Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [6], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002)
[8] cho biết, sán dây thường gặp ở gà gồm các loài chính: Cotugnia digonopor,
Davainea proglottina, R. tetragona, R. echinobothrida, R. cesticillus. Trong đó,
có 3 loài nhiễm phổ biến ở gà là: R. tetragona, R. echinobothrida, R. cesticillus
Theo Lê Đức Kỷ (1984) [5], bệnh sán dây gà gây nhiều tác hại, tuổi nào
cũng có thể mắc nhiều loài sán, gây tác hại nhất là 2 loài: Davainea
proglottina, R. echinobothrida
Kết quả mổ khám của Nguyễn Hồng Cường và CS (1999) [2], gà thuộc
khu vực xung quanh thành phố Hà Nội nhiễm 3 loài sán dây: R. tetragona, R.
echinobothrida, R. cesticillus
Nguyễn Thị Lê (1996) [11] cho biết, gà ở nước ta nhiễm các loài sán
dây là: Cotugnia digonopora, Davainea proglottina, R. tetragona, R.
echinobothrida, R. penetrans, R. cesticillus, R. macassariensis, R. tinguiana,
R. peradenica nova, R. georgiensis, R. peradenica, R. volzi
Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [9], thành phần sán dây ký sinh ở gà gồm:
Giống Loài
Davainea Branchard, 1891 Davainea proglottina (Davane,1860)
Cotugnia Diamare, 1893 Cotugnia digonopora (Pasquale, 1890)
Raillietina Fuhrmann, 1920
R. tetragona(Molin, 1858)
R. echinobothrida (Megnin, 1880)
R. penetrans (Barzynska, 1880)
R. cesticillus (Molin, 1858)
Echinolepis Spassky et Spaskaja, 1954 Echinolepis cariona (Magalhaes, 1898)
Microsomacanthus Lopez -Neyra, 1942 Microsomacanthus (Joyeux et Baer, 1935)
Staphylepis Spassky et Oschmarin,1954 Staphylepis cantaniana (Polonio, 1960)
Oraentolepis Spassky et Jurpalova, 1964 Orientolepis exigura (Yoshida, 1910)
Amoebotaenia Cohn, 1900 Amoebotania cuneata (Linstow, 1872)
5
2.1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo các loài sán dây gây bệnh
* Đặc điểm chung của các loài sán dây
Theo Phan Thế Việt và CS (1977) [27], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4],
Nguyễn Thị Lê và CS (1996) [11], sán dây có cơ thể dạng dải băng, dẹp theo
hướng lưng bụng. Cơ thể gồm có đầu (Scolex), cổ (Neck), chuỗi đốt (Strobila)
bao gồm nhiều đốt riêng biệt. Chỉ có một số ít đại diện của lớp là cơ thể không
phân đốt. Cơ thể sán được bao bọc bởi lớp cutin, dưới lớp cơ ngoài gồm những
tế bào tầng dưới biểu bì và những lớp cơ vòng, cơ dọc, phần trong cơ thể chứa
đầy nhu mô. Ở giai đoạn trưởng thành sán sống chủ yếu trong ruột của tất cả các
lớp động vật có xương sống. Trong ruột hoàn toàn không có ấu trùng của sán
dây. Theo mô tả của các tác giả cấu tạo của sán dây bao gồm:
Đầu: Dùng để bám vào thành ruột của vật chủ nên có những hình dạng,
kích thước và cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường nhỏ hơn
1mm, tuy nhiên cũng có loài đầu dài tới vài mm. Các cơ quan bám: nằm ở
trên đầu bao gồm rãnh bám, mồm ngoạm, giác bám và vòi có móc bám. Móc
đôi khi còn có ở rãnh bám, mồm ngoạm và trên đầu.
Rãnh bám: Là cơ quan có cấu tạo đơn giản gồm hai khe bám ở phía
lưng và phía bụng của đầu, ít khi có một hoặc bốn khe bám.
Mồm ngoạm: Có hình dạng đa dạng hơn, đây là những cơ quan bám có
sự phát triển riêng biệt, phân bố theo kiểu chéo chữ thập ở phía bụng và phía
lưng bề mặt đầu.
Giác bám: Có cấu tạo giống như nửa hình cầu, thành cơ cấu tạo phức tạp,
giác bám thường ở bề mặt của đầu và thường có bốn giác bám. Giác bám có gai
nhỏ và móc phân bố thành một số hàng trên thành cơ như ở các giống
Raillietina. Giác bám đặc trưng cho các đại diện của bộ Cyclophylidea. Trên
thành của giác bám đôi khi còn có những núm đặc biệt (Schistometra conoidea)
Vòi: Thường ở đỉnh đầu, có cấu tạo cơ, có thể nhô cao trong bao vòi với
sự hoạt động của những cơ đặc biệt. Vòi thường có móc. Móc có hình một
hoặc hai hàng
Sau đầu là phần cổ, đây là phần hẹp có vai trò quan trọng trong việc
hình thành các đốt mới. Kích thước của cổ khác nhau tuỳ loài. Ở một số loài
cổ có sự thay đổi do sự co lại của cơ. Các đốt non được hình thành ở khoảng
6
giữa cổ và những đốt ở phía dưới nó, những đốt già bị đẩy lùi về phía dưới.
Vì vậy những đốt non nhất nằm ở phía đầu, còn lại những đốt già nhất nằm ở
tận cùng của chuỗi đốt.
Chuỗi đốt: Bao gồm các đốt sán, có từ một vài đốt đến hàng nghìn đốt.
Chiều dài của chuỗi đốt thay đổi từ vài milimet đến vài trăm milimet. Các đốt
thường có hình dạng và kích thước khác nhau, phụ thuộc vào sự sinh trưởng của
đốt sán và chúng còn thay đổi ngay ở cả các cá thể trong một loài. Những đốt
sán thường có dạng bốn góc. Ở một số loài chiều rộng của đốt sán lớn hơn chiều
dài, một số loài khác thì ngược lại. Sự tương quan giữa chiều rộng và chiều dài
của đốt thường phụ thuộc vào sự kéo dài về phía này hay phía khác của đốt.
Chiều dài của sán dây dao động từ 0,5mm - 25m. Chiều dài của sán dây
ký sinh ở gia cầm từ 1,5 - 500mm. Nội quan gồm có hệ thần kinh, hệ bài tiết
và hệ sinh dục, không có hệ tiêu hoá.
Hệ thần kinh: Ở sán dây hệ thần kinh kém phát triển gồm có hạch thần
kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó các dây chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát
triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và nối với nhau bởi các cầu nối ngang.
Hệ bài tiết: Sán dây bài tiết theo kiểu nguyên đơn thận. Gồm có bốn
ống chính chạy dọc cơ thể trong đó hai ống mặt lưng và hai ống mặt bụng,
chúng nối với nhau ở phần đầu. Ngoài ra, ở mỗi đốt các ống trái và phải nối
với nhau bằng các cầu nối ngang.
Trong các đốt chứa cơ quan sinh dục phát triển ở các giai đoạn khác
nhau. Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính. Trong mỗi đốt trưởng thành
thường có một hoặc hai hệ sinh dục (mỗi hệ sinh dục gồm có một cơ quan
sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái). Sự phát triển của hệ sinh dục theo
một thứ tự nhất định. Các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó
hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ
tinh, hệ sinh dục đực teo dần, còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già trứng
chứa đầy trong tử cung.
Hệ sinh dục đực: Gồm tinh hoàn, các ống dẫn và các tuyến sinh dục. Số
lượng tinh hoàn trong mỗi đốt có từ một đến hàng trăm và đây cũng là dấu
hiệu để phân loại mỗi loài. Từ tinh hoàn có nhiều ống thoát tinh nhỏ đi ra và
hợp lại với nhau thành ống dẫn tinh, ống này đổ vào các cơ quan giao phối là
7
lông gai. Lông gai nằm trong nang lông gai. Phần cuối ống dẫn tinh có thể
phình ra gọi là túi tinh. Nếu túi tinh ở ngoài nang lông gai gọi là túi tinh
ngoài, còn ở trong lông gai thì gọi là túi tinh trong. Lông gai dùng để đưa vào
lỗ sinh dục cái khi giao phối. Nang lông gai và lông gai ở mỗi loài có hình
dạng, kích thước và cấu tạo khác nhau. Đôi khi trong xoang sinh dục ngay
cạnh lỗ lông gai còn có một hoặc hai thể Furhmann (sacculus accesorius).
Hệ sinh dục cái: Có cấu tạo phức tạp hơn gồm có buồng trứng (Ovari),
noãn hoàng (Vitelline), tử cung (Uterus) và các tuyến phụ. Trong mỗi hệ sinh
dục hay mỗi buồng trứng thường có hai thuỳ, ít khi có một thuỳ. Các thuỳ này
có cấu tạo hình khối, hình ống hoặc hình cành. Ở Cyclophyllidea các tế bào
trứng có giai đoạn phát triển đồng nhất. Buồng trứng nằm trong nhu mô ở
giữa đốt hoặc phía dưới đốt sán bề mặt bụng, ở những đốt có hai hệ sinh dục
thì cả hai buồng trứng nằm ở hai bên bờ của chuỗi đốt. Ống dẫn trứng đi ra từ
buồng trứng, ống này đưa những tế bào già vào cơ quan Ootyp, sau khi chúng
được bảo vệ trong cơ quan trứng gọi là Ovicaot. Từ Ootyp trứng được tạo
thành với sự tham gia của các tuyến Melis, tuyến noãn hoàng và tinh dịch.
Tuyến noãn hoàng: Có cấu tạo khác nhau, ở Cyclophyllidea chỉ có một
noãn hoàng và nó nằm ngay dưới buồng trứng. Nhiều loài sán dây khác noãn
hoàng gồm nhiều thể, các thể bao gồm nhiều các tế bào noãn hoàng, trong
huyết tương của tế bào có nhiều khối màu tối và vàng khúc sạ ánh sáng tạo
thành những quả cầu “noãn hoàng”, nhưng ống noãn hoàng nhỏ từ mỗi phía
của đốt đổ vào hai ống lớn hơn, sau hợp thành một ống, tận cùng của ống
phình rộng tạo thành tuyến noãn hoàng đổ vào Ootyp.
Thể Melis: Đổ vào Ootyp có chức năng tạo vỏ trứng.
Âm đạo: Có dạng một cái ống, phần đầu là lỗ sinh dục cái, phần cuối là
túi tinh chứa tinh nằm gần Ootyp, cạnh buồng trứng. Phần đầu của âm đạo
thường nằm dưới lông gai, ít khi ở trên. Sau khi thụ tinh và chứa đầy tinh dịch
trong túi chứa tinh thì lỗ âm đạo teo lại.
Tử cung (uterus): Có cấu tạo khác nhau ở các loài khác nhau. Ở nhiều
loài sán dây tử cung kín, có nghĩa là thiếu lỗ tử cung đặc trưng
(Cyclophyllidea), tử cung là ống ngang với những nhánh bên. Nhưng tử cung
của sán dây có thể dạng túi, dạng cành và cả dạng nang riêng biệt chứa từ một
8
đến vài trứng (Daivaneidea). Trứng của sán dây có cấu tạo đa dạng, có một
hoặc hai vỏ, ấu trùng trong trứng của phân lớp Eucestoda có 6 móc. Ở những
sán dây này trứng được thải ra ngoài tuỳ theo mức độ hình thành của trứng.
Tử cung chứa đầy trứng trong đốt già và mỗi đốt thực chất biến thành một cái
túi chứa trứng. Trứng được chui ra ngoài bằng cách nứt thành cơ thể của đốt.
Quá trình này thường thực hiện ở môi trường ngoài nơi mà các đốt sán dây
già được thải ra cùng với phân vật chủ.
Ấu trùng: Bộ Cyclophyllidea có ấu trùng là Cyssticercoid. Đây là bào
nang có hai vỏ bao gồm cơ quan bám và tuyến đuôi (Ceromera) với ba đôi
móc bào thai. Sự hình thành Cysticercoid do sự kéo dài của Oncoxphera, xuất
hiện xoang cơ thể và bốn giác bám, vòi thô sơ. Sau đó phần sau hẹp lại, dài ra,
nối với đường tạo thành xoang và ở đây hình thành nang. Phần trước của cơ
thể có mầm mống của giác bám và vòi, kéo dài tới phần sau của nang. Bằng
cách đó hình thành xoang hai vỏ, vỏ ngoài là phần sau của cơ thể, còn vỏ
trong là phần trước của cơ thể (Đặng Ngọc Thanh và CS, 2003) [17].
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], ấu trùng của các loài sán
dây gây bệnh ở vật nuôi bao gồm:
- Cysticercus: Là một bọc hình tròn hoặc hình bầu dục, có màng mỏng
bọc ngoài là tổ chức liên kết, bên trong có nước trong suốt và một đầu sán
màu trắng dính với màng trong (đầu sán có 4 giác bám, một số có móc nhỏ).
Thí dụ: Cysticercus cellulosae, Cystycercus bovis, Cyscercus tenuicollis.
- Coenrus: Hình tròn hoặc bầu dục, trong có nước và rất nhiều đầu sán
bám ở màng sinh sản (có tới 300 đầu sán). Thí dụ: Coenrus cebralis ký sinh ở
não cừu.
- Echinococcus: Có thể to bằng hạt đậu đến quả bưởi, trong bọc chứa
nhiều nước trong suốt, bên ngoài là lớp kitin dầy, trong cùng là lớp mô sinh
sản. Từ lớp này sinh ra nhiều bọc con, các bọc con này sinh ra các bọc bên
trong chứa nhiều đầu sán. Đầu sán phần lớn rời khỏi mô và rơi vào trong
nước. Đặc điểm của ấu trùng này là trong bọc cò bọc con, và nhiều đầu sán.
Các dạng ấu trùng trên đều là ấu trùng của sán dây thuộc bộ
Cyclophyllidea do trứng có 6 móc phát triển thành.
9
* Đặc điểm sinh học của một số loài sán dây ký sinh ở gà
Sán dây chia làm hai phân lớp: Cestoda và Eucestoda. Ở gia cầm Việt
Nam gặp các đại diện của phân lớp Eucestoda. Phân lớp này gồm hai bộ:
Pseudophyllidea, nhưng thường gặp sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea, bộ này
có 7 phân bộ. Các loài sán dây ở nước ta thuộc 3 phân bộ, trong đó có 3 giống
thuộc phân bộ Davaineata (Nguyễn Thị Lê và CS, 1996) [11].
- Loài Raillietina Echinobothrida: Ký sinh ở ruột non của các loài vật
chủ là gà nhà, gà rừng, gà tây, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Galliffomes). Loài này được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam,
các nhà khoa học đã tìm thấy sán dây Raillietina Echinobothrida ở các tỉnh:
Lai Châu, Nghĩa Lộ, Tuyên Quang, Vĩnh Phú và nhiều nơi khác ở miền Bắc
Việt Nam (Nguyễn Thị Kỳ, 1994) [4].
Hình thái: Theo mô tả của Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6], sán
dài 250 mm, rộng 1 - 4 mm. Đầu có 4 giác bám hơi tròn, đường kính đầu 0,09
- 0,20 mm. Trên giác bám có 8 -10 hàng móc nhỏ. Bờ giác có nhiều gai nhỏ,
có hình dạng và kích thước khác nhau. Nang lông gai cơ hoá mạnh, gồm phần
cổ hình trụ, phần thân hình trứng. Trên mõm có 200 móc xếp thành 2 hàng.
Lỗ sinh dục đơn tính nằm ở giữa cạnh sườn đốt sán. Có 20 - 30 tinh hoàn ở
giữa đốt, túi dương vật tương đối to. Buồng trứng ở giữa đốt sán. Tử cung có
nhiều túi trứng, mỗi túi có 6 - 12 trứng. Đường kính trứng 0,025 - 0,050 mm.
- Loài Raillietina tetragona: Theo Nguyễn Thị Lê (1996) [11] loài
Raillietina tetragona ký sinh ở ruột non của các loài vật chủ là gà nhà, gà tây,
gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes).
Hình thái: Dài 250 mm, rộng 1 - 4 mm. Đầu hơi tròn, đường kính đầu
0,175 - 0,350 mm. Trên mõm có 90 -130 móc xếp thành 2 -3 hàng. Có 4 giác
bám hình trứng tròn, trên giác có 8 - 12 hàng móc. Lỗ sinh dục nằm ở một
bên đốt sán. Có 18 - 23 tinh hoàn ở giữa đốt sán.
Nguyễn Thị Kim Lan và CS (1999) [6] cho biết: Loài Raillietina
tetragona túi dương vật hình lê. Buồng trứng ở phần sau đốt sán.Tử cung của
các đốt sán trưởng thành nằm trong lớp vỏ có nhiều túi trứng, mỗi túi có 6 - 12
trứng. Đường kính trứng 0,025 - 0,05 mm; ấu trùng có đường kính 10 -14 µ.
10
- Loài Raillietina cesticillus: Ký sinh ở ruột non các loài vật chủ là gà
nhà, gà rừng gà tây, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà (Gallifomes).
Hình thái: Dài 90 - 100 mm, rộng 1,5 - 3 mm. Đỉnh đầu có mõm có
hình thái rất đặc biệt như một chiếc gối hình bán cầu, có 400 - 500 móc xếp
thành 2 hàng. Trên giác bám không có móc. Có 15 -30 tinh hoàn. Lỗ sinh
dục ở một bên đốt. Tử cung ở tất cả các đốt trưởng thành cũng nằm ở trong
lớp vỏ, tử cung có nhiều túi trứng, mỗi túi chỉ có một trứng. Đường kính
trứng 0,05 -0,09 mm.
Nguyễn Thị Kỳ (1994) [4], Phạm Sỹ Lăng và CS (2002) [8] cũng cho
biết loài này có vòi hình nấm đặc trưng, rộng 0,252 - 0,321 mm, lỗ sinh dục
không nằm về một phía, có ở tất cả các đốt và nằm so le nhau. Tử cung ở tất
cả các đốt trưởng thành nằm trong lớp vỏ.
Hình 2.1. Loài Raillietina cesticillus
- Loài R. vozli: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà rừng, gà nhà.
Hình thái: Sán dài 40 - 60 mm, rộng 2mm. Đầu dài 0,3 mm; rộng 0,045
mm. Giác bám có đường kính 0,18 mm, có nhiều gai, phần trên giác có 12-14
hàng móc, còn phần ở dưới chỉ có 4 - 6 hàng. Gai phần ngoài giác bám lớn
hơn phần trong (0,013 và 0,0018 mm), vòi nhỏ, chiều ngang 0,088 mm; có
hai vòng móc gồm 240 móc. Có 30 tinh hoàn phân bố rộng ở hai bên và phía
dưới tuyến sinh dục cái. Nang lông gai dài 0,2 mm. Noãn hoàng rộng 0,1 mm.
Tử cung chia thành các nang, mỗi nang chứa 8- 12 trứng.
- Loài Raillietina georgiensis: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 150 - 380 mm, rộng tối đa 3,5 mm. Có 220 - 268 móc,
vòi dài 0,017 - 0,023 mm xếp thành hai hàng. Giác bám dài 0,110 - 0,179 mm,
rộng 0,080 - 0,151 mm, có gai xếp trong 8 - 10 hàng, gai dài 0,008 - 0,013mm.
11
Cổ dài 1,3 - 3,2 mm. Lỗ sinh dục ở một phía ít khi xen kẽ, nhưng không đều ở
1/3 phía trên bờ bên đốt sán. Có 23 - 28 tinh hoàn hơi tròn, có đường kính
0,065 mm. Tinh hoàn xếp thành nhóm ở hai bên tuyến sinh dục cái. Ống dẫn
tinh uốn khúc nhiều, nang lông gai dài 0,096 - 0,143 mm, rộng 0,055 - 0,096
mm. Buồng trứng phân thành 3 - 10 thuỳ. Noãn hoàng không phân thuỳ nằm ở
dưới buồng trứng, dài 0,220 - 0, 248 mm, rộng 0,082 - 0,110 mm. Đốt già có
80 - 130 nang trứng, mỗi nang chứa 8 - 10 trứng.
- Loài Raillietina penetrans: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà.
Hình thái: Chuỗi đốt dài 115 mm, rộng nhất 2,45 mm. Mốc trên vòi
phân bố thành hai hàng, có khoảng 200 móc, chiều dài móc hàng trên 0,017
mm, hàng dưới 0,014 mm, trên giác bám có 8 hàng gai, dài nhất 0,014 mm.
Trong đốt lưỡng tính có 26 - 35 tinh hoàn, có kích thước 0,078×0,045 mm,
phần lớn tinh hoàn nằm ở phía không có lỗ. Nang lông gai có thành cơ dày
0,017 mm và có kích thước 0,19 x 0,08 mm.
- Loài Raillietina penetrans nova: Ký sinh ở ruột non của vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 225 - 270 mm, rộng 1,12 - 2,5 mm, kích thước đầu
0,330 x 0,315 - 0,390 x 0,335 mm. Vòi có gần 240 móc xếp thành hai hàng.
Có 22 - 24 tinh hoàn, có đường kính 0,045 - 0,055 mm, đa số nằm ở bên
không có lỗ. Nang lông gai có chiều dài 0,115 mm, rộng 0,050 mm. Thành cơ
của nang lông gai mỏng có thể thấy rõ ống dẫn tinh ở nang lông gai. Buồng
trứng gồm nhiều thuỳ hình giọt nước nằm ở giữa đốt. Noãn hoàng hình hạt
đỗ. Những đốt già chứa 65 - 90 nang trứng, mỗi nang chứa 5 - 11 trứng.
Đường kính trứng 0,045 mm.
- Loài Raillietina peradenica: Ký sinh ở ruột vật chủ là gà nhà.
Hình thái: Sán dài 190 - 250 mm, rộng nhất 2,5 mm. Đầu rộng 0,56 -
0,64 mm. Vòi có 180 - 200 hàng móc, móc dài 0,008 mm xếp thành hai hàng.
Giác bám hình bầu dục có kích thước 0,119 - 0,149 x 0,134 - 0,178 mm. Bờ
giác bám có 7- 10 hàng gai, các hàng gai dài 0,010 - 0,014 mm, cổ ngắn và
rộng 0,238 - 0,270 mm. Lỗ sinh dục ở một phía nhưng đôi khi xen kẽ không
đều, mở ra ở giữa bờ đốt. Tinh hoàn hình bầu dục có đường kính 0,059 - 0,-74
mm. Có 17- 21 tinh hoàn nằm ở xung quanh buồng trứng và noãn hoàng, 7-
12
10 tinh hoàn ở phía có lỗ và 10 m- 14 ở phía không lỗ. Nang lông gai rất rộng
có hình hạt đỗ dài 0,312 mm, rộng 0,105 mm, dài tới ống bài tiết. Lông gai
không có gai, ống dẫn tinh tạo thành nhiều nếp uốn khúc ở đáy nang lông gai.
Âm đạo gồm hai phần: Phần rộng ở phía có lỗ coi như túi chứa tinh, phần còn
lại có dạng ống hẹp. Buồng trứng chia thuỳ nằm ở giữa đốt, noãn hoàng
không lớn lắm và nằm dưới buồng trứng hơi lệch về phía có lỗ. Có 80 - 90
nang trứng hình tròn hay hình bầu dục, mỗi nang trứng chứa 5 - 10 trứng.
- Loài Raillietina macasarensis: Ký sinh ở vật chủ là gà nhà, gà rừng.
Hình thái: Sán dài 47 - 72 mm, đường kính đầu 0,21 - 0,25 mm. Giác
bám hình bầu dục, có gai, kích thước 0,096 - 0,100 x 0,075 - 0,085 mm, gai
xếp thành các hàng xoáy chôn ốc đều nhau, mỗi hàng có 16 gai. Các gai ở gần
hàng ngoài dài 0,005 mm và giảm dần ở các hàng trong. Vòi hình hạt đậu,
đường kính 0,075 - 0,090 mm. Có hai hàng móc, móc hàng trên dài 0,084
mm, hàng dưới dài 0,072 mm. Chuỗi đốt có chiều rộng lớn hơn chiều dài. Có
20 - 28 tinh hoàn hình tròn hoặc hình bầu dục, kích thước 0,045 - 0,060 x
0,042 - 0,045 mm, tinh hoàn thường phân bố ở hai bên tuyến sinh dục cái, ống
dẫn tinh uốn khúc. Nang lông gai hình quả lê, kích thước 0,075 - 0,200 x 0,15
- 0,50 mm. Noãn hoàng nằm ở giữa và dưới buồng trứng, có kích thước 0,033
- 0,100 x 0,075 - 0,150 mm.
- Loài Raillietina tinguiana: Ký sinh ở ruột của vật chủ là gà nhà, gà rừng.
Hình thái: Sán dài 80 -95 mm, rộng nhất 3mm. Đường kính vòi 0,106
mm, vòi có gần 300 móc xếp thành hai hàng, móc dài 0,008 - 0,010 mm. Giác
bám tròn có kích thước 0.103 - 0,108 x 0,105 - 0,108 mm, có nhiều gai xếp
thành 15 hàng. Trên bề mặt của đầu có rất nhiều gai nhỏ. Lỗ sinh dục ở một
phía, có túi tinh trong và 30 - 35 tinh hoàn phân bố xung quanh tuyến sinh
dục cái. Ống dẫn tinh uốn khúc nhiều. Buồng trứng có hai thuỳ, mỗi thuỳ
phân thành nhiều thuỳ nhỏ trong các đốt sinh dục, buồng trứng rộng 0,330 -
0,375 mm. Noãn nang có thuỳ nhỏ, tử cung phân thành nhiều nang trứng.
- Loài Cotugnia digonopora: Ký sinh ở vật chủ là gà.
Hình thái: Sán dài 22 - 107 mm, rộng 1- 4 mm. Kích thước đầu 0,66 x
1,07 mm, kích thước vòi 1,12 x 1,40 mm. Giác bám có kích thước 0,36 x 0,25
mm. Cổ ngắn. Cơ quan sinh dục kép, có gần 100 tinh hoàn. Nang lông gai dài
13
0,3 mm, có các gai nhỏ. Buồng trứng phân thuỳ, trứng hình bầu dục có kích
thước 0,036 - 0,058 mm.
- Loài Davainea proglottina: Ký sinh ở ruột non các loài vật chủ là gà
nhà, gà tây, gà rừng, chim bồ câu và các loài chim khác thuộc bộ gà
(Gallifomes).
Hình thái: Dài 0,5 - 3 mm, rộng 0,18 - 0,6 mm, chỉ có 4 - 9 đốt. đầu nhỏ
trên mõm có 60 - 90 móc. Trên giác bám có móc. Lỗ sinh dục ở nửa trước đốt
sán. Túi dương vật bằng 2/3 chiều ngang đốt sán. Có 12 - 15 tinh hoàn, xếp
hai hàng ở nửa sau đốt sán. Trứng sán rải rác trong đốt. Đường kính trứng
0,035 - 0,04 mm (Nguyễn Thị Kim Lan và CS, 1999) [6].
* Chu kỳ sinh học của một số loài sán ký sinh ở gà
Trong chu kỳ sinh học của sán dây thường có 2 lần thay đổi vật chủ (vật
chủ trung gian và vật chủ cuối cùng). Sán dây muốn hoàn thành chu kỳ sinh
học của mình cần phải có vật chủ trung gian, vì vậy gà chỉ nhiễm bệnh khi
nuốt phải vật chủ trung gian mang ấu trùng gây bệnh.
Vật chủ trung gian của sán dây gà thường là động vật không xương
sống bao gồm: côn trùng, nhuyễn thể… Đốt sán già rụng theo phân ra ngoài,
đốt sán phân huỷ giả phóng trứng sán, vật chủ trung gian ăn phải trứng sán, ở
ruột vật chủ trung gian vỏ trứng phân huỷ qua các giai đoạn phát triển thành
ấu trùng có sức gây nhiễm được gọi là Cysticercoid. Gà ăn vật chủ trung gian
có mang ấu trùng này vào đường tiêu hoá, vật chủ trung gian bị phân huỷ, ấu
trùng phát triển thành sán trưởng thành. Như vậy gà là vật chủ cuối cùng, giúp
sán dây hoàn thành chu kỳ sinh học.
Các loài sán dây khác nhau có vật chủ trung gian khác nhau:
Loài R. echinobothrida: Chu kỳ sinh học có sự tham gia của vật chủ
trung gian là loài kiến Pheidole pallidula, ruồi nhà Musca domestica
(Akhumiam. X, 1952; Phan Thế Việt và CS, 1977). Các đốt sán già chứa nhiều
trứng rụng theo phân ra ngoài. Đốt vỡ ra giải phóng nhiều trứng sán,kiến là vật
chủ trung gian nuốt trứng sán vào cơ thể, trứng nở ra ấu trùng 6 móc, tiếp tục
phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm. Gà ăn kiến có ấu trùng, ấu trùng vào ruột
non ký sinh và phát triển thành sán trưởng thành, hoàn thành chu kỳ sinh học.
Loài R. cesticillus: Vật chủ trung gian là 19 loài bọ hung (Coleoptere)
thuộc các giống Geotrupes, Carabus, Broscus, Panagatus, Ophnus, Tenebrria,
Aphodius, Plastysm và Oryctes. Các loài bọ hung này ăn phải trứng sán dây
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét