Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Nghiên cứu về chính sách tiền tệ

Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
Với bất cứ một chính sách kinh tế vĩ mô nào đều theo đuổi một mục
tiêu quan trọng đó là một nền kinh tế phồn vinh với một tốc độ tăng trởng ổn
định. Đây là nền tảng cho mọi sự ổn định, bởi vì nền kinh tế tăng trởng sẽ
đảm bảo các chính sách xã hội đợc thoả mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ
trong nớc. Cải thiện cán cân thanh toán, khẳng định đợc vị trí trên thị trờng
quốc tế về mặt kinh tế. Về chất lợng phải đảm bảo một cơ cấu kinh tế hợp lý,
khả năng cạnh tranh cao thu hút đợc đầu t nớc ngoài, huy động đợc nhiều
nguồnvốn.
2.3 . Đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất ngiệp :
Đảm bảo công ăn việc làm có mối quan hệ mật thiết với mục tiêu
tăng trởng kinh tế. Điều đó đợc biểu hiện cụ thể là :
Khi nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp cao ảnh hởng đến mọi mặt của
nền kinh tế, làm cho uy tín và vị trí của nền kinh tế bị đảo lộn gây ra chi phí
cho ngân sách. Đây là mầm mống làm phát sinh tệ nạn xã hội, xã hội xuất
hiện nhiều tiêu cực. Chính vì lẽ đó phảI đặt nền kinh tế ở mức toàn dụng nh-
ng điều đó không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng không. Ngoài ra việc cố
gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng đợc coi là mục tiêu của chính sách
tiền tệ , do đó mỗi quốc gia cần xác định đợc tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một
cách chính xác để đạt đợc mục tiêu trên. Từ đó đặt ra một vấn đề nổi cộm đó
là phấn đấu một nền kinh tế tăng trởng và khi đã đạt đợc mục tiêu này thì sẽ
đạt đợc mục tiêu giảm thất nghiệp. Nhng tuỳ thuộc vào thực trạng, đặc điểm
và đặc thù phát triển kinh tế của mỗi nớc mà tập trung vào các mục tiêu cụ
thể khác nhau trong các mục tiêu của chính sách tiền tệ .
2.4 . Mối quan hệ giữa các mục tiêu :
Có thể nói rằng ba mục tiêu trên có mối quan hệ vừa có tính thống
nhất vừa có tính mâu thuẫn. Chính đặc điểm nổi bật này mà tuỳ vào mục tiêu
đất nớc của từng thời kỳ mà vận dụng một cách linh hoạt và đạt mục tiêu nào
là quan trọng nhất, mục tiêu nào là mục tiêu chủ yếu , mục tiêu nào là mục
tiêu thứ yếu .
Tính mâu thuẫn và thống nhất đợc thể hiện rõ nh sau :
- Tính mâu thuẫn : trong ngắn hạn có sự mâu thuẫn giữa các mục
tiêu của chính sách tiền tệ . Để hiểu rõ điều này, chúng ta hãy nghiên cứu
qua lý thuyết tứ giác ma thuật :
Tăng trởng kinh tế Thất nghiệp
Bội chi cán cân thanh toán quốc tế Lạm phát
5
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
- Tính thống nhất : Về mặt dài hạn, ba mục tiêu sẽ không mâu thuẫn. Điều
đó đợc thể hiện qua đờng cong Philip, lúc này đờng cong Philip trở nên
thẳng đứng :
Lạm phát
Thất nghiệp

Khi NHTƯ tăng khối lợng cung ứng tiền tệ để thực hiện mục tiêu
tăng trởng kinh tế, đồng thời điều này làm lạm phát có xu hớng tăng, thất
nghiệp giảm và bội chi cán cân thanh toán quốc tế giảm .

Kinh tế tăng trởng
Bội chi cán
Cân thanh toán Thất nghiệp giảm
Quốc tế
Lạm phát tăng
Nh vậy muốn đạt đợc mục tiêu tăng trởng kinh tế thì phải hi sinh
mục tiêu lạm phát. Hay để đạt đợc ba mục tiêu : Tăng trởng kinh tế, thất
nghiệp, bội chi cán cân thanh toán quốc tế giảm thì lạm phát lại tăng . Do đó
trong ngắn hạn NHTƯ không thể đạt đợc tất cả các mục tiêu. Tuy nhiên có
nhiều quốc gia coi mục tiêu ổn định giá cả là mục tiêu chủ yếu quan trọng và
dài hạn. Chính sách tiền tệ nhiều khi cũng phải hy sinh mục tiêu này để đạt
đơc mục tiêu khác .
II . Chính sách tiền tệ với việc điều tiết kinh tế thị trờng :
Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế của nớc ta theo định hớng
XHCN trong thời gian qua đã thu đợc nhiều thắng lợi. Với mục tiêu đa đất n-
ớc ta từ một nớc có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu trở thành một nớc công
nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo điều kiện và tiền đề cho những bớc phát triển
kinh tế sau này. Đảng và Nhà nớc đã soạn thảo chiến lợc phát triển kinh tế
trong những năm đầu thế kỷ 21. Một trong hnững cơ quan đợc giao trách
nhiệm quan trọng ấy là NHNN Việt Nam - với chính sách tiền tệ. Việc
6
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
nghiên cứu và đánh giá chính sách tiền tệ là vô cùng quan trọng, đó là điều
kiện để đạt đợc mục tiêu đặt ra. Điều đầu tiên là ổn định giá cả, tăng trởng
kinh tế và công ăn việc làm .
1 . Vai trò của Ngân hàng Trung ơng :
Nhiệm vụ chính của NHTƯ trong nền kinh tế tiền tệ là đảm bảo sự
khan hiếm đúng mức của đồng nội tệ nhằm bảo vệ sự ổn định giá cả và tỷ giá
hối đoái cần thiết cho quá trình kinh tế. Trong hệ thống ngân hàng hai cấp,
NHTƯ với t cách là ngân hàng của các ngân hàng, sẽ thực hiện việc đIũu tiết
tín dụng và qua đó điều tiết những điều kiện của sản xuất bằng chi phí tín
dụng đầu t, tức là điều kiện tái cấp vốn của mình, mà lâu nay việc này,
NHTƯ có hai loại công cụ chính sách tiền tệ là công cụ điều tiết khối lợng
và công cụ điều tiết lãi suất.
Trong nền kinh tế tiền tệ, ngời ta sử dụng chính sách chiết khấu và
chính sách lân-bát để điều tiết lãi suất. NHTƯ quy định tỷ lệ lãi suất này khi
ngân hàng nhận hối phiếu để tái chiết khấu và nhận chứng khoán làm thế
chấp. Tỷ lệ lãi suất chiết khấu và nhận chứng khoán làm thế chấp. Tỷ lệ lãi
suất chiết khấu và lãi suất Lân-bát sẽ cùng nhau quyết định lãi suất NHTƯ
chính sách khối lợng đợc thể hiện trong khuôn khổ của chính sách thị trờng
mở. Đó là việc NHTƯ mua hoặc bán chứng khoán, để qua đó tác động trực
tiếp vào khối lợng tiền tệ.
Mới nhìn ngời ta tởng có thể phân biệt một cách rõ ràng giữa 2 công
cụ này của chính sách tiền tệ, nhng thực chất không phải nh vậy. Vì, việc
điều tiết lãi suất cùng có tác động tới khối lợng tức lãi suất tăng sẽ giảm nhu
cầu tiền tệ, cũng nh khi áp dụng chính sách về khối lợng cùng tạo ra một tỷ
lệ lãi suất nhất định trên thị trờng tiền tệ và tín dụng. Đó chính là mối quan
hệ hữa cơ giữa khối lợng và giá đặc trng do nền kinh tế thị trờng. Trong mối
quan hệ này thì trờng hợp thứ nhất giá tác động vào khối lợng , tròng hợp thứ
hai khối lợng tác động vào giá. Khi điều tiết hai công cụ chính sách tiền tệ
trên, NHTƯ không bao giờ sử dụng một khối lọng vật chất là hàng hoá sản
xuất và tiêu dùng nào, để làm định hớng cho các quyết định về chính sách
tiền tệ của mình. Giá trị hàng hoá vật chất đợc xác định trên thị trờng và giá
trị hàng hoá đợc thị trờng xác định. Nguyên tắc tính theo tổng sản phẩm
quốc nội của quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) bằng cách phân biệt chính sách khối
lợng đã đọc định hớng nh trên có những tác động về giá phát sinh. Khi nhu
cầu tín dụng đợc ấn định thì việc đa ra một khối lợngtiền trung ơng nào đó sẽ
tạo ra một lãi suất tín dụng nhất định. Sự chỉ dẫn của IMF chỉ là một sự hỗ
trợ định hớng đã bị đơn giản hóa và khônh đợc phép nhầm lẫn với một sự cần
bằng tiền - hàng. Nhng những dao động hàng ngày và thời vụ của nhu cầu
tiền tệ, những cơn sốt từ bên ngoài và nhiều yếu tố khác đòi hỏi phải có một
chính sách linh hoạt, cụ thể cùng khi thay đổi tơng ứng trong việc cung ứng
tiền tệ. Khi nhu cầu tiền tệ vợt ra ngoài hành lang đã quyết định cho việc gia
tăng khối lợng tiền tệ thì NHTƯ vẫn phải đáp ứng, nhng với lãi suất cao hơn
7
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
nhằm tác động một cách trung hạn vào sự đẩy lùi việc bùng nổ khối lợng tiền
tệ. Việc công khai hoá mục đích gia tăng khối lợng tiền tệ cùng với thực tế
theo đuổi việc thực thi mục đích này đã tạo đợc lòng tin vào khả năng dự
đoán của chính sách tiền tệ nhng đồng thời vẫn đảm bảo đợc tính linh hoạt
cần thiết của chính sách tiền tệ. Tiền dề quan trọng ở đây là phải có những
công cụ điều tiết gián tiếp khối lợng tiền tệ, đó là công cụ lãi suất. Khả năng
biến đổi lãi suất NHTƯ không chỉ đảm bảo đợc giới hạn ngân hàng của kinh
tế vĩ mô bằng việc duy trì sự khan hiếm của tiền tệ mà còn đảm bảo tính linh
hoạt cần thiết cho việc cung ứng tiền tệ cho hệ thống ngân hàng thơng mại.
Chừng nào đồng nội tệ với chức năng là phơng tiện cất giữ giá trị
còn yếu kếm thì tỷ lệ tiền mặt vẫn còn cao; tiền NHTƯ không quay trở về
các ngân hàng thơng mại dới hình thức các khoản tiền gửi và nh vâỵ hệ số
tạo tiền sẽ nhỏ đi. Nếu lúc này, NHTƯ không tăng lãi suất của mình mà lại
tiếp tục cung ứng tiền ngân hàng trung ơng với giá rẻ cho các ngân hàng th-
ơng mại, thì quá trình huỷ tiền tệ sẽ tiếp diễn.
Trong đại đa số những nớc đang phát triển, cũng nh tại Việt Nam,
thông thờng chỉ có khoản tiền gửi tơng đối ngắn hạn, còn phần lớn là tiền
NHTƯ. Cơ cấu khối lợng tiền nh vậy cho hệ thống Ngân hàng kém phát
triển, ít dành đợc lòng tin của khách hàng.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ khối lợng quan trọng nhất của
NHTƯ và hệ số tiền mặt ấn định, NHTƯ có thể giới hạn khả năng tạo tiền
của ngân hàng thơng mại thông qua việc ấn định tỷ lệ dự trữ bắt buộc . Khối
lợng dự trữ bắt buộc giữ tại ngân hàng trung ơng không đợc tính lãi là một
tổn phí đối với các ngân hàng thơng mại, vì bất kỳ một khối lợng tiền NHTƯ
nào trong khu vực các ngân hàng thơng mại đều có nguồn gốc dã vay nợ tại
NHTƯ và đều phải trả lãi. Việc dự trữ bắt buộc này làm tăng khả năng điều
tiết của NHTƯ và đều phảI trả lãi. Việc dự trữ bắt buộc này làm tăng khả
năng điều tiết của NHTƯ đối với các ngân hàng thơng mại.
Một chức năng quan trọng khác của NHTƯ là chức năng ngời cho
vay cuối cùng. NHTƯ phải luôn luôn và trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong
thời kỳ khủng hoảng đều có khả năng cấp vốn cho các ngân hàng thơng mại
để ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống NH thơng mại. Phơng tiện điều tiết
thích hợp nhất của NHTƯ không phải là việc quy định hạn mức khối lợng,
mà là việc thay đổi tỷ lệ lãi suất tái cấp vốn ngắn hạn do hệ thống NH thơng
mại thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu nhng với lãi suất phát triển. Hay nói
cách khác, các công cụ lãi suất của NHTƯ càng phát triển bao nhiêu thì
công cụ dự trữ bắt buộc càng ít quan trọng bấy nhiêu. Ngợc lại, chừng nào
trong nền kinh tế cha có thị trờng chứng khoán nghiệp vụ hối phiếu cũng nh
các công cụ kỹ thuật tài chính, tức là những công cụ có thể phản ứng nhanh
trớc sự biến động của lãi suất thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc vẫn còn là công cụ
quan trọng của NHTƯ. Việc NHTƯ công bố sẵn sàng tạo khả năng tái cấp
vốn do các NHTM trong bất kỳ hoàn cảnh nào sẽ là tín hiệu cho khách hàng
8
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
biết rằng: về cơ bản các NHTM luôn có khả năng thanh toán. Nhng cũng
không đợc hiểu sai chức năng cuả NHTƯ là ngời cho vay cuối cùng, mà các
NHTM lạI không quan tâm để có một chính sách kinh doanh nghiêm túc, vì
dẫu sao NHTƯ chỉ hỗ trợ trong trờng hợp khủng hoảng. Chức năng ngời
cho vay cuối cùng chỉ phục vụ sự việc duy trì tính co dãn cần thiết của việc
cung ứng tiền tệ do toàn bộ ngân hàng chứ không phải cho từng NH riêng lẻ
thông qua hoạt động giám sát tín dụng là điều không thể thiếu đợc.
Là ngân hàng của các ngân hàng, NHTƯ luôn là chủ nợ của hệ
thống ngân hàng. Đây là một vấn đề dễ bị nhầm lẫn. Tiền đi vào chu trình
kinh tế bằng con đờng các NHTM chuyển các hối phiếu và trái khoán lên
NHTƯ và bị triết khấu mất phần lãi suất phải trả cho phần đợc vay, qua đó
trở thành ngời nợ của NHTƯ. Với vị trí chủ nợ NHTƯ có thể điều tiết việc
mở rộng khối lợng tiền tệ. Chính vì lý do đó, các NHTM không bao giờ đợc
phép gửi tiền có lãi tại NHTƯ , vì điều đó sẽ chôn vùi vị trí chủ nợ của ngân
hàng trung ơng. Nếu các NH gửi tiền tại NHTƯ thì đó chỉ thuần tuý là việc
dự trữ có lãi. Nếu NHTƯ trở thành ngời nợ của hệ thống NHTM thì khi đó
họ không còn khả năng tác động trực tiếp vào sự gia tăng khối lợng tiền tệ
bằng chính sách tiền tệ của mình, vì bất cứ lúc nào NHTM cũng có thể rút
tiền gửi họ.
Tơng tự nh vậy, một vấn đề chủ đạo đối với khả năng điều tiết của
NHTƯ là việc NHTƯ chỉ đợc phép cho các NHTM vay ngắn hạn. Đây là
điều cần thiết , vì chỉ có nh vậy NHTƯ mới có thể phản ứng nhanh trớc
những rối loạn có thể xảy ra trong hệ thống tiền tệ bằng việc thay đổi chi phí
tái cấp vốn. Chỉ có các NHTM mới đợc phép cấp tín dụng dài hạn. Để làm đ-
ợc điều này, các NHTM phải huy động động nguồn tiền gửi dài hạn của các
chủ đầu t. Nhng các chủ đầu t chỉ sắn sàng gửi tiền dài hạn nếu những rủi ro
mất giá tiền gửi của họ đợc giảm một cách tối đa trên cơ sở giá và tỷ giá hối
đoái ổn định và qua đó họ thu đợc khoản lãi thực tế dơng. Nếu một khi
NHTƯ có những khoản nợ phải đòi hỏi dài hạn thì khác nào họ tự chôn vùi
tiềm năng điều tiết của họ và thúc đẩy sự bất ổn định trong khu vực tiền tệ.
Và chính sự điều tiết này làm mất đi các điều kiện có thể huy động tiền gửi
dài hạn của các chủ đầu t. Do vậy, tiền đề đối với một hệ thống ngân hàng
hai cấp có hiệu lực là việc thiết lập một cơ chế cạnh tranh giữa các ngân
hàng, tức là hoạt động cạnh tranh trong việc huy động tiền gửi.
2 . Chính sách tiền tệ với những mục tiêu của nền kinh tế :
2.1 . Công cụ lãi suất :
Các đề án chính sách kinh tế dựa trên ý tởng cho rằng có thể đạt đợc
các mục tiêu kinh tế tổng thể bên cạnh mục tiêu ổn định bằng cách tác động
vào mức lãi suất hoặc vào cơ cấu lãi suất. Điều đó hoàn toàn độc lập với
việc : bằng cách can thiệp vào những điều kiện hoạt động của hệ thống ngân
hàng hai cấp, ngời ta cần theo đuổi đợc các mục đích cơ cấu, thị trờng lao
9
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
động, mục đích công nghiệp, mục đích phân phối hay mục đích chính sách
phát triển.
a . Mức lãi suất :
Nhiều đề án chính sách kinh tế dựa vào sự thay đổi tỷ lệ chiết khấu,
tức là tỷ lệ lãi suất phải cấp vốn cho các NHTM của NHTƯ, đều có chung ý
tởng cơ bản cho rằng có thể khuyến khích đầu t bằng việc hạ thấp tỷ lệ chiết
khấu qua việc NHTƯ không thể tự do quy định tỷ lệ chiết khấu, vì NHTƯ
phảI bảo vệ sự ổn định của mức giá cả và tỷ giá hối đoái danh nghĩa và khả
năng hoạt động của đồng nội tệ. Muốn vậy NHTƯ phảI lựa chọn một tỷ lệ
lãi suất sao cho có thể khuyến khích các chủ đầu t sẵn sàng giữ tài sản của
mình bằng đồng nội tệ .
Nếu các chủ đầu t không sẵn sàng gửi tiền dài hạn bằng đồng nội tệ
vào hệ thống NHTM thì tỷ lệ lãi suất hiện thời đang thấp hơn mức lãi suất
cân bằng. Một khi các NHTM chỉ huy động đợc ít hoặc không huy động đợc
tiền gửi dài hạn thì họ sẽ chỉ có thể cấp đợc một khối lợng tín dụng dài hạn ít
cho các doanh nghiệp, tuy họ vẫn có khả năng chuyển đổi dài hạn. Thực ra
trong việc cấp tín dụng, các NHTM không chỉ dựa vào tiền gửi, vì họ có thể
đợc tái cấp vốn bằng cách vay nợ NHTƯ. Nhng số tiền gửi quá ít thì cũng
không thể cân đối lại đợc bằng cách vay NHTƯ. Về nguyên tắc, NHTƯ chỉ
đợc phép cấp tín dụng ngắn hạn vì tín dụng dài hạn sẽ hạn chế khả năng can
thiệp của NHTƯ. Giả sử NHTƯ vẫn cứ cấp tín dụng dài hạn thì điều đó sẽ
làm giảm sự nhiệt tình gửi tiền dài hạn của các chủ đầu t vì nguy cơ mất giá
tài sản tiền tệ do lạm phát sinh ra từ khả năng can thiệp yếu đi của NHTƯ.
Khi tiền gửi dài hạn và hệ thống ngân hàng quá ít, nhng ngời ta lại
không muốn để sản xuất mà trớc đó thờng đã ứng trớc vốn bằng đồng nội tệ
bị đình trệ hoàn toàn, chỉ còn cách cuối cùng là Nhà nớc phải cấp tín dụng
dài hạn cho các doanh nghiệp. Nhà nớc chỉ có thể cấp khoản tín dụng này
bằng cách hạn chế các khoản chi ngân sách hoặc gia tăng thâm hụt ngân
sách. Trong trờng hợp thứ nhất thì việc đầu t sé không mang lại kết quả
chung một cách tích cực, vì tổng các khoản chi ngân sách không thay đổi.
Nếu Nhà nớc tăng thuế nhằm mục đích cấp tín dụng cho các doanh nghiệp
thì kết quả cũng tơng tự. Ngợc lại., nếu Nhà nớc thanh toán các khoản chi bổ
sung này bằng việc vay tín dụng của NHTƯ thì điều đó sẽ để lại hậu quả tiêu
cực cho việc ổn định mức giá. Nếu Nhà nớc phát hành công trái thì mức lãi
suất sẽ tăng, mà điều này sẽ làm giảm mọi hoạt động đầu t của t nhân .
Nh vậy, việc tìm cách khuyến khích đầu t thông qua việc quy định
mức lãi suất thấp hơn mức cân bằng coi nh bị thất bại. Một chính sách nh
vậy không gia tăng đợc hoạt động đầu t mà chỉ dẫn đến tình trạng lạm phát
và mất giá .
b . Cơ cấu lãi suất và chênh lệch lãi suất :
Trong khi các chính sách kinh tế tập trung vào việc giảm lãi suất để
theo đuổi các mục tiêu của chính sách thị trờng lao động và chính sách phát
10
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
triển thì những đề xuất để Nhà nớc điều tiết cơ cấu lãi suất và chênh lệch lãi
suất lại nhằm vào các mục tiêu của chính sách cơ cấu, chính sách khu vực và
chính sách công nghiệp. ở đây, cơ cấu lãi suất thực chất là mối quan hệ giã
tỷ lệ lãi suất ngắn hạn và dài hạn, trong khi đó chênh lệch lãi suất thể hiện
mối tơng quan giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động. Vấn đề về việc tác
động của chính sách kinh tế vào cơ cấu lãi suất và chênh lệch lãi suất liên
quan đến hai điều kiện cơ bản trong khả năng hoạt động của hệ thống ngân
hàng hai cấp nh sau :
- Đó là các NHTM là các doanh nghiệp kinh doanh theo lợi nhuận,
nên họ cần phải có chênh lệch lãi suất dơng giữa tỷ lệ lãi suất cho vay và tỷ
lệ lãi suất tái cấp vốn. Nếu do những qui định pháp lý mà khoản chênh lệch
lãi suất này bị âm thì các NHTM kinh doanh lỗ vốn .
- Do đó , để tránh sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng vì tác động của
chêng lệch lãi suất âm làm mất lòng tin vào đồng nội tệ và việc sẵn sàng gửi
tiền dài hạn, cần phải có biện pháp bù đắp những thiệt hại phát sinh từ chênh
lệch lãi suất âm. Việc chi phí cho những thiệt hại thông qua quá trình tiền tệ
hoá hay gia tăng khoản nợ của Nhà nớc, nh đã nói ở phần trên, trong mọi tr-
ờng hợp đều dẫn đến hậu quả tiêu cực. Việc đó sẽ làm tăng mức giá hoặc lãi
suất. Nếu một khi những thiệt hại xảy ra, thì cách dùng ngân sách Nhà nớc
để bù đắp vẫn là một hình thức ít có hại nhất .
Những điều đã nói ở trên không có nghĩa là Nhà nớc để mặc cho
NHTM tự qui định về chênh lệch lãi suất trong mọi trờng hợp. Trong điều
kiện hệ thống NHTM không có điều kiện cạnh tranh thì việc quyết định giá
tối đa mang tính pháp lý về mức chênh lệch lãi suất lại rất có ý nghĩa .
Để đảm bảo hoạt động cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng thì
phải đảm bảo cho các NHTM đợc hởng các điều kiện tái cấp vốn nh nhau.
Việc Nhà nớc trích thu lợi nhuận của NHTM chỉ nên thực hiện bằng luật
thuế, chứ không nên điều tiết bằng cách phân biệt những điều kiện thí cấp
vốn. Việc phân biệt tỷ lệ tái suất cho vay và huy động theo ngành , khu vực
và lãnh thổ cũng nh việc phân biệt tỷ lệ chiết khấu theo từng ngân hàng là
không thích hợp với một hệ thống ngân hàng có hiệu lực. Tỷ lệ lãi suất tiền
gửi chỉ nên phân biệt theo thời hạn của khoản tiền gửi. Bất kỳ một sự phân
biệt lãi suất huy động nào khác cũng sẽ làm vô hiệu hoá mọi cố gắng thu
hút tiền gửi để kinh doanh kiếm lợi của các NHTM, do đó các NHTM cần
chú ý tới các điểm sau :
Thứ nhất là khi phân tích những khả năng tái cấp vốn, các ngân hàng
cần phải so sánh giữa chi phí huy động tiền gửi với chi phí vay nợ NHTƯ để
tìm ra hình thức tái cấp vốn có lợi nhất cho việc cấp tín dụng của họ. Khi
tính chi phí huy động tiền gửi thì phải tính cả tỷ lệ lãi suất phải trả lần chi
phí phát sinh của tỷ lệ dự trữ bắt buộc .
11
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
Thứ hai là khi đối cấp chiếu các phơng thức thì cấp vốn với nhau,
các ngân hàng cần chú ý tới khả năng chuyển đổi thời hạn khác nhauvì điều
này có ý nghĩa quyết định với việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp.
Cạnh tranh trong khu vực ngân hàng có nghĩa : Các NHTM cạnh
tranh với nhau trong việc thu hút tiền gửi, vì nhận tiền gửi sẽ quyết định khả
năng mở rộng thị trờng của họ. Nhng tổng lợng tiền gửi và cơ cấu thời hạn
của nó lại do NHTƯ quyết định thông qua việc đảm baỏ sự ổn định của đồng
nội tệ: trong khi đó , việc cạnh tranh giữa các NHTM với nhau sẽ quyết định
việc phân chi tổng lợng tiền gửi trên trong nội bộ khu vực ngân hàng. Ví dụ
một ngân hàng do vị trí lãnh thổ thuận lợi có thể huy động đợc nhiều tiền gửi
nhng theo quyết định thì phải trả lãi cao hơn lãi suất trung bình của các ngân
hành cạnh tranh khác, điều đó sẽ gây bất lợi cho ngân hàng này trong cạnh
tranh .
Việc phân biệt tỷ lệ lãi suất tín dụng, chừng nào sự phân biệt này
không bị ràng buộc vào hạn mức tín dụng, sẽ dần tới việc từ chối cấp tín
dụng ở các khu vực dợc hởng lãi suất theo qui định. Việc từ chối cấp tín
dụng này sẽ chỉ có thể xảy ra, nếu trong khu vực đợc u đãi lãi suất thấp này
chứng minh đợc hệ số an toàn của việc trả nợ gốc và lãi cao hơn so với
những ngời vay tín dụng tiềm năng khác. Nhng điều này luôn khó đạt đợc vì
hệ số an toàn cao luôn đòi hỏi lợi nhuận và đạt đợc của những ngời vay tín
dụng cũng khồn phải cao, những khu vực nh vậy lại không cần đến sự can
thiệp bằng chính sách kinh tế để cấp tín dụng cho các dự án đầu t. Mà hoàn
toàn ngợc lại, Nhà nớc phải can thiệp vào khu vực kinh tế mà ở đó theo sự
đánh giá của Nhà nớc, việc cấp tín dụng theo điều kiện kiện của thị trờng đã
đợc một một khố lợng tín dụng quá nhỏ.
Về cơ bản, nhợc điểm của việc phân biệt lãi suất là nó làm mất đi
chức năng phân bổ của một tỷ lệ lãi suất. Việc tìm cách xoá bỏ cơ chế chọn
lọc của tỷ lệ lãi suất do các NHTM xác định trong hoạt động giao lu với
ngân hàng và điều này bắt buộc Nhà nớc phải tiếp tục can thiệp dới hình thức
quy định hạn mức tín dụng.
2.2 . Công cụ khối lợng :
Việc quy định hạn mức tín dụng theo ngành địa phơng và khu vực
kinh tế sẽ xoá bỏ khả năng của các NHTM trong việc tự quyết định cấp tín
dụng theo hệ số an toàn dự tính của việc hoàn trả tín dụng. Khi các NHTM
không còn có thể tự quyết định cấp tín dụng theo hệ số an toàn của việc hoàn
trả tín dụng thì có nhiều khả năng là tỷ trọng của những khoản nợ khó đòi
trong tổng khối lợng cho vay sẽ tăng. Trong khi đó các doanh nghiệp có khả
năng thanh toán đợc lãi suất thì lãi không đợc nhận tín dụng để triển khai các
dự án đầu t của họ. Thông thờng những điều kiện nh vậy sẽ xuất hiện thị tr-
ờng không chính thức ( thờng gọi là thị trờng chợ đen hoặc thị trờng bất hợp
pháp ). Trên thị trờng này, tất cả các doanh nghiệp có khả năng trả lãi suất
cao hơn lãi suất chính thức để có thể vay đợc. Do không có khả năng tái cấp
12
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
vốn cho NHTƯ cho nên cả lãi suất cho vay lẫn lãi suất huy động trên thị tr-
òng chợ đen thờng cao hơn lãi suất trong hệ thống ngân hàng chính thức.
Điều này sẽ khuyến khích ngời gửi tiền rút tiền gửi họ ra khỏi hệ thống ngân
hàng chính thức.
Việc giảm khối lợng tiền gửi và việc tăng thoát thoát tín dụng trong
hệ thống ngân hàng chính thức sẽ dẫn đến những tổn thất cho ngân hàng
buộc Nhà nớc hoặc NHTƯ phải bù đắp hoặc ngăn chặn sự đổ vỡ của hệ
thống ngân hàng. Hậu quả của nó sẽ tơng tự trờng hợp Nhà nớc hoặc NHTƯ
dảm nhiệm cho vay dài hạn đó là lạm phát và mất giá đồng nội tệ.
Việc mất ổn định trong hệ thống ngân hàng cũng nh việc giảm chất
lợng đồng nội tệ sẽ đi liền với việc phân bổ sai nguồn tài nguyên. Sức lao
động và t liệu lao động lại đợc phân bổ cho các ngành linh tế không có khả
năng thanh toán cả gốc lẫn lãi. Các ngành đợc hỗ trợ lại tiêu tốn nguồn tài
nguyên lớn hơn nhiều so với khoản họ có thể nhận đợc từ hệ thống ngân
hàng không bị chính sách áp đặt.
Những ngành kinh tế đợc sự hỗ trợ của chính sách tín dụng u đãi đó
phần phần lớn chỉ có thể tồn tại khi họ tiếp tục nhận đợc khoản viện trợ của
Nhà nớc. Điều đó cũng có nghĩa là nếu quy định lãi suất và hạn mức tín
dụng thì sẽ phát sinh ngay khủng hoảng cơ cấu. Có thể khắc phục đợc vấn đề
trên nếu Nhà nớc thay việc tạo cấp lãi suất cũng nh nguồn cấp nhận không
có khả năng thanh toán gốc và lãi tín dụng bằng các hình thức trợ cấp khác.
Nếu không muốn làm cách này gây ảnh hởng tiêu cực tới sự ổn định của
đồng nội tệ, thì các khoản trợ cấp này phải đợc thực hiện bằng nguồn ngân
sách không bị thâm hụt. Tuy nhiên dù khi trợ cấp mà vẫn dự đợc cân bằng
ngân sách thì biện pháp đó cũng không làm thay đổi đợc việc phân bổ nguồn
lực , tài nguyên.
Khi quy định hạn mức tín dụng có kết hợp với việc ấn định lãi suất
hoặc chính sách phân biệt lãi suất theo qui định pháp lý thì có nhiều khả
năng làm cho tỷ lệ lãi suất trung bình sẽ thấp hơn tỷ lệ lãi suất cân bằng. Nếu
không phải nh vậy thì đã không dẫn đến sự can thiệp của Nhà nớc. Điều này
sẽ dẫn đến một loạt hậu quả giống nh đã trình bày trong trờng hợp quy định
hạn mức tín dụng. Những can thiệp này sẽ mâu thuẫn sâu sắc với yêu cầu
phải tách biệt những nhiệm vụ của Nhà nớc và của NHTƯ không chỉ là một
nguyên tắc hành chính hay một sự quy ớc theo tiến trình lịch sử, mà là sự cần
thiết có tính hệ thống cho mọi nền kinh tế thị trờng . Ngay trong quá trình
chuyển đổi Nhà nớc không nên và không thể chỉ có sự giới hạn chức năng
của mình trong việc tạo ra những điều kiện pháp lý và tổ chức cho nền kinh
tế thị trờng. Điều then chốt là Nhà nớc cần dùng ngân sách để tài trợ cho các
chính sách về thị tròng lao động, vì cơ cấu về địa phơng, về công nghiệp và
chính sách phân phối .
13
Đề án Lý thuyết tiền tệ Ngân hàng Nguyễn Anh Dũng - 2011
Phần II :
chính sách tiền tệ việt nam - Những
hạn chế và thành công
=============

Nhng năm gần đây các nớc châu á rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm
trọng. Mặc dầu cũng bị ảnh hởng ít nhiều song Việt Nam vẫn giữ đợc tốc độ
tăng trởng hàng năm. Điều đó chứng tỏ đờng lối lãnh đạo đúng đắn của
Đảng và Nhà nớc trong đó không thể không kể đến vai trò của NHTƯ với t
cách là xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ. Thu đợc nhiều thành
công đặc biệt giảm đợc tỷ lệ lạm phát ổn định giá trị đồng nội tệ. Tuy vậy,
quá trình tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế .
I . Những hạn chế :
Thứ nhất là NHNN với t cách là ngời độc quyền phát hành tiền Đồng
nhng lại không phát hành kịp nhu cầu của xã hội. Điều này đe doạ khả năng
thanh toán của các ngân hàng thơng mại. Đây không chỉ là việc các NHNN
từ bỏ chức năng là ngời cho vay cuối cùng mà họ không có khả năng sử dụng
thị trờng tiền tệ và tín dụng đảm bảo việc cung ứng tiền cho nền kinh tế quốc
dân. Khó khăn ở đây do việc cha có hình thức tổ chức hoạt động thích hợp
của các ngân hàng .
Thứ hai là NHNN trong quá trình thực hiện chính sách lãi suất cha
linh hoạt. Khi đợc tách ra các ngân hàng trên phải thừa kế các khoản tín
dụng cho các doanh nghiệp quốc doanh vay trong thời gian vẫn trực thuộc
NHNN. Nhng thực chất một phần đợc cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh
không có khả năng thu hồi.Việc trả lãi đã và đang không thực hiện đợc.
Trong khi đó các NHTM vẫn phải trả ít nhất một phần lãi cho khoản nợ của
họ tại NHNN. Mặt khác NHNN quy định một mức tối đa cho tỷ lệ lãi suất
cho vay và huy động mà chênh lệch lãi suất lại quá nhỏ so với rủi ro không
thu hồi dợc nợ, nên NHTM không có khả năng tăng lãi suất tín dụng để bù
đắp thiệt hại từ các khoản nợ khó đòi. Các NHTM không thể sử dụng khoản
tiền gửi có lãi bị thu gửi tại NHTƯ cho chính sách hạn chế tiền mặt. Những
lãi suất tiền gửi này lại thấp hơn lãi suất vay nợ của NHTM tại NHNN.
Trong thời gian qua, các quy định lãi suất đợc áp dụng cho tổng khối lợng đã
có, chứ không chỉ đánh vào khối lợng tín dụng .
Thứ ba là, ngày 25/2/1999, NHNN đã có quyết định số 64 và
65/1999/QĐ - NHNN vè việc công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị tr-
ờng ngoại tệ liên ngân hàng của đồng Việt Nam đối với đồng đô-la Mỹ thay
cho việc công bố tỷ giá chính thức và cho phép các tổ chức tín dụng kinh
doanh ngoại tệ, cho phép xác định tỷ giá giao dịch tối đa không quá 0,1% so
với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng. Quyết
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét