đó số lượng các vụ án dự định cho mỗi đơn vị Toà án sơ thẩm khu
vực và giới hạn địa bàn khu vực địa lý là những tiêu chí cơ bản. Theo thống kê, số lượng bình
quân các vụ án một năm của Toà án cấp tỉnh cỡ trung bình là khoảng 900 vụ. Nếu lấy tiêu chí
về số vụ án là từ 900 vụ trở lên và có tính đến quy mô, mức độ tập trung dân cư lớn, tốc độ phát
triển kinh tế xã hội, thì có khoảng 70 đơn vị Toà án cấp quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có
thể chuyển đổi thành Toà án sơ thẩm khu vực.
Ở khu vực các huyện đồng bằng, có thể sáp nhập hai đơn vị Toà án cấp huyện có số lượng giải
quyết các vụ án hiện nay khoảng 300 vụ / năm /đơn vị để thành lập một Toà án sơ thẩm khu
vực với số lượng các vụ án phải giải quyết khoảng 500 vụ /năm, tương đương với số vụ án bình
quân của một Toà án cấp tỉnh cỡ nhỏ là hợp lý, phù hợp với quy mô dân số và giới hạn địa bàn
hành chính cấp huyện ở khu vực này. Theo thống kê, có khoảng 80 Toà án cấp huyện hiện nay
có thể chuyển đổi thành 40 Toà án sơ thẩm khu vực. Các đơn vị còn lại có số vụ án trên dưới
200 vụ án / năm, thì có thể chuyển đổi 03 đơn vị thành 01 Toà án sơ thẩm cấp khu vực.
Đối với các khu vực miền núi, do có những đặc điểm khác với khu vực thành thị và đồng bằng
như: về mật độ dân số thấp, trình độ phát triển kinh tế xã hội không cao, số lượng các vụ án
không nhiều, địa giới hành chính thường rộng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển nên cần có cách
giải quyết khác cho phù hợp. Toà án sơ thẩm khu vực miền núi sẽ được thành lập trên cơ sở
hợp nhất một số các Toà án cấp huyện, với số lượng các vụ án phải giải quyết một năm khoảng
trên dưới 300 vụ, tương đương với số vụ án của một Toà án cấp tỉnh miền núi cỡ nhỏ hiện nay;
trụ sở Toà án cấp huyện cũ vẫn được giữ lại làm trụ sở chi nhánh của Toà án sơ thẩm khu vực.
Theo đó, có thể hợp nhất 03 Toà án cấp huyện thành một Toà án sơ thẩm khu vực. Mỗi Toà án
sơ thẩm khu vực có một hoặc hai chi nhánh là địa điểm để thụ lý và xét xử, giải quyết các vụ án
theo sự phân công của Chánh án Toà án sơ thẩm khu vực.
- Mối quan hệ giữa Toà án sơ thẩm khu vực và Toà án nhân dân cấp trên
Toà án sơ thẩm cấp khu vực có vị trí là Toà án cấp thứ nhất, có mối quan hệ tố tụng và quan hệ
hành chính với Toà án nhân dân cấp trên. Bản án, quyết định của Toà án sơ thẩm khu vực có
thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì Toà án
phúc thẩm (cấp tỉnh) sẽ xét xử theo thủ tục phúc thẩm; Toà án cấp có thẩm quyền sẽ xét xử,
giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Đây là điểm mới trong thủ tục giám đốc thẩm,
thể hiện ở chỗ Toà án cấp tỉnh không còn thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án,
quyết định của Toà án cấp dưới (cấp huyện) như hiện nay. Trường hợp trong quá trình thụ lý,
giải quyết các vụ việc, nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án sơ thẩm khu vực,
khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Toà án sơ thẩm khu vực thì Chánh án
Toà án cấp phúc thẩm có thẩm quyền giải quyết.
Ngoài quan hệ tố tụng, giữa Toà án sơ thẩm khu vực và Toà án cấp trên có mối quan hệ về
hành chính, tổ chức. Toà án sơ thẩm khu vực chịu sự chỉ đạo của Toà án cấp trên về các vấn đề
tổ chức nhân sự; báo cáo thống kê, xét xử; dự toán, quyết toán kinh phí hoạt động. Về nguyên
tắc, cơ quan cấp bộ nào được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và chịu trách nhiệm về chuyên
môn nghiệp vụ thì cơ quan đó thực hiện việc quản lý về tổ chức, nhân sự các đơn vị thuộc
ngành mình phụ trách, bảo đảm đánhgiá được đúng đắn về phẩm chất, đạo đức và năng lực
chuyên môn của cán bộ, công chức trong ngành.
- Về sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân
Hiện nay, theo quy định về Đảng thì Toà án nhân dân cấp huyện nào chịu sự lãnh đạo của cấp
uỷ Đảng huyện đó và tổ chức cơ sở Đảng ở Toà án cấp huyện trực thuộc Đảng bộ cấp huyện;
cấp uỷ Đảng của huyện quản lý, cho ý kiến khi đề bạt, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo và
Thẩm phán Toà án cấp huyện. Về mặt chính quyền, theo quy định của pháp luật, Chánh án Toà
án cấp huyện báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; Hội thẩm nhân dân do Hội
đồng nhân dân cùng cấp bầu ra; Thường trực Hội đồng nhân dân có chức năng phối hợp với
Toà án nhân dân cấp tỉnh trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo
Toà án cấp huyện. Khi Toà án sơ thẩm khu vực được thành lập và hoạt động thì vẫn phải bảo
đảm nguyên tắc có sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân. Do tổ chức
của Toà án sơ thẩm khu vực theo hướng không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện,
nhưng vẫn trong đơn vị hành chính cấp tỉnh, nên có thể giao cho cấp uỷ Đảng thực hiện việc
lãnh đạo và chỉ đạo, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc giám đối với hoạt động của Toà
án cấp này. Tổ chức cơ sở Đảng của Toà án cấp này trực thuộc Đảng bộ Toà án nhân dân cấp
tỉnh; còn Đảng bộ Toà án nhân dân cấp tỉnh trực thuộc tỉnh uỷ hoặc thành uỷ. Thường trực tỉnh
uỷ, thành uỷ; Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Toà án nhân dân tối cao
trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm lãnh đạo Toà án sơ thẩm khu vực và Toà
án cấp phúc thẩm; Chánh án Toà án nhân nhân khu vực báo cáo công tác trước Toà án nhân dân
cấp tỉnh; Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh báo cáo công tác của Toà án mình và Toà án sơ
thẩm khu vực trước Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
3.2. Về Toà án phúc thẩm
- Nguyên tắc thành lập, sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử
Toà án cấp phúc thẩm được tổ chức theo khu vực trên địa bàn của một số tỉnh hay theo địa giới
hành chính của từng tỉnh là vấn đề được đặt ra trong quá trình xây dựng Đề án. Tham khảo kinh
nghiệm của nước ngoài cho thấy có nhiều nước như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan
thành lập Toà án phúc thẩm trên địa bàn của nhiều tỉnh. Theo tinh thần của Nghị Quyết số
49/NQ-TW của Bộ chính trị, Toà án cấp phúc thẩm sẽ được thành lập theo thẩm quyền xét xử,
không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, do vậy có thể thành lập Toà án cấp này theo khu vực
trên một số tỉnh hoặc theo đơn vị hành chính cấp tỉnh. Việc tổ chức Toà án cấp phúc thẩm theo
mỗi cách trên có những ưu và nhược điểm của nó. Nếu tổ chức Toà phúc thẩm theo khu vực thì
có ưu điểm là giảm được đầu mối, tạo điều kiện tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất và
đội ngũ cán bộ, công chức Toà án cấp phúc thẩm. Theo cách này thì có nhược điểm là khó xác
định được cấp uỷ Đảng nào lãnh đạo, chỉ đạo và cũng khó xác định được Hội đồng nhân dân
tỉnh nào giám sát hoạt động của Toà án phúc thẩm. Phương án thành lập Toà án phúc thẩm theo
đơn vị hành chính cấp tỉnh tuy không giảm được đầu mối Toà án cấp phúc thẩm so với Toà án
cấp tỉnh như hiện nay, nhưng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định cấp uỷ Đảng và cơ
quan dân cử thực hiện việc lãnh đạo và giám sát đối với tổ chức và họat động của Toà án cấp
phúc thẩm.
Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta có nguyên tắc tuân thủ sự lãnh đạo của
Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử, nên theo chúng tôi có thể tổ chức Toà án phúc thẩm
theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, mỗi Toà án phúc thẩm có quản hạt tư pháp được giới hạn theo
phạm vi địa giới hành chính như Toà án cấp tỉnh hiện nay. Như vậy, trên phạm vi cả nước sẽ
thành lập 63 Toà án phúc thẩm, nội dung và cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng và sự
giám sát của Hội đồng nhân dân vẫn giữ nguyên như hiện nay.
- Vị trí, nhiệm vụ, thẩm quyền của Toà án phúc thẩm
Toà án phúc thẩm được xác định là Toà án cấp trên của Toà án sơ thẩm khu vực, cấp dưới của
Toà án nhân dân tối cao, độc lập với các Toà án này trong giải quyết các vụ việc. Toà án phúc
thẩm chịu sự quản lý, chỉ đạo của Toà án nhân dân tối cao, quản lý các Toà án sơ thẩm khu vực
theo sự phân cấp của Toà án nhân dân tối cao. Theo Nghị quyết số 49/ NQ-TW của Bộ Chính
trị, Toà án cấp phúc thẩm không còn chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm, Chánh án Toà án cấp
này cũng không còn chức năng kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm và chủ trì các phiên họp
của Uỷ ban Thẩm phán. Toà án cấp phúc thẩm xét xử theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết
định của Toà án sơ thẩm khu vực khi có kháng cáo, kháng nghị. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm
các vụ án của Toà án cấp phúc thẩm sẽ được xác định trên nguyên tắc những vụ án nào không
thuộc thẩm quyền của Toà án cấp sơ thẩm khu vực thì thuộc thẩm quyền của Toà án phúc thẩm.
Dự kiến các vụ án lớn trọng điểm về hình sự, các vụ án dân sự có đương sự hoặc tài sản tranh
chấp ở nước ngoài, các vụ việc khiếu nại đối với các quyết định hành chính liên quan đến
chống bán phá giá, cạnh tranh không lành mạnh trong khuôn khổ của WTO sẽ giao thẩm
quyền xét xử cho Toà án cấp phúc thẩm.
3.3. Về Toà án thượng thẩm
- Nguyên tắc thành lập, vị trí, thẩm quyền và số lượng Toà án thượng thẩm
Theo Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, Toà án nhân dân tối cao không còn thẩm
quyền xét xử phúc thẩm, Toà án cấp tỉnh vẫn còn thẩm quyền xét xử sơ thẩm một số vụ án, do
vậy cần phải thành lập Toà án thượng thẩm để xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm
của Toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị. Dự kiến trong giai đoạn đầu, 03 Toà phúc thẩm
hiện nay được chuyển thành 03 Tòa thượng thẩm (1), sau đó tuỳ tình hình cụ thể để giữ
nguyên, giảm hoặc tăng đầu mối các Toà án tượng thẩm. Toà án thượng thẩm là Toà án cấp
dưới của Toà án nhân dân tối cao, nhưng độc lập với các Toà án này trong việc xét xử, giải
quyết các vụ án.
Theo nguyên tắc Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử, Toà án thượng thẩm sẽ có thẩm quyền
xét xử các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp tỉnh bị kháng
cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Về thẩm quyền theo lãnh thổ, dự kiến Toà
án thượng thẩm được thành lập trên cơ sở các Toà phúc thẩm của Toà án nhân dân tối cao hiện
nay, quản hạt tư pháp của mỗi Toà án thượng thẩm về cơ bản vẫn được xác định như địa hạt tư
pháp của mỗi Toà phúc thẩm tương ứng hiện nay. Tuy nhiên, trên cơ sở thực tiễn hoạt động, có
thể điều chỉnh địa bàn xét xử giữa các Toà thượng thẩm với nhau cho phù hợp.
- Cơ cấu tổ chức, biên chế
Theo lộ trình và dự kiến trong tương lai, Toà án sơ thẩm khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm
hầu hết các vụ việc; số lượng các vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh
sẽ giảm; số lượng vụ việc xét xử phúc thẩm của Toà án thượng thẩm cũng sẽ giảm so với số
lượng các vụ án xét xử phúc thẩm tại các Toà phúc thẩm thuộc Toà án nhân dân tối cao hiện
nay. Theo dự tính, số lượng mỗi Toà án thượng thẩm sẽ phải giải quyết khoảng 1000 vụ /năm
(hiện nay, 03 Toà phúc thẩm xét xử xử khoảng 5500 vụ /năm, trung bình mỗi Toà xét xử
khoảng 1800 vụ /năm). Với số lượng các vụ việc như vậy và để chuyên môn hoá hoạt động xét
xử, thì có thể xác định cơ cấu của Toà thượng thẩm bao gồm các Toà chuyên trách và bộ máy
giúp việc. Về biên chế, theo tính toán về số vụ việc và cơ cấu tổ chức, mỗi Toà án thượng thẩm
cần có khoảng 100 người, trong đó có từ 30- 35 Thẩm phán.
- Sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử và quản lý về tổ chức
Toà án thượng thẩm có đặc thù về quản hạt tư pháp trên phạm vi nhiều tỉnh khác nhau, nên việc
xác định sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử tỉnh nào còn có ý kiến
khác nhau. Có ý kiến cho rằng, Toà án thượng thẩm đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở. Tuy nhiên, theo phương án này thì sự lãnh đạo của
cấp uỷ Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử không phù hợp với tính chất, vị trí và địa bàn xét
xét xử đặc thù của Toà án thượng thẩm. Do vậy, theo chúng tôi, Toà án thượng thẩm đặt dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Ban cán sự Đảng Toà án nhân dân tối cao; tổ chức Đảng của các Toà
án thượng thẩm trực thuộc Đảng bộ Toà án nhân dân tối cao; Chánh án Toà án thượng thẩm
báo cáo công tác trước Chánh án Toà án nhân dân tối cao; Chánh án Toà án nhân dân tối cao
báo cáo công tác của toàn ngành Toà án trước Quốc hội. Chánh án Toà án nhân dân tối cao
quản lý các Tòa án thượng thẩm về mặt tổ chức như đối với các Toà phúc thẩm hiện nay,
nhưng có phân cấp, uỷ quyền cho Chánh án Toà án thượng thẩm thực hiện một số công việc
(như: biên chế, quản lý cán bộ, kinh phí và hoạt động) của Toà án cấp này.
3.4. Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tối cao
- Vị trí, nhiệm vụ và thẩm quyền
Theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân hiện hành, Toà án nhân dân tối
cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viết Nam. Toà án nhân dân
tối cao có quan hệ tố tụng với các Toà án cấp dưới và các cơ quan tiến hành tố tụng khác theo
quy định của pháp luật; quản lý Toà án các cấp và Toà án quân sự về tổ chức, hành chính.
Ngoài nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, giám
đốc thẩm, tái thẩm, Toà án nhân dân tối cao còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các vụ án mà
bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
pháp luật tố tụng. Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ, thẩm quyền
của Toà án nhân dân tối cao là: “Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét
xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái
thẩm”. Theo định hướng của Nghị quyết này, Toà án nhân dân tối cao không còn thẩm quyền
xét xử phúc thẩm như hiện nay; việc xét xử phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ
thẩm của Toà án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị sẽ do Toà án thượng thẩm thực hiện; Toà án
nhân dân cấp tỉnh không còn thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm; Toà án nhân dân tối cao là
cơ quan duy nhất thực hiện việc giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án
nhân dân các cấp. Đối với các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Hội đồng Thẩm phán, Chánh án
Toà án Toà án nhân dân tối cao về cơ bản vẫn giữ nguyên như quy định hiện hành; đồng thời,
có thể bổ sung cho Toà án nhân dân tối cao nhiệm vụ đào tạo cán bộ ngành Toà án nhằm đề cao
tính độc lập của Toà án, gắn việc đào tạo với việc sử dụng nguồn nhân lực, bảo đảm cho Toà án
chủ động trong công tác tổ chức cán bộ.
- Cơ cấu tổ chức, sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử
Theo Nghị quyết 49/ NQ-TW của Bộ Chính trị, Toà án nhân dân tối cao không còn thẩm quyền
xét xử phúc thẩm, nên không còn các Toà phúc thẩm trong cơ cấu tổ chức. Để tiếp tục thực
hiện tốt các nhiệm vụ được giao trong thời gian trước mắt từ nay đến năm 2020, cần thiết giữ
lại Hội đồng Thẩm phán, các Toà chuyên trách và bộ máy giúp việc như hiện nay. Tuy nhiên,
xuất phát từ thực tiễn xét xử và yêu cầu của công cuộc cải cách tổ chức hệ thống Tòa án, cần
điều chỉnh lại tổ chức, nhiệm vụ của một số đơn vị thuộc Toà án nhân dân tối cao. Toà dân sự
Toà án nhân dân tối cao đang quá tải về công việc, mỗi năm phải xử lý khoảng 9000 đơn đề
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, nên có thể tách Toà dân sự hiện hành thành 02 hoặc 03 Toà dân
sự như kinh nghiệm của một số nước (2). Về lâu dài, cần xây dựng lại theo hướng đổi mới bộ
máy tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân tối cao theo tinh thần Nghị quyết số 49/ NQ-
TW của Bộ chính trị là: “Toà án nhân đân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử,
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ, và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.
Vì vậy, cần phải xây dựng Luật về Thẩm phán và cán bộ công chức ngành Toà án với các tiêu
chuẩn và điều kiện bổ nhiệm hết sức chặt chẽ để nâng cao kỷ luật công vụ và chất lượng công
tác xét xử; xây dựng, sửa đổi có hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến các hoạt động tố
tụng, án phí, lệ phí Toà án; xác định rõ căn cứ và thẩm quyền kiến nghị, kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm để làm giảm đến mức tối đa các đơn thư khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị giám
đốc thẩm; phấn đấu đến năm 2020, mỗi năm Toà án nhân dân tối cao chỉ xét xử khoảng 150-
200 vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm (thay vì hàng nghìn vụ như hiện nay). Theo hướng lâu dài,
tại Toà án nhân dân tối cao sẽ không còn các Toà chuyên trách, tổ chức bộ máy mới sẽ thiết kế
theo hướng căn cứ vào nhiệm vụ thẩm quyền nêu trên, gồm: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao và bộ máy giúp việc (Văn phòng Chánh án, Ban Thư ký, Viện Khoa học xét xử, Vụ
Thống kê - Tổng hợp và Vụ Giám đốc kiểm tra). Đặc biệt, để nâng cao vị trí độc lập của ngành
Toà án, phân định rõ công tác quản lý hành chính với hoạt động xét xử, đổi mới và nâng cao
chất lượng công tác xây dựng ngành, xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cơ sở vật chất cho ngành
Toà án tương xứng với vị trí, vai trò của Toà án trong Nhà nước pháp quyền, và yêu cầu của
công cuộc cải cách tư pháp, thì cần thiết phải thành lập Tổng Cục quản lý Toà án trực thuộc
Chánh án Toà án nhân dân tối cao với chức năng giúp Chánh án về công tác quản lý Toà án. Dự
kiến, Tổng cục quản lý Toà án gồm các đơn vị như: Cổng thông tin điện tử; Cục Quản trị; Vụ
Tổ chức -Cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ thi đua khen thưởng; Vụ đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ; Ban Thanh tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Vụ công tác chính trị và bảo vệ nội bộ
…; và nâng cấp trường cán bộ Toà án thành Học Viện Toà án để đào tạo Thẩm phán và các
chức danh tư pháp của ngành Toà án; bồi dưỡng kiến thức pháp luật và nghiệp vụ xét xử cho
Hội thẩm nhân dân).
Về sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử, đề nghị giữ nguyên như hiện nay,
Toà án nhân dân tối cao chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc tổ
chức triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương và chịu sự giám sát của Quốc
hội, Uỷ Ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
được giao.
Bước đầu nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Toà án nhân dân, chúng tôi để
xuất một số vấn đề nêu trên theo đúng định hướng của Đảng về cải cách tư pháp, bảo đảm hoạt
động của Toà án thể hiện bản chất dân chủ, của dân, do dân, vì dân, phù hợp với yêu cầu của
nhà nước pháp quyền XHCN, đáp ứng yêu cầu bảo vệ công lý, quyền con người, quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và nhà nước trong tình hình hội nhập quốc tế và
khu vực hiện nay và những năm tiếp theo.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét