Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Để hiểu đợc ý nghĩa lời nói của Ănghen, trớc hết chúng ta phải tìm hiểu
thế nào là lợi ích kinh tế, nó chi phối đến cá nhân cũng nh xã hội nh thế
nào.
Chúng ta biết rằng, trong mỗi hình thái kinh tế xã hội đều bao gồm một
hệ thống phức tạp các lợi ích. Trong hệ thống lợi ích phức tạp đó, lợi ích
kinh tế có ý nghĩa quyết định nhất. Bởi vì, "lợi ích kinh tế là những quan
hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu, những động cơ khách quan về sự hoạt
động của các giai cấp, những nhóm xã hội hay của từng ngời lao động
riêng biệt, do quan hệ sản xuất quyết định", (định nghĩa lợi ích kinh tế,
giáo trình kinh tế chính trị).
Là hình thức biểu hiện của quan hệ kinh tế và quy luật kinh tế trong
một phơng thức sản xuất nhất định, lợi ích kinh tế bao giờ cũng mang tính
chất lịch sử và giai cấp. Tơng ứng với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất, mức độ thoả mãn các nhu cầu về lợi ích của từng giai cấp trong xã
hội là khác nhau, do tính chất của quan hệ sản xuất quyết định. Tính giai
cấp ảnh hởng rất sâu sắc và chi phối mạnh mẽ tới hệ thống lợi ích trong xã
hội.
Ví dụ, trong xã hội t bản chủ nghĩa, các nhà t bản sở hữu t liệu sản xuất và
bóc lột công nhân làm thuê để tối đa hoá lợi ích của mình. Do vậy, mâu
thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các giai cấp luôn tồn tại trong xã hội t bản.
Với tính cách là hình thức biểu hiện của quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế
có vai trò là động lực mạnh mẽ đối với nền kinh tế. Sở dĩ chủ nghĩa t bản
vẫn tồn tại và phát triển đợc là do các nhà t bản luôn có những cải tiến
trong kỹ thuật, thay đổi hình thức bóc lột và vẫn thu đợc lợi nhuận cao.
Và, ở một mức độ sâu hơn, tức là khi phơng thức sản xuất còn là bình th-
ờng đối với xã hội thì nói chung ngời ta vẫn bằng lòng với sự phân phối đó
của xã hội. Và chỉ khi nào phơng thức sản xuất đó đã đi vào giai đoạn
thoái trào của nó, khi mà nó không còn những điều kiện để tồn tại; chỉ khi
đó, sự phân phối trở nên ngày càng chênh lệch thêm, bất công ngày càng
sâu sắc thêm. Khi đó ngời ta mới cần đến một cuộc cách mạng để xoá bỏ
phơng thức sản xuất đã lỗi thời này để xây dựng nên một phơng thức sản
xuất mới cao hơn. Chủ nghĩa t bản cũng vậy, càng phát triển, mâu thuẫn về
lợi ích giữa các giai cấp trong lòng nó càng sâu sắc mà bản thân nó không
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thể nào khắc phục nổi. Do đó, tất yếu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa
t bản để nhờng chỗ cho một hình thái xã hội mới cao hơn, xã hội xã hội
chủ nghĩa.
Đối với nền kinh tế thị trờng trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay, do
sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế khác nhau dựa trên nhiều hình thức
sở hữu về t liệu sản xuất tạo nên tính phức tạp trong cơ cấu xã hội, giai cấp
cũng nh trong quan hệ lợi ích kinh tế. Do vậy, quan hệ phân phối muốn
phát huy đợc vai trò động lực của mình thì phải khuyến khích đợc các giai
cấp, tầng lớp hoạt động tích cực, tức là phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho
họ. Tuy nhiên, các giai cấp, tầng lớp phải thống nhất ở lợi ích chung của
toàn xã hội. Có nh vậy, xã hội mới phát triển lành mạnh theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
3. Cơ sở kinh tế của sự phân phối:
Khi tìm hiểu cơ sở kinh tế của sự phân phối, chúng ta nghĩ ngay đến
việc phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cá nhân mỗi thành viên trong xã
hội. Tuy nhiên, phân phối bao hàm cả phân phối cho sản xuất đợc xem nh
là yếu tố của sản xuất còn phân phối cho tiêu dùng xem là kết quả của quá
trình sản xuất. Để quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng đợc diễn
ra không ngừng, tổng sản phẩm sản xuất ra không thể phân phối ngay cho
mọi ngời. Do vậy, mọi ý kiến cho rằng sản phẩm sản xuất ra phải chia đều
cho mọi ngời là phi thực tế và không thể thực hiện đợc, có chăng là trong
xã hội nguyên thuỷ. Bởi vì, trong một xã hội phát triển với nền sản xuất
lớn thì một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội phải dùng để bù đắp những
khoản chi phí, dự phòng, tích luỹ phần còn lại mới dành cho phân phối
tiêu dùng. Theo C.Mác, phần trích ra đó bao gồm:
Phần bù đắp những t liệu sản xuất đã hao phí;
Phần để mở rộng sản xuất;
Lập quỹ tự trữ đề phòng khi tai nạn bất ngờ.
Chúng ta thừa nhận phần trích này là một điều tất yếu về kinh tế, vì khôi
phục và mở rộng sản xuất là để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã
hội. Phần còn lại của tổng sản phẩm xã hội sẽ dành cho tiêu dùng. Nhng
trớc khi phân phối trực tiếp cho cá nhân, còn phải trích một phần để:
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chi phí về quản lý hành chính và tổ chức, bảo vệ Tổ quốc.
Mở rộng các sự nghiệp phúc lợi công cộng và cứu tế xã hội.
Sau đó, phần còn lại sẽ đợc trực tiếp phân phối cho tiêu dùng cá nhân
của những ngời làm việc trong nền sản xuất xã hội phù hợp với số lợng và
chất lợng của lao động cũng nh số lợng vốn và tài sản mà họ đã đóng góp
vào quá trình sản xuất.
II/ Phân phối d ới chủ nghĩa t bản:
Để so sánh chủ nghĩa t bản với chủ nghĩa xã hội và để hiểu rõ hơn về
phân phối, chúng ta hãy xem xét sự phân phối trong xã hội t bản chủ
nghĩa.
Nh chúng ta đã biết, phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa dựa trên cơ
sở chế độ t hữu về t liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê nên tơng
ứng với nó là hình thức phân phối bất bình đẳng.
Xét về sự phân phối cho sản xuất, dới chủ nghĩa t bản mọi t liệu sản
xuất đều thuộc về nhà t bản còn ngời lao động là những ngời vô sản.
Sự phân phối nh vậy về t liệu sản xuất tất yếu dẫn đến những bất công
trong sự phân phối về sản phẩm của lao động.
Ngời công nhân tham gia vào quá trình sản xuất dới hình thái lao động làm
thuê nên sẽ tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm lao động dới hình
thái tiền lơng (tiền công lao động).
Tiền lơng là tiền công mà t bản trả cho công nhân khi anh ta làm việc cho
nhà t bản trong một khoảng thời gian nhất định để sản xuất ra một lợng
hàng hoá nào đó.
Thực chất của tiền lơng dới chủ nghĩa t bản là giá trị hay giá cả của sức
lao động. Nhng nó lại biểu hiện ra thành giá trị hay giá cả của lao động.
Nhà t bản có hai hình thức tính tiền lơng cơ bản là tiền lơng theo sản
phẩm và tiền lơng tính theo thời gian. Tuy nhiên, đó chỉ là những cách
khác nhau của nhà t bản để chiếm đoạt giá trị thặng d của ngời công nhân
lao động nhng lại để họ tởng rằng lao động của mình đã đợc trả công đầy
đủ. Thực chất, ngời công nhân càng lao động khẩn trơng hơn, họ càng bị
bóc lột nhiều hơn. Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa tiền lơng danh nghĩa và
tiền lơng thực tế cũng là một nguyên nhân làm giảm mức sống thực tế của
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ngời lao động. Từ đó, sự khác biệt về mức sống giữa các giai cấp trong xã
hội càng lớn và mâu thuẫn xã hội càng gay gắt.
Đối lập với giai cấp công nhân là giai cấp t sản. Sở hữu mọi t liệu sản
xuất, giai cấp t sản đợc phân phối sản phẩm lao động dới hình thái lợi
nhuận, lợi tức hoặc địa tô.
1/ Lợi nhuận và lợi tức:
Hình thái này của giá trị thặng d là một quan hệ chi phối việc tái sản
xuất. Tuy vậy, t bản không đợc tiêu dùng tự do phần lợi nhuận của mình
bởi nhu cầu dự trữ và tái sản xuất mở rộng. Không biểu hiện thành nhân tố
chủ yếu của phân phối sản phẩm , lợi nhuận biểu hiện thành một nhân tố
chủ yếu của bản thân việc sản xuất sản phẩm, thành một nhân tố phân phối
t bản và lao động trong các ngành sản xuất khác nhau. Việc phân chia lợi
nhuận thành lợi nhuận doanh nghiệp và lợi tức biểu hiện ra là việc phân
phối cùng một khoản thu nhập. Tuy nhiên, sự phân chia đó phát sinh từ sự
phát triển của chủ nghĩa t bản với t cách là giá trị sáng tạo ra giá trị và giá
trị thặng d. Tức là nó phát sinh từ hình thái xã hội nhất định. Từ đó, nó
sinh ra các hình thức tín dụng và ngân hàng, các hình thái của sản xuất.
Trong lợi tức, cái gọi là hình thái của phân phối gia nhập vào giá cả và đ-
ợc xem nh là nhân tố của sản xuất.
2/ Địa tô:
Với địa tô, đó là phần nhận đợc của nhà t bản sở hữu ruộng đất nông
nghiệp khi cho thuê ruộng đất. Mặc dù không đảm nhiệm một chức năng
nào trong quá trình sản xuất nhng do dới chủ nghĩa t bản, ruộng đất đợc
kinh doanh theo kiểu t bản chủ nghĩa nên địa tô đợc xem nh là thu nhập
của địa chủ trong phân phối tổng sản phẩm sản xuất ra. Đồng thời, nó
cũng là đặc thù của phơng thức sản xuất theo kiểu t bản.
*Nhận xét chung:
Nghiên cứu quan hệ phân phối trong chủ nghĩa t bản, chúng ta thấy đó
thực sự là một hình thức phân phối bất bình đẳng do quan hệ giai cấp tạo
nên. Sự bất bình đẳng này có nguyên nhân từ bản thân quan hệ sản xuất t
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
bản chủ nghĩa và do đó không thể khắc phục đợc. Những cải thiện trong
phúc lợi xã hội của chủ nghĩa t bản giai đoạn hiện nay chỉ là một thủ đoạn
của giai cấp thống trị nhằm xoa dịu mâu thuẫn xã hội; làm cho công nhân
và nhân dân lao động tởng rằng họ đợc xã hội u đãi đầy đủ. Tuy nhiên, lực
lợng sản xuất càng phát triển, tự nó sẽ ý thức đợc sứ mệnh lịch sử của
mình trong việc đập tan quan hệ sản xuất đã lỗi thời và xây dựng nên một
hình thái xã hội mới công bằng hơn.
III/ Q uan hệ phân phối trong chủ nghĩa cộng sản:
Cái mà làm cho ngời ta phân biệt rõ nét nhất giữa các xã hội với nhau đó
là hình thức phân phối của xã hội đó. Ví dụ, trong xã hội nguyên thuỷ,
cuộc sống bầy đàn và sự phân chia sản phẩm lao động bình đẳng là nét đặc
trng tiêu biểu; còn trong xã hội t bản, đó là chế độ t hữu và sự phân hoá
giàu nghèo sâu sắc chính vì vậy mà nhiều nhà kinh tế chính trị cổ điển
nh Ricacdo đã từng coi phân phối là đối tợng duy nhất của kinh tế chính trị
học. Bởi vì, do trực quan họ thấy rằng những hình thái phân phối là biểu
hiện rõ nhất ghi lại các nhân tố của sản xuất trong một xã hội nhất định.
Chủ nghĩa xã hội đối lập mình với chủ nghĩa t bản cũng lấy quan hệ
phân phối làm điểm trọng yếu. Và sau đây, chúng ta hãy cùng nghiên cứu
quan hệ phân phối trong xã hội xã hội chủ nghĩa để thấy đợc sự khác biệt
của nó với chủ nghĩa t bản.
*Các hình thức phân phối trong chủ nghĩa cộng sản:
Chủ nghĩa cộng sản, theo quan điểm của Mác, là hình thái xã hội cao
hơn chủ nghĩa t bản. Tuy nhiên, "đó không phải là một xã hội đã phát triển
trên những cơ sở riêng của nó, mà trái lại, là một xã hội cộng sản vừa mới
từ xã hội t bản thoát ra; vì vậy, về mọi mặt kinh tế, đạo đức, trí tuệ, xã hội
ấy còn mang những dấu vết của xã hội cũ, xã hội đã đẻ ra nó",Các Mác.
Mác gọi đó là giai đoạn đầu hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản.
Trong xã hội này, t liệu sản xuất không còn là của riêng cá nhân nữa
mà thuộc về toàn thể xã hội. Mỗi thành viên khi tham gia vào lao động sản
xuất sẽ đợc trả công tơng xứng với phần mình đã cống hiến cho xã hội, sau
khi đã khấu trừ đi số lợng lao động góp vào quỹ chung của xã hội. Nh vậy
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thì giữa các cá nhân sẽ không ngang nhau do sự khác biệt về trình độ, sức
khoẻ quyết định.
Mác thừa nhận không thể thực hiện đợc công bằng và bình đẳng trong
giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Về mặt của cải, vẫn còn chênh lệch,
mà những chênh lệch này là bất công. Tuy nhiên, sẽ không còn tình trạng
ngời bóc lột ngời vì không còn ai đợc chiếm hữu t liệu sản xuất, đất đai
làm của riêng. Để đạt đợc điều này, vẫn cần có Nhà nớc để vừa bảo vệ chế
độ công hữu về t liệu sản xuất vừa bảo vệ quyền bình đẳng về lao động và
bình đẳng trong việc phân chia các sản phẩm.
Nhà nớc sẽ tiêu vong chừng nào trong xã hội không còn có các giai cấp
mâu thuẫn nhau về lợi ích, tức là không còn có giai cấp nào để trấn áp nữa.
Để Nhà nớc mất hẳn đi phải chờ đến chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn.
Mác nói:" trong giai đoạn cao của xã hội cộng sản, khi mà con ngời
không còn phụ thuộc một cách nô lệ vào sự phân công nữa, và sự đối lập
giữa lao động trí óc với lao động chân tay cũng theo đó mà không còn nữa;
khi mà lao động sẽ không phải chỉ là một phơng tiện để sinh sống nữa, mà
tự nó sẽ biến thành một nhu cầu bậc nhất cho đời sống; khi mà lực lợng
sản xuất cũng đã tăng lên cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân
và tất cả những nguồn tài phú công cộng đều tuôn ra dồi dào, thì chỉ khi đó
ngời ta mới có thể hoàn toàn vợt khỏi giới hạn chật hẹp của pháp quyền t
sản và xã hội mới có thể ghi trên là cờ của mình:"Làm hết năng lực, hởng
theo nhu cầu!".
Theo quan điểm t sản, ngời ta có thể xem chế độ xã hội nh vậy là
"thuần tuý ảo tởng" và chế giễu việc xã hội chủ nghĩa đã hứa cho mỗi công
nhân đợc quyền muốn lấy của xã hội bao nhiêu của cải cũng đợc mà
không cần biết anh ta đã làm gì cho xã hội. Mà thực chất, đây là dự kiến
lôgic của những nhà xã hội chủ nghĩa vĩ đại về một giai đoạn cao của chủ
nghĩa cộng sản sẽ đến, và việc đó lại giả định rằng năng suất lao động lúc
đó sẽ khác năng suất lao động ngày nay, cũng nh sự phát triển hoàn thiện
hơn về năng lực cũng nh phẩm chất của con ngời khi ấy.
Trên đây chúng ta đã phân tích hai giai đoạn của hình thái xã hội
cộng sản đó là xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Và chúng ta phải
phân biệt đợc một cách khoa học sự khác nhau giữa hai giai đoạn này. Để
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
từ đây chúng ta sẽ nghiên cứu về phân phối trong giai đoạn của nớc ta hiện
nay.
Phần II:
vai trò động lực của phân phối trong nền kinh tế
thị trờng ở việt nam.
I/ Quan hệ phân phối trong thời kỳ quá độ ở n ớc ta hiện nay:
Nớc ta chủ trơng xây dựng chủ nghĩa xã hội theo quan điểm của Mác.
Tuy nhiên, để đạt tới chủ nghĩa xã hội là cả một quá trình lâu dài và gian
khó. Nó đòi hỏi chúng ta không chỉ phải nỗ lực rất lớn mà còn cần phải có
đờng lối, chính sách đúng đắn, hiệu quả trong từng giai đoạn đi lên, đặc
biệt là trong thời kỳ quá độ hiện nay. Sự phức tạp của thời kỳ quá độ thể
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hiện ở chỗ tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau, mâu thuẫn nhau về lợi ích. Chính vì vậy mà việc quản lý nền
kinh tế càng trở nên khó khăn hơn.
Để phát triển nền sản xuất xã hội, việc sử dụng các quan hệ phân phối
có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống các quan hệ kinh tế. Bởi vì nh
phần lý luận đã trình bày, chúng ta biết rằng phân phối không chỉ đơn
thuần là một kết quả tiêu cực của sản xuất và trao đổi. Nó cũng có tính độc
lập tơng đối của nó và cũng tác động lại mạnh nh thế đến cả sản xuất lẫn
trao đổi. Vì vậy, nếu biết sử dụng đúng quan hệ phân phối sẽ tạo ra động
lực to lớn không những làm phát triển nền kinh tế mà còn tạo ra đợc sự
công bằng hơn trong xã hội. Tuy nhiên, ta cũng phải rất thận trọng vì nếu
sử dụng không đúng đắn sẽ có thể gây ra những hậu quả nguy hại cho xã
hội, làm ảnh hởng tới con đờng cách mạng của đất nớc.
1/ Phân phối phải đảm bảo nguyên tắc công bằng:
Trong điều kiện của đất nớc ta hiện nay, khi mà nhân dân lao động đã đợc
giải phóng; nó đòi hỏi một sự phân phối công bằng trong xã hội. Tuy vậy,
chúng ta phải hiểu cho thấu đáo thế nào là "phân phối công bằng".
Chủ nghĩa t bản cũng cho rằng sự phân phối hiện nay của họ là "công
bằng". Và trong thực tế, nếu xét trên cơ sở phơng thức sản xuất hiện nay
thì đó chẳng phải là sự phân phối duy nhất "công bằng" hay sao? Do vậy,
khi đả kích chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa t bản đă chế giễu cái sự công bằng
trong xã hội chủ nghĩa, coi đó là một điều không tởng sáo rỗng. Để chứng
minh sự đúng đắn của mình, chúng ta phải quán triệt nội dung t tởng phân
phối công bằng trong xã hội chủ nghĩa.
Có phải phân phối công bằng là mọi ngời đều hởng nh nhau thành quả của
lao động không? Nh vậy thì những ngời không lao động cũng đợc hởng
nh những ngời lao động ? Hay chỉ thuộc về những ngời lao động, thế thì
cái "quyền bình đẳng" của mọi thành viên trong xã hội sẽ ra sao? Chúng ta
phải hiểu rằng cái xã hội mà ta đang xét là xã hội chủ nghĩa nhng không
phải ở giai đoạn cao trên những cơ sở của chính nó, mà là một xã hội vừa
thoát thai từ xã hội t bản; do đó, nó còn mang dấu vết của cái xã hội đã đẻ
ra nó. Với điều kiện xã hội nh vậy thì sự công bằng chỉ nên thực hiện ở
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mức trả đúng, trả đủ cho ngời lao động căn cứ vào sự cống hiến của anh ta
cho xã hội ( sau khi đã trừ đi những khoản chi phí, đóng góp nhất định).
Nh vậy, tính chất công bằng trong phân phối hàm nghĩa tạo ra động lực
để tăng trởng kinh tế chứ không phải là chủ nghĩa bình quân trong phân
phối lợng sản phẩm xã hội tạo ra. Vì thế điều cần ghi nhận ở đây là sự
chênh lệch về phân phối thu nhập không những không phải là bất bình
đẳng mà trái lại, đó là sự bình đẳng, hiểu theo nghĩa là sự hợp lý nhất có
thể.
Tuy nhiên, chúng ta cũng đă từng không hiểu đúng về công bằng nên
đã mắc sai lầm trong phân phối, làm trì trệ nền sản xuất đất nớc. Đó là thời
kỳ kinh tế tập trung bao cấp.
2/Kinh nghiệm trong thời kỳ kinh tế tập trung:
Đây là thời kỳ sau cách mạng thành công, do nóng vội muốn tiến
nhanh lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã mắc sai lầm trong vận dụng
quan hệ phân phối của chủ nghĩa Mác. Trong điều kiện lực lợng sản xuất
yếu kém do nền kinh tế đi lên từ nông nghiệp, tơng ứng với nó là quan hệ
sản xuất cha phát triển, nớc ta thực hiện chế độ công hữu toàn bộ t liệu sản
xuất và tiến hành phân phối theo kiểu "bao cấp"; điều này dẫn tới tình
trạng "bình quân chủ nghĩa" và sản sinh ra hiện tợng trây lời, vô trách
nhiệm của ngời lao động. Bởi vì trong giai đoạn quá độ, lao động cha phải
là "nhu cầu bậc nhất của con ngời". Những nguyên nhân này đẩy xã hội ta
vào tình trạng trì trệ, nghèo nàn, chậm phát triển và khủng hoảng trong
thời kỳ này.
Qua đây ta cũng thấy đợc sức mạnh của quan hệ phân phối ảnh hởng
đến nền kinh tế nh thế nào. Sự vận dụng sai lệch quan hệ này gây ra những
hậu quả thật nghiêm trọng. Tuy nhiên chúng ta xem đây là một sai lầm
khó tránh khỏi khi thực hiện những cải cách lớn nh vậy; đồng thời nó cũng
là bài học kinh nghiệm đắt giá để cho chúng ta thấy đợc vai trò của mỗi
quan hệ kinh tế trong xã hội. Chính từ đây mà chúng ta đã thận trọng hơn
trong việc nghiên cứu những giải pháp cho quan hệ phân phối để từ đó
phát huy đợc sức mạnh to lớn, vai trò động lực của quan hệ phân phối và
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đã mang lại sự phát triển ổn định cho sự phát triển của đất nớc ta đợc nh
ngày nay.
II/ Ph ơng h ớng cơ bản về phân phối trong thời kỳ quá độ:
Trong tình hình khả năng và trình độ sản xuất còn quá thấp, nền kinh tế xã
hội đang vấp phải vô vàn khó khăn, Đảng và nhà nớc ta vẫn khẳng định:
"phân phối phải nhằm ổn định và tiến lên từng bớc cải thiện đời sống vật
chất và văn hoá của nhân dân, phải thể hiện ngay tính u việt của chủ nghĩa
xã hội, cố gắng phấn đấu bảo đảm công bằng và hợp lý".
1/ Phân phối bảo đảm hình thành cơ cấu kinh tế mới:
Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tiểu thủ công
nghiệp yếu kém, quan hệ phân phối phải có nhiệm vụ để hình thành một
cơ cấu kinh tế mới, hiện đại sao cho phát huy đợc mọi tiềm lực kinh tế
trong nớc. Muốn vậy, phân phối phải tập trung đầu t cả chiều rộng lẫn
chiều sâu. Về chiều rộng, quan hệ phân phối mà nớc ta xây dựng cho phép
các hình thức phân phối (phân phối theo lao động; phân phối theo tài sản,
vốn; phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quỹ phúc lợi xã hội)
phát triển bình đẳng với nhau. Tuy nhiên, về mặt chiều sâu, chúng ta đầu t
nhiều hơn cho hình thức phân phối theo lao động để đảm bảo định hớng xã
hội chủ nghĩa. Các hình thức khác vẫn đợc duy trì do nó phù hợp đặc điểm
của thời kỳ quá độ và thực hiện nó cũng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
2/ Kết hợp khuyến khích lợi ích vật chất với giáo dục chính trị trong
phân phối:
Lênin đã chỉ: "phải xây dựng mọi ngành kinh tế quốc dân quan trọng
trên cơ sở sự quan tâm thiết thân của cá nhân". Trớc hết phải biết sử dụng
nguyên tắc lợi ích vật chất để tác động thật tốt. Nguyên tắc đó không chỉ
thể hiện ở chỗ có thu nhập thích đáng với kết quả lao động và hoạt động
kinh doanh mà còn phải thể hiện rõ ở việc tự chịu trách nhiệm vật chất, có
thởng phạt công minh.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét