Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ CÁC CÔNG CỤ GIẢI QUYẾT

TIỂU LUẬN NHÓM
RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ CÁC
CÔNG CỤ GIẢI QUYẾT
Giảng viên hướng dẫn : Hoàng Thọ Phú
Lớp : K09402B
Nhóm thực hiện : Nhóm Lucky Money
1. Võ Khánh Ngọc K094020326
2. Nguyễn Hữu Minh Phúc K094020339
3. Lê Thị Thảo Trang K094020368
4. Dương Nguyễn Thùy Trang K094020370
5. Phạm Thị Thùy Trang K094020371
6. Nguyễn Hoàng Tuấn K094020379
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2011
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
Bảng phân công công việc
Họ tên MSSV Công việc
1. Võ Khánh Ngọc K094020326 Rủi ro đạo đức trong thị trường
tài chính và Thuyết trình
2. Nguyễn Hữu Minh Phúc K094020339 Rủi ro đạo đức trong hợp đồng
chủ sở hữu
3. Lê Thị Thảo Trang K094020368 Rủi ro đạo đức trong thị trường
tài chính và làm powerpoint
4. Dương Nguyễn Thùy Trang K094020370 Rủi ro đạo đức trong hợp đồng
chủ sở hữu và làm word
5. Phạm Thị Thùy Trang K094020371 Rủi ro đạo đức trong hợp đồng
chủ sở hữu và Thuyết trình
6. Nguyễn Hoàng Tuấn K094020379 Rủi ro đạo đức trong thị trường
tài chính và làm word
- 2 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU 5
PHẦN NỘI DUNG 6
1. Thuật ngữ ‘rủi ro đạo đức’: 6
1.1 Khái niệm: 6
1.2 Các dạng của rủi ro đạo đức: 6
1.3 Nguyên nhân nảy sinh : 7
2. Rủi ro đạo đức trong hợp đồng chủ sở hữu – “ vấn đề người chủ và người
quản lý”: 7
2.1 Nêu vấn đề: 7
2.2 Ví dụ: 7
2.3 Các công cụ giải quyết vấn đề ngươi chủ - người quản lý: 10
2.3.1 Sản xuất thông tin – theo dõi: 10
2.3.2 Sự điều hành của nhà nước: 10
2.3.3 Trung gian tài chính: 11
2.3.4 Các hợp đồng vay nợ: 11
3. Rủi ro đ ạo đ ức tron g lĩnh vực tài chính: 12
3.1 Rủi ro xuất phát từ phía người cho vay: 12
3.1.1 Đặt vấn đề: 12
3.1.2 Giải pháp: 12
3.2 Rủi ro đạo đức xuất phát từ phía người vay v

n (trong thị
- 3 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
trường nợ): 13
3.2.1 Đặt vấn đề: 13
3.2.2 Công cụ điều chỉnh: 14
3.2.2.1 Vốn chủ sở hữu: 14
3.2.2.2 Theo dõi và các điều khoản bắt buộc 14
3.2.2.3 Trung gian tài chính: 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
- 4 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
Lời mở đầu
Như chúng ta đã biết, ngày nay tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính đã
và đang trở thành một trong những thành phần kinh tế quan trọng của thị trường
kinh tế nước ta. Là sinh viên khối ngành kinh tế, việc tìm hiểu và nắm bắt những
nguyên lý cơ bản trong tài chính tiền tệ, tìm hiểu các mối quan hệ, các yếu tố tác
động đến thị trường tài chính là một trong những bước cần thiết bổ trợ sinh viên
trong việc tư duy phân tích tài chính. Trong các yếu tố tác động đến thị trường tài
chính đó, có một yếu tố hết sức quan trọng đó chính là “Rủi ro đạo đức”. Vậy câu
hỏi đặt ra là rủi ro đạo đức xuất phát từ đâu? Những biểu hiện của rủi ro đạo đức
trên các lĩnh vực tài chính và cách khắc phục nó ra sao?
Để trả lời các câu hỏi đó, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực
hiện đề tài “Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết”. Qua đề tài này, chúng tôi
mong muốn cung cấp cho các bạn một cái nhìn tổng quan về khía cạnh rủi ro đạo
đức, và ngoài ra còn nhằm khẳng định tầm quan trọng của bộ môn lý thuyết tài
chính tiền tệ.
- 5 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
Phần nội dung
1. Thuật ngữ “rủi ro đạo đức”:
1.1 Khái niệm:
Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và chính trị được sử dụng để chỉ
rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái. Rủi ro đạo đức là một
loại thất bại thị trường xảy ra trong môi trường thông tin phi đối xứng.
Theo Dembe và Boden (2000) thì thuật ngữ moral hazard đươc các nhà cung cấp
dịch vụ bảo hiểm Anh quốc đặt ra từ thế kỉ XVII. Vào thập niên 60 của thế kỉ XX,
các nhà kinh tế học người Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng thường xuyên thuật ngữ này để
chỉ tình trạng kém hiệu suất nảy sinh từ loại rủi ro như trên. Sau này, thuật ngữ
moral hazard được sử dụng trong bối cảnh nhấn mạnh các yếu tố tâm lý hơn. Ở
nhiều quốc gia, người ta chấp nhận gọi thuật ngữ này bằng tên gốc tiếng Anh của nó
hoặc phiên âm từ moral hazard sang tiếng nước đó ( như người Nhật phiên âm
thành "moraru hazādo"). Ở Việt Nam, moral hazard được dịch thành nhiều tên gọi
khác nhau như “ rủi ro đạo đức”, “ nguy cơ đạo đức”, “Hiểm nguy đạo đức”, “suy
thoái đạo đức”… hoặc cũng có thể giữ nguyên là “moral hazard”.
Rủi ro đạo đức là rủi ro nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được
tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành
động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể
làm hại cho bên kém thông tin.
Hành vi tha hóa theo hướng như thế của bên có ưu thế thông tin được bên kém ưu
thế thông tin hơn cho là không đứng đắn, là một thứ nguy hiểm, rủi ro cho mình.
1.2 Các dạng của rủi ro đạo đức:
Rủi ro đạo đức có thường xuyên được nhắc đến với 2 dạng sau:
o Rủi ro đạo đức trong thị trường tài chính: là rủi ro người vay có những hành
động mà người cho vay không mong muốn vì chúng làm cho khoản vay ít có
khả năng được hoàn lại.
o Rủi ro đạo đức trong hợp đồng chủ sở hữu – “Vấn đề người chủ và người
quản lý” ( principal – agent prolem): bên ủy thác ( người chủ) là bên kém ưu
- 6 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
thế thông tin, còn bên được ủy thác ( nhà quản lý) là bên có ưu thế thông tin.
Bên ủy thác không giám sát được đầy đủ hành vi của bên nhận ủy thác và
bên nhận ủy thác hiểu được điều này. Tình trạng này khiến cho bên được ủy
thác tự nhiên nảy sinh động cơ hành động theo hướng mà bên ủy thác cho là
không phù hợp.
1.3 Nguyên nhân nảy sinh :
Như đã nói ở trên, nguyên nhân chính dẫn đến xảy ra rủi ro đạo đức vẫn là do vấn
đề thông tin không đầy đủ, không cân xứng. Thiếu những thông tin chính xác về
khả năng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, cũng như uy tín, tính trung thực
của bên đối tác.
Bên cạnh đó còn do pháp luật vẫn còn nhiều khe hở cho các cá nhân, tổ chức lợi
dụng, tiến hành lừa đảo. Nguyên nhân sâu xa vẫn do lòng tham của con người.
2. Rủi ro đạo đức trong hợp đồng chủ sở hữu – “ vấn đề người chủ và người
quản lý”:
2.1 Nêu vấn đề:
Các hợp đồng chủ sở hữu, hay các cổ phần chủ sở hữu của các công ty ( cổ phiếu),
là quyền được chia lợi nhuận và tài sản của doanh nghiệp. Đây là đối tượng đạc
trưng cho dạng rủi ro đạo đức được gọi là vấn đề của người chủ và người quản lý
khi nhà quản lý chỉ sở hữu một phần nhỏ tài sản của công ty mà anh ta đang phục
vụ và các cổ đông là chủ sở hữu phần lớn cổ phần của công ty.
Sự phân biệt và tách rời quyền chủ sở hữu và sự quản lý doanh nghiệp làm cho các
nhà quản lý có thể hành động theo lợi ích riêng của mình chứ không theo lợi ích của
các cổ đông chủ sở hữu bởi vì các nhà quản lý doanh nhigiehieeph ít có động lực tối
đa hóa lợi nhuận hơn các chủ sở hữu.
2.2 Ví dụ:
Giả sử một nhà hàng cần có số vốn ban đầu là 100 triệu. Anh A chỉ có 10 triệu nên
anh ta đề nghị bạn đồng chủ sở hữu, do vậy bạn mua số cổ phần còn lại của nhà
hàng với 90 triệu.
- 7 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
90% nhà hàng do bạn sở hữu
10% nhà hàng do anh A sở hữu
Từ đó, có 3 trường hợp có thể xảy ra:
Qua các trường hợp trên ta đều thấy rõ rằng anh A là người có ưu thế thông tin hơn,
vì vậy lợi ích của bạn hoàn toàn phụ thuộc vào đạo đức của anh A, rủi ro đạo đức dễ
xảy ra.
Một ví dụ xa hơn về vấn đề người chủ sở hữu và người quản lý có thể kể là các nhà
quản lý hay giám đốc xây dựng nhưng văn phòng xa hoa cho bản thân hay đi những
xe hơi sang trọng đắt tiền. Ngoài việc tìm kiếm lợi ích cho cá nhân, những người
quản lý có thể thực hiện theo đuổi các chiến lược hoạt động của công ty (mua bán,
sát nhập các công ty khác) hay các hoạt động đầu tư, ủng hộ các chính trị gia…
mang lại cho họ quyền lực và ảnh hưởng cá nhân nhưng không mang lại lợi nhuận
cho công ty ( hay cho lợi ích của cổ đông).
Một ví dụ thực tế cho vấn đề người chủ sở hữu và người quản lý là vụ việc
Vinashin:
Năm 2007, khi Vinashin được thí điểm mô hình tập đoàn, theo đó, chức vị cao nhất
là chủ tịch hội đồng quản trị, và tiếp sau đó là tổng giám đốc. Trải qua quá trình
- 8 -
A thật sự cố
gắng làm việc,
quản lý tốt làm cho
nhà hàng đông
khách.
Sau khi chi trả
mọi chi phí ( kể cả
lương cho A), nhà
hàng sẽ có lợi
nhuận 500 triệu
mỗi năm, trong đó
A sẽ được 10% (50
triệu) và bạn sẽ
được hưởng 90%
(450 triệu)
A lười biếng không phục vụ
khách hàng, dùng 500 triệu thu nhập
mua đồ đạc sang trọng trang bị cho
văn phòng riêng của anh ta hay bỏ đi
chơi trong khi đang làm việc  Nhà
hàng sẽ không còn có thu nhập nữa.
Nếu A cảm thấy 50 triệu chưa
xứng đáng với những nỗ lực của
mình  mất động lực làm việc  ta
có một giám đốc lười biếng và một
nhà hàng ế ẩm.
Vì vậy, hoạt động của A có thể
làm bạn mất 450 triệu ( khoản lợi
nhuận đáng có nếu bạn có một quản
lý giỏi).
A hoàn toàn
không thật thà. Vì
nhà hàng của bạn có
lãi nên A có động lực
bỏ túi riêng 500 triệu
và báo cho bạn nhà
hàng hoàn toàn
không có lợi nhuận.
A hiện có lợi nhuận
500 triệu ( ngoài
lương) trong khi bạn
không có gì cả.
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
phân bổ chức vị thì Vinashin có 6 tổng giám đốc, nhưng thực chất người có quyền
lực nhất trong đó là ông Phạm Thanh Bình, còn các vị kìa chỉ là phó tổng.
Chính do sự tập quyền, mà khi ông Bình ký kết nhiều quyết định đầu tư mà nhiều
thành viên hội đồng quan trị, tổng giám độc … không hề hay biết. Điển hình nhất là
việc mua tàu Hoa Sen với trị giá hơn 1000 tỷ đồng, được ông Bình ký mà không hề
thông qua hội đồng định giá, thậm chí đến khi mua về rồi thì các cán bộ mới biết.
Theo nguồn tin từ các nhân viên Vinashin, không chỉ vụ việc tàu Hoa Sen, ông bình
còn bổ nhiệm con, em vào các vị trí chủ chốt đại diện phần vốn nhà nước trái quy
định của pháp luật. Mà cụ thể là con trai ông Bình là Phạm Bình Minh (sinh năm
1980) khi chưa tới 27 tuổi và chưa đủ chuyên môn đã được bổ nhiệm làm viện phó
Viện Khoa học công nghệ tàu thủy. Việc bổ nhiệm này, ông Bình không hề xin ý
kiến ban thường vụ Đảng ủy tập đoàn và không có nghị quyết của HĐQT.
Từ năm 2007, ông Phạm Bình Minh liên tiếp được bổ nhiệm, có năm như 2009
được bổ nhiệm tới ba lần: ngày 27-3-2009 bổ nhiệm làm chủ tịch HĐQT Công ty
TNHH Tư vấn thiết kế công nghiệp. Ngày 16-7 được bổ nhiệm kiêm chức giám đốc
phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Viện Khoa học công nghệ tàu thủy. Ngày 22-12
được bổ nhiệm kiêm phó tổng giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Dung
Quất - một doanh nghiệp được đầu tư lớn để trở thành nhà máy đóng tàu lớn nhất
Đông Nam Á.
Em trai ông Bình là Phạm Thanh Phong cũng được bổ nhiệm làm phó tổng giám
đốc Công ty đầu tư xây dựng Vinashin rồi đại diện phần vốn công ty này, giữ chức
chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc Công ty cổ phần Vinashin – tư vấn đầu tư. Em vợ
ông Bình cũng được giữ một chức vụ đầy quyền lực khác là trưởng ban kinh doanh
đối ngoại của tập đoàn.
Chính vì những hành động vụ lợi cá nhân này mà bây giờ khi vụ việc Vinashin vỡ
nợ ra thì người gánh khoản nợ đó không ai khác chính là Chính phủ Việt Nam với
nguồn thu chính là từ các khoản thu thuế từ người dân. Như vậy nói cách khác thì
chính người dân Việt Nam sẽ gánh chịu khoản nợ này vì sự ham muốn lợi ích cá
nhân của nhà quản trị Vinashin.
Vấn đề người chủ sở hữu và quản lý có thể không nảy sinh nếu những người chủ sở
hữu của công ty được đầy đủ thông tin về hoạt động của các nhà quản trị gia và
những định hướng của họ để có thể ngăn ngừa được những chi phí tốn kém không
cần thiết hay các vụ lừa đảo gian dối. Vấn đề người chủ và người quản lý là một ví
dụ đặc trưng của rủi ro đạo đức có thể nảy sinh do những người quản trị như anh A
nói trên có được nhiều thông tin hơn những cổ đông của công ty có được – đây là
vấn đề chênh lệch thông tin. Vấn đề người chủ sở hữu và quản lý có thể không nảy
sinh nếu chỉ mình anh A là chủ sở hữu của nhà hàng và không có sự phân chia giữa
chủ sở hữu và quản lý. Như vậy. với việc làm chăm chỉ và tránh những khoản đầu
tư không hiệu quả sẽ mang lại cho anh A một khoản lợi 500 triệu – một phần
thưởng xứng đáng nếu anh A là một nhà quản lý giỏi.
- 9 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
2.3 Các công cụ giải quyết vấn đề ngươi chủ - người quản lý:
2.3.1 Sản xuất thông tin – theo dõi
Sự chênh lệch thông tin gây ra rủi ro, một phương pháp để hạn chế rủi ro là sản xuất
thông tin, theo dõi sát hoạt động của công ty, thường xuyên kiểm toán, kiểm tra hoạt
động quản lý. Một trong các phương pháp được đề ra là các công ty độc lập thu
thập và sản xuất thông tin, sau đó cung cấp cho người cần ( miễn phí hoặc có phí).
Ví dụ như ở Mỹ, các công ty như S&P, Moody’s và Value Line thu thập thông tin
từ các bảng cân đối kế toán hoạt động đầu và đầu tư của các công ty, xuất bản các
thông tin này hay bán cho người cần.
Khuyết điểm của công cụ này là tốn kém tiền bạc và thời gian. Chi phí tốn kém làm
cho các hợp đồng chủ sở hữu không được hấp dẫn .
Công cụ sản xuất thông tin – theo dõi không chỉ bị khuyết điểm trên mà nó còn bị
vấn đề “ người đi trốn vé” ( free-rider problem) chi phối. Vấn đề “ người đi trốn vé”
là vấn để nảy sinh khi có những người không hề chi trả tiền cho thông tin lại có
được các ưu thế của thông tin do người khác đã chi trả, nó làm hạn chế sự theo dõi,
giảm lượng thông tin từ đó dẫn đến sự gia tăng rủi ro đạo đức. Nếu bạn biết rằng
các cổ đông khác đang chi trả cho việc theo dõi hoạt động của công ty mà bạn cũng
có cổ phiếu, bạn có thể đi trốn vé từ những hoạt động của người khác  Bạn dùng
tiền tiết kiệm từ việc thuê người theo dõi để làm việc khác  Bạn làm được thì
người khác cũng có thể làm như thế  Cuối cùng không ai chi ra đồng nào để theo
dõi hoạt động công ty.
2.3.2 Sự điều hành của nhà nước:
Chính phủ đưa ra các điều luật bắt buộc các công ty tuân thủ theo quy định và
nguyên tắc kế toán làm cho việc xác định lợi nhuận được dễ dàng hơn. Tại Mỹ, Ủy
ban chứng khoán SEC là cơ quan điều hành của chính phủ có quyền hạn yêu cầu
các công ty bán ra chứng khoán trên thị trường phải tuân thủ các tiêu chuẩn nguyên
tắc kế toán và công khai các thông tin về doanh thu, tài sản và thu nhập.
Chính phủ đặt ra các điều luật trừng phạt những người lừa đảo hay có hành động
giấu diếm và trộm cắp lợi nhuận.
Khuyến điểm: chỉ có tác động một phần, bởi vì khi vi phạm, các nhà quản lý không
trung thực luôn tìm cách để che dấu hành vi của mình, làm cho việc phát hiện và
chứng minh sự gian dối càng khó.
- 10 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
2.3.3 Trung gian tài chính:
Các trung gian tài chính có khả năng hạn chế vấn đề “ người trốn vé” nên làm giảm
được rủi ro đạo đức.
Các trung gian tài chính này sẽ thu thập vốn từ các khách hàng và đối tác của họ và
cho các doanh nghiệp trong các lĩnh vực mới có lợi nhuận cao, đặc biệt là các doanh
nghiệp ứng dụng khoa học kĩ thuật và phát minh mới. Đổi lại các trung gian tài
chính sẽ phần sở hữu trong doanh nghiệp mới này. Bởi đây là lĩnh vực có lợi nhuận
cao nên đồng nghĩa mức rủi ro cũng sẽ cao, nên các trung gian tài chính thường yêu
cầu nhân viên của họ có mặt trong ban quản trị của công ty để giảm thiểu rủi ro đạo
đức. Khi doanh nghiệp này ăn nên làm ra và có nhu cầu mở rộng thì cổ phần của họ
sẽ chỉ bán cho các trung gian tài chính. Các nhà đầu tư khác không có cổ phần thì
không thể trốn chi phí kiểm soát kiểm tra mà trung gian tài chính đã bỏ ra để giảm
thiểu rủi ro, do đó sẽ không có chuyện ai cũng nghĩ rằng đã có người bỏ ra khoản
chi phí đó mà cuối cùng không ai chịu chi ra phí cho hoạt động kiểm tra kiểm soát
dẫn đến nguy cơ rủi ro đạo đức cao. Trung gian tài chính nhận được trọn vẹn lợi
nhuận từ hoạt động đầu tư của mình, có động lực tiếp tục tham gia và giảm thiểu
vấn đề rủi ro đạo đức.
2.3.4 Các hợp đồng vay nợ:
Các hợp đồng chủ sở hữu gắng liền quyền lợi của những người chủ sở hữu vào hoạt
động của các công ty. Nếu công ty ăn nên làm ra thì họ có lãi, còn ngược lại nếu
công ty phá sản thì họ bị thua lỗ. Vì thế hợp đồng chủ sở hữu thường kém hấp dẫn,
tạo ra nhu cầu của các nhà đầu tư muốn có một hợp đồng được thiết kế sao cho rủi
ro đạo đức chỉ xảy ra trong một vài điều kiện đặc trưng để có thể giảm nhu cầu theo
dõi hoạt động quản lý của công ty.
Hợp đồng nợ đươc thực hiện đúng các quan điểm trên vì nó là thỏa thuận của người
vay đồng ý chi trả cho người cho vay khoản tiền cố định trong khoảng thời gian cụ
thể. Khi công ty có lợi nhuận, người cho vay nhận được khoảng chi trả theo hợp
đồng và anh ta không cần biết chính xác về khoản lợi nhuận đó. Nếu các nhà quản
trị cố tình giấu bớt lợi nhuận, họ cũng không quan tâm, họ chỉ quan tâm đến các
khoản chi trả đủ và đúng hạn. Chỉ khi nào công ty phá sản và không còn khả năng
chi trả thì người cho vay mới cần những biện pháp can thiệp kiểm tra tình hình hoạt
động và lợi nhuận của công ty để có khoản chi phần công bằng.
Việc không cần phải thường xuyên theo dõi hoạt động của doanh nghiệp làm tiết
kiệm thời gian và tiền bạc đã giải thích vì sao các hợp đồng nợ được sử sụng nhiều
hơn các hợp đồng chủ sở hữu đề huy động vốn.
- 11 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
3. Rủi ro đ ạo đ ức tron g lĩnh vực tài chính:
3.1 Rủi ro xuất phát từ phía người cho vay
3.1.1 Đặt vấn đề
o Vì lợi ích cá nhân hay của một tập thể nào đó mà nhà quản lí tạo điểu kiện
loại rủi ro đạo đức phát triển. Vì mối quan hệ lợi ích với khách hàng mà nhà
quản lý chỉ đạo cho các cán bộ tín dụng thông qua các khách hàng vay vốn
khi chưa đủ điều kiện hoặc khi đã thẩm định là duyệt không cho vay.
o Việc sử dụng, bố trí không hợp lí các các bộ công nhân viên, đánh giá không
đúng phẩm chất đạo đức, trình độ nghề nghiệp dẫn đến sự tha hóa đạo đức
hoặc thiếu chuyên môn gây tổn hại cho người đi vay.
o Rủi ro đạo đức xuất phát từ những người trực tiếp làm công tác tín dụng.
Trong cơ chế tín dụng hiện thời, đã có nhiều cải cách để từ đó người đi vay
có thế dễ dang vay vốn và kinh doanh đạt hiệu quả. Tuy nhiên, không phải
dự án nào cũng thành công và đem lại lợi nhuận cho khách hàng, mà không
thành công thì khả năng trả nợ bị hạn chế, dẫn đến quá hạn trả nợ hoặc mất
khả năng chi trả. Ở đây, nguyên nhân của rủi ro một phần là do trình độ của
người làm công tác tín dụng khi thẩm định chưa đến nơi đến chốn, hồ sơ sơ
sài và thiếu kiểm soát; mặt khác là do sự tha hóa về đạo đức nghề nghiệp,
thiếu phẩm chất, trách nhiệm, vì tư lợi cả nhân mà thông qua các phương án
không khả thi hoặc có thể tiên đoán là kém hiệu quả.
3.1.2 Giải pháp
Thứ nhất, các ngân hàng phải coi trọng công tác tín dụng cũng như trình độ,
phẩm chất của các cán bộ thực hiện công tác này. Chính sách tín dụng đưa
ra cần chi tiết nhưng phải rõ ràng mạch lạc, tránh gây hiểu lầm nơi khách
hàng, tao kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng; phải phân rõ chức năng nhiệm vụ cho
từng bộ phận liên quan đến công tác cho vay, thu hồi nợ và thâm chí là xử
lý nợ; thực hiện đúng các quy trình nghiệp vụ…
Thứ hai, luôn coi trong công tác kiểm tra, kiểm soát toàn diện; có kiểm tra, kiếm
soát tốt mới hạn chế được rủi ro không đáng có xảy ra.
Thứ ba, luôn nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị rủi ro tín đúng. Việc bổ nhiệm
các cán bộ vào các chức vụ của ngân hàng từ cao đến thấp đều phải khách quan,
đúng quy trình, lựa chọn người có năng lực và phẩm giá, cũng như năng lực thực tế
tốt để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng.
- 12 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
Thứ tư, coi trọng công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ: từ nghiệp vụ chuyên môn tới
phẩm chất đạo đức của người cán b

. Bản thân các cán bộ liên quan luôn phải nêu
cao tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.
Thứ năm, ngân hàng nhà nước cần tạo ra được các hàng rào pháp lý chặt chẽ, cụ thể
để tránh các sai phạm, cũng như bắt buộc các tổ chức tín dụng phải cung cấp các
thông tin cần thiết cho Trung tâm Thông tin tín dụng ngân hàng nhà nước. Từ đó
trung tâm này có thể thông tin thương xuyên cũng như cảnh báo ngân hàng thương
mại về các khách hàng vay vốn có vấn đề biết và phòng ngừa.
3.2 Rủi ro đạo đức xuất phát từ phía người vay v

n (trong thị trường
nợ)
3.2.1 Đặt vấn đề
Rủi ro đạo đức trong lĩnh vực tài chính không phải chỉ do cán bộ quản lý, cán bộ
nhân viên tín dụng của ngân hàng mà còn do một số đối tượng là những người vay
vốn. Có thể thấy rõ rủi ro tín dụng xuất phát từ phía người vay vốn chia làm hai
loại đối tượng:
(1) Khi đi vay vốn, người vay phải thực hiện một cam kết trong việc sử dụng nguồn
vốn đó vào việc gì, hoặc chí ít là thế hiện kế hoạch sử dụng nguồn vốn đó, nhưng
một số người đi vay lại không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết của mình, đầu tư vào
lĩnh vực khác gây thua lỗ rồi rơi vào tính trạng khó hoàn trả nợ.
Ví dụ: Bà B vay của ngân hàng X một số tiền mà theo cam kết bà sẽ dùng nó để mở
rộng hoạt động kinh doanh của mình. Nhưng bà B lại mang số tiền đó cho công ty
của anh C vay để lấy lời. Nếu công ty anh C ăn nên làm ra thì dĩ nhiên bà B sẽ có
được một khoản lời và dư sức trả nợ ngân hàng. Nhưng nếu anh C làm ăn thua lỗ,
không có khả năng hoàn trả lại sô tiền đã vay từ bà C. Lúc này, chắc chắn bà B sẽ
khó hoàn trả khoản nợ đối với ngân hàng. Lúc này, ngân hàng gặp rủi ro trong việc
thu hồi khoản nợ đã cho bà B vay.
(2) Cũng không ít khách hàng để đạt được m

c tiêu vay vốn của mình đã giả tạo
hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo nhằm vay v

n ngân hàng mà trên thực tế không
có kh

năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết.
Giả sử một doanh nghiệp đang có dư nợ cũ tại ngân hàng với lãi suất cao và trong
điều kiện khó khăn hiện nay khiến khoản nợ trên có nguy cơ trở thành nợ xấu. Với
chính sách cho vay đảo nợ, doanh nghiệp chỉ cần vay khoản nợ mới để trả khoản nợ
cũ và như thế khiến cho người ta dễ đánh giá rằng doanh nghiệp đã trả được tốt
khoản nợ vay, còn ngân hàng thì không những thu hồi được vốn vay mà nợ xấu
cũng không có. Nhưng nếu doanh nghiệp dùng số tiền đó để trả nợ, thì lấy đâu ra
- 13 -
Rủi ro đạo đức và các công cụ giải quyết Nhóm Lucky Money
nguồn vốn để đầu tư và hoạt động, nguồn vốn vay không sinh lợi thì ngày qua ngày
khoản nợ sẽ càng gia tăng, rủi ro thu hồi vốn của ngân hàng khác trong thị trường
tài chính là rất cao; doanh nghiệp cũng không thể vay hết ngân hàng này đến ngân
hàng khác để trả nợ vì gặp khó khăn trong việc thẩm định, chứng minh tính minh
bạch, hiệu quả trong hoạt động của công ty mình. Nếu doanh nghiệp vay được một
khoản vay lớn để trả nợ và còn dư lại để đầu tư, thì lĩnh vực mà họ đầu tư phải có tỷ
suất lợi nhuận lớn thì mới có thể bù đắp được khoản nợ đó, trong tình hình kinh tế
hiện nay thì rất khó kiếm được một lĩnh vực như thế, mà nếu có thì cũng phải chịu
một rủi ro cao vì mức lợi nhuận rất hấp dẫn.
3.2.2 Công cụ điều chỉnh
3.2.2.1 Vốn chủ sở hữu
Là hiệu số của tài sản công ty (tài sản sở hữu hay cho vay) trừ đi nghĩa vụ (các
khoản nợ) có thể thực hiện vai trò như khoản thế chấp. Hệ số vốn chủ sở hữu càng
cao, các khoản nợ của DN càng được đảm bảo khả năng thanh toán và dĩ nhiên tài
chính của DN cũng nằm trong giới hạn an toàn, DN sẽ dễ dàng đi vay hơn.
Doanh nghiệp trong bài là một công ty chế biến gỗ phục vụ thị trường nội địa- công
ty Sophy, gặp khó khăn trong việc vay vốn từ Ngân hàng, mặc dù đã có chính sách
kích cầu và hỗ trợ lãi suất 4%. Nguyên nhân là, trong khi các nhà xuất khẩu đồ gỗ
chỉ cần dùng hợp đồng ngoại thương để thế chấp vay vốn hoặc chiết khấu vay vốn
từ bộ chứng từ hàng xuất khẩu với ngân hàng, thì Sophy lại khó khăn do chỉ làm
hàng nội địa.Lâu nay, Sophy vay vốn ngân hàng dựa theo hạn mức tín dụng doanh
nghiệp mà ngân hàng cung cấp, như nhà máy của Sophy có trị giá 40 tỉ đồng thì hạn
mức tín dụng tối đa được 30% và thời hạn vay mỗi lần được 6 tháng.Vậy nên, đối
với những doanh nghiệp nhỏ như Sophy, vấn đề vốn chủ sở hữu đã khiến doanh
nghiệp này khó được ngân hàng chấp nhận do sợ rủi ro.
3.2.2.2 Theo dõi và các điều khoản bắt buộc
Các điều khoản bắt buộc được đặt ra để giảm rủi ro đạo đức hoặc bằng cách hạn
chế các hoạt động không mong muốn và khuyến khích các hoạt động tốt mà người
cho vay mong đợi. Có các dạng điều khoản thường được áp dụng trong thực tế như
sau:
o Các điều khoản ngăn không cho người đi vay tham gia các dự án đầu tư rủi
ro cao. Các điều khoản này có thể là người đi vay chỉ được sử dụng số tiền
vay vào một số hoạt động cụ thể như mua trang thiệt bị máy móc. Cũng có
những dạng điều khoản nghiêm cấm không cho tham gia vào một số hoạt
động kinh doanh cụ thể, ví dụ như mua lại các doanh nghiệp khác.
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét