Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nh đã biết, sở hữu về t liệu sản xuất là hình thái xã hội của sự chiếm hữu
về t liệu sản xuất, một nội dung chủ yếu trong hệ thống sản xuất. Hình thức,
mức độ, quy mô, phạm vi và tính đa dạng của sở hữu không phảI do ý muốn
chủ quan của con ngời quyết định mà là một quá trình lịch sử tự nhiên. Sự xuất
hiện, tồn tại, phát triển và chuyển hoá các hình thức sở hữu về t liệu sản xuất là
do tính chất và trình độ phát triển của một lực lợng sản xuất tơng ứng quyết
định.
Nói cách khác, sự biến đổi của các hình thức sở hữu đợc quyết định bởi
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất. Chính vì thế C.Mac đã dùng quy luật này để lý giảI sự ra đời và phát
triển của 5 phơng thức sản xuất xã hội trong lịch sử và coi phơng thức sản xuất
xã hội là nhân tố có ý nghĩa quyết định.
Với t cách là ngời sáng lập ra trờng phái kinh tế chính trị Mac xit, C.Mac
và F.Angghen không phải chỉ một lần bàn về vấn đề sở hữu. Đặc biệt, trong
tuyên ngôn của Đảng cộng sản, ông đã nhấn mạnh : Chủ nghĩa cộng sản
không xoá bỏ của ai quyền chiếm hữu các của cải mà chỉ xoá bỏ việc dùng
những của cải ấy để nô dịch lao động của ngời khác . Tuyên ngôn đã chỉ ra
rằng,chế độ sở hữu không cố định mà luôn luôn vận động và phát triển, đã trải
qua những thay đổi liên tiếp, những cải biến liên tiếp trong lịch sử. Mỗi một
hình tháI kinh tế xã hội có một chế độ sở hữu cơ bản đặc trng cho hình thái
kinh tế xã hội đó. Hình thái kinh tế xã hội tiếp theo xoá bỏ chế độ sở hữu cơ
bản của xã hội trớc đó và thiết lập một chế độ sở hữu mới phù hợp với hình tháI
kinh tế xã hội mơí.
Để nhấn mạnh quan điểm về sự biến đổi của các hình thức sở hữu nh là
quá trình lịch sử tự nhiên. F.Angghen khuyên rằng: không thể xoá bỏ ngay t
hữu và thiết lập ngay chế độ công hữu về t liệu sản xuất.
2. Các hình thức sở hữu trong lịch sử.
Sở hữu không phải cái bất biến, cố định. Nó luôn luôn vận động, biến đổi
một cách khách quan theo sự phát triển của lực lợng sản xuất. Loài ngời đã lần
lợt trảI qua 5 hình thái kinh tế xã hội. Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội có
nhiều hình thức sở hữu, trong đó bao giờ cũng có một hình thức sở hữu đặc tr-
ng.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
a. Hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thuỷ.
Hình thức sở hữu đầu tiên là sở hữu bộ lạc, phù hợp với giai đoạn cha
phát triển của sản xuất. Khi sức phát triển đến một trình độ nhất định ( con ng-
ời không hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên ) thì xuất hiện hình thức sở hữu
công xã về ruộng đất, tiếp đó là hình thức sở hữu gia đình, cá thể về súc vật. ở
thời kỳ đầu có lịch sử thành văn, đất đai đã bị phân chia và chuyển hoá thành
sở hữu t nhân, tình hình đó thích hợp cho nền sản xuất hàng hoá tơng đối phát
triển .Bên cạnh của cải bằng hàng hoá đã xuất hiện của cảI bằng nô lệ, tiền,
ruộng đất. Tuy nhiên, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, hình thức sở hữu đặc
trng vẫn là sở hữu công xã, sở hữu bộ lạc
b. Hình thái kinh tễ xã hội chiếm hữu nô lệ.
Trong thời kỳ này, công cụ sản xuất có bớc chuyển biến lớn, con ngời sản
xuất chủ yếu với những công cụ bằng kim loại làm tăng năng suất lao động. Sở
hữu công xã đợc thay thế bằng sở hữu t nhân. Nhà nớc nô lệ xuất hiện. Bên
cạch sở hữu công xã cha mất hẳn đi là hình thức sở hữu nhà nớc. Trong xã hội
chiếm hữu nô lệ tù binh chiến tranh, nông dân, những ngời bị phá sản, là một
lực lợng có thể tạo ra sản phẩm thặng d lớn, họ trở thành nô lệ bị coi là những
công cụ biết nói và nhứng gia súc, bị coi là những món hàng có thể trao đổi
mua bán cả sức lao động cũng thế. Nh vậy hình thức chiếm hữu trong chế độ
chiếm hữu nô lệ: sở hữu công xã, sở hữu nhà nớc, sở hữu t nhân nhng nét đặc
trng trong chế độ chiếm hữu nô lệ là chiếm hữu về mặt thân thể ngời nô lệ.
c.Hình thái kinhtế xã hội phong kiến
Sở hữu công xã cha mất đi mà vẫn tồn tại. Ngời nông nô chẳng những là
những ngời chủ mặc dầu đó là những ngời chủ phải nộp cống vật của những
mảnh đất đó thuộc về nhà ở của họ, mà họ là những ngời chủ chung của những
đất đai của những công xã nữa. Bên cạnh sở hữu công xã, còn có sở hữu nhỏ
của ngời nông dân. Ngời nông dân tự do làm chủ mảnh ruộng của mình. Trong
xã hội phong kiến, sở hữu ruộng đất gắn liền với sở hữu t hữu C.Mac viết Nói
chung sự thống trị của chế độ t hữu bắt đầu cùng với chế độ chiếm hữu ruộng
đất là cơ sở của chế độ t hữu. Cùng với sở hữu ruộng đất ở nông thôn thì ở
thành thị cũng có sở hữu phờng hội tức là tổ chức phong kiến của tiểu thủ công
nghiệp. Nh vậy trong thời đại phong kiến hình thức chủ yếu một mặt là sở hữu
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ruộng đất với lao động của nông nô đã bị cột chặt vào nó, mặt khác là lao động
của bản thân tiến hành với một t bản nhỏ chi phối lao động của thợ bạn.
d. Hình thái kinh tế xã hội t bản chủ nghĩa.
Nền sản xuất xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc. Phơng thức sản xuất cũ tự
cung tự cấp của xã hội phong kiến bị nền sản xuất hàng hoá t bản phá vỡ, công
cụ thủ công đợc thay thế bằng công cụ cơ khí một cách phổ biến. Những biến
đổi to lớn của công cụ sản xuất của nền sản xuất hàng hoá đã chi phối quá trình
vận động của các hình thức sở hữu. Chuyển lên chủ nghĩa t bản, sở hữu công
xã về ruộng đất vẫn tiếp tục tồn tại thậm chí còn phổ biến ở nhiều nơi. Sở hữu
ruộng đất dới chủ nghĩa t bản tồn tại với t cách là hàng hoá cho nên thờng
xuyên diễn ra sự canh tranh giữa những ngời sở hữu ruộng đất, biến sở hữu nhỏ
thành sơ hữu lớn của một số ít ngời. Bên cạnh sự canh tranh, còn có sự tớc đoạt
ruộng đất, t liệu sản xuất, công cụ lao động của đông đảo quần chúng lao
động. Sự tớc đoạt đó diễn ra theo quy luật nội tại của bản thân nền sản xuất t
bản chủ nghĩa.
Do sự phát triển của lực lợng sản xuất mang tính xã hội hoá nên trong chủ
nghĩa t bản đã xuất hiện một số hình thức sở hữu mới bên cạnh sở hữu t nhân
nh : sử hữu cổ phần, sở hữu t bản nhà nớc Trong công nghiệp lớn và cạnh
tranh, tất cả các điều kiện tồn tại của các nhân đIều hoà trong hai hình thức đơn
giản nhất : sở hữu t nhân và lao động . Vì vậy, trong chủ nghĩa t bản hình thức
sở hữu đặc trng là sở hữu t nhân.
Trong chủ nghĩa t bản hiện đại, sở hữu t nhân vẫn giữ vai trò chủ đạo,
nhng xuất hiện nhiều hình thức mới nh cônh nhân có sở hữu trong các công ty
cổ phần của t bản, và xuất hiện các xí nghiệp công quản.
III. Sự tách rời quyền sở hữu với quyền sử dụng và quyền quản lý
Quy luật phát triển của nền kinh tế dã cho thấy các quyền gắn liền với
phạm trù đã có sự biến đổi rất đáng kể.ở thời kỳ đầu quyền sở hữu , quyền quản
lý và quyền sử dụng thống nhất với nhau trong cùng một ngời chủ sở hữu về
mặt pháp lý. Sự xuất hiện của t bản cho vay đã làm cho hai quyền sở hữu và sử
dụng tách rời nhau t bản sở hữu tách rời t bản sử dụng Tài sản và vốn chỉ
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sinh lợi khi đa vào sử dụng trong kinh doanh một cách hợp lí. Ngời có quyền sở
hữu thông qua việc giao quyền sử dụng cho ngờ khác để thực hiện lợi ích kinh
tế của mình, nếu có quyền sở hữu mà không đạt lợi ích kinh tế thì quyền đó trở
thành vô nghĩa. Mặt khác, ngời sử dụng cần thiết phảI dựa vào và tôn trọng
quyền sở hữu của ngời khác mới đợc sử dụng t liệu sản xuất cần thiết. Ngời sử
dụng phảI đạt đợc lợi ích của mình thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nh vậy, quan hệ lợi ích phải đảm bảo lợi ích cho cả chủ sở hữu và ngời sử
dụng,làm tách biệt quyền quản lý và quyền sử dụng. Sự ra đời của công ty cổ
phần và khi lao động quản lý trở thành một nghề đã dẫn đến sự tách rời giữa
quyền quản lý và quyền sử hữu.
Tất nhiên sự tách rời này chỉ có ý nghĩa tơng đối vì giám đốc khi tực hiện
các chức năng quản lý phảI dựa vào các chiến lợc sản xuất kinh doanh, kỹ thiật
và công nghệ do Hội Đồng Quản Trị, với t cách là ngời đại diện cho quyền sở
hữu, đề ra. Vì vậy, quyền sở hữu vẫn giữ vai trò quyết định, nhng quyền quản lý
và phân phối không vì thế mà không còn giá trị.
Chơng II: Cơ cấu sở hữu trong thời kỳ quá độ ở nớc ta
I.Vấn đề sở hũ trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung
Trong những năm nền kinh tế vận hành trong cơ chế hoạch hoá tập
trung, quan liêu, bao cấp, khi giảI quyết vấn đề sở hữu chúng ta đã mắc phảI
khuyết đIểm khá trầm trọng. Chúng ta đã tuyệt đối hoá tính hơn hẳn của sở hữu
xã hội chủ nghĩa và quan niệm rằng chỉ có chế độ công hữu mới bảo đảm mục
đích thoả mãn mọi nhu cầu xã hội, mới thúc đẩy sản xuất theo kế hoạch nhà n-
ớc. Chúng ta coi chế độ công hữu là mục tiêu, là tiêu chí số một để đánh giá
mức độ đạt đợc của quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội, thậm chí đợc coi là tiêu
thức để đánh giá mức độ lập trờng giai cấp.
ĐIều đó dẫn tới một sai lầm nghiêm trọng trong nhận thức là hợp tác xã
càng lớn, càng có nhiều hợp tác xã cấp cao , xí nghiệp có quy mô ngày càng
lớn thì chất chủ nghĩa xã hội càng nhiều, càng tiến gần đến chủ nghĩa xã hội
hơn. Chúng ta đã định kiến với sở hữu cá nhân của ngời lao động, thậm chí còn
coi đó là hình thức sở hữu đối lập với xã hội chủ nghĩa, là mầm mống khôI
phục lại chế độ ngời bóc lột ngơI lao động.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhà nớc ta đã thực hiện chủ trơng ồ ạt xoá bỏ chế độ t hữu, xác lập chế
độ công hữu về t liệu sản xuất dới hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Song sở hữu toàn dân thực tế là sở hữu nhà nớc, nhà nớc đại diện cho ngời
lao động thực hiên quyền sở hữu đối với các t liệu sản xuất chứ không phải ng-
ời lao động là các chủ sở hữu trực tiếp, không đợc bảo đảm bằng cơ sở kinh tế
trực tiếp. Còn sở hữu tập thể (trong hợp tác xã) đợc vân hành theo cơ chế cũ,
tự nhiên biến thành sở hữu của ban quản lý hợp tác xã, còn xã viên thì nh ngời
đi làm thuê. Thực tế trên đã cho thấy ngời dân chỉ là chủ sở hữu hình thức, các
quan hệ lợi ích cha đợc tạo ra nhằm thúc đẩy ngời lao động hăng say làm việc,
năng suất lao động thấp, hiệu quả kinh tế rất thấp, hàng hoá thiếu thốn, đời
sống nhân dân rất khó khăn.Tình trạng bao cấp ỷ lại vào Nhà nớc kéo dài và
ngày càng nặng nề.
Sỡ dĩ chủ trơng trên đợc thực hiện một cách nh vậy là do chúng ta cho
rằng có thể và cần sử dụng tính chủ động của nền chuyên chính vô sản đa quan
hệ sở hữu đI trớc một bớc, mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển. Đó là
quan đIểm sai lầm nghiêm trọng, đã kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản
xuất trong một thời gian dài.
Đại hội VI đã tạo ra bớc ngoặt quan trọng trong quá trình thúc đẩy lực l-
ợng sản xuất phát triển. Đảng ta đã nhân thức đợc lực lợng sản xuất lac hậu
không chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu mà ngay cả khi quan hệ sản
xuất và lực lợng sản xuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố quan xa so
với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất. Trong khi nền kinh tế nớc ta còn
phổ biến là sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu, kinh tế hàng hoá cha
phát triển, trình độ xã hội hoá còn thấp, muốn hoàn thành quá trình cảI tạo
XHCN trong một thời gian ngắn, đa nhanh quan hệ sản xuất lên trình độ xã hội
hoá cao, bỏ qua các hình thức trung gian quá độ là thoát ly tính chất và trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất. Chủ trơng đó đã kìm hãm tiềm năng phát triển
to lớn của nhân dân về vốn, sức lao động và tay nghề để phát triển lực lợng sản
suất. Hơn nữa, việc cải tạo quan hệ sản xuất chủ yếu chỉ chú ý tới chế độ t hữu
về t liệu sản xuất, coi quan hệ phấn phối và quản lý. Tuy chế độ công hữu về t
liệu sản xuất là nền tảng cho quan hệ sản xuất mới, nhng khi chế độ quản lý và
chế độ phân phối không phù hợp thì ngay cả các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu
toàn dân, đợc trang bị kỹ thuật cao hơn cũng làm ăn kém hiệu quả.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
II. Cơ cấu sở hữu trong nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Qua những đổi mới đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta
chứng tỏ tính đúng đắn của đờng đối đổi mới, của chính sách đa dạng hoá các
hình thức sở hữu do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo toàn dân thực hiện. Thực
tiễn cho thấy, một nền kinh tế nhiều thành phần đơng nhiên phảI bao gồm
nhiều hình thức sở hữu, không thể chỉ có hai hình thức sở hữu toàn dân và tập
thể nh trớc đây. Hiện nay chúng ta đang xây dựng và phát triển một cơ cấu sở
hữu đa dạng với các hình thức sở hữu : sở hữu nhà nớc, sở hữu tập thể, sở hữu
cá thể, sở hữu t nhân t bản và sở hữu hỗn hợp.
1. Sở hữu nhà n ớc
Xét về bản chất, chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về t liệu sản xuất là chế
độ công hữu. Mọi thành viên trong xã hội là chủ nhân của các t liệu sản xuất và
các tàI nguyên quan trọng của nền kinh tế. Trong chế độ đó không ai có quyền
chiếm đoạt t liệu sản xuất để làm phơng tiện nô dịch lao động của ngời khác.
Chế độ đó đợc hình thành không phảI do áp đặt chủ quan mà là do kết quả của
sự phát triển lực lợng sản xuất, xã hội hoá sản xuất lao động. Phạm trù sở hữu
toàn dân là để chỉ bản chất của sở hữu xã hội chủ nghĩa còn sở hữu nhà nớc xã
hội chủ nghĩa là hình thức thể hiện của sở hữu nói trên.
Sở hữu nhà nớc là hình thức sở hữu mà nhà nớc là đại diện cho nhân dân
sở hữu những tài nguyên, tàI sản, những t liệu sản xuất chủ yếu và những của
cảI của đất nớc.
Sở hữu nhà nớc nghĩa là nhà nớc là chủ sở hữu, còn quyền sử dụng giao
cho các đơn vị tổ chức kinh tế và các cá nhân để phát triển kinh tế một cách
hiệu quả nhất.Đó là sự tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng, chủ sở hữu với
chủ kinh doanh, làm cơ sở và đIều kiện để nhà nớc thực hiện vai trò kinh tế của
mình, còn doanh nghiệp đợc tính tự chủ của đơn vị sản xuất, kinh doanh hàng
hoá thực sự. Tính đến sự tách biệt tơng đối giữa quyền sở hữu nhà nớc với
quyền sử dụng của các chủ thể sản xuất kinh doanh và tính đến việc sử dụng
theo nhiều mức độ khác nhau về sự tách biệt nói trên là hai khuynh hớng rất cơ
bản để hoàn thiện hình thức sở hữu nhà nớc xã hội chủ nghĩa theo sự tiến bộ,
hiện đại của quản lý kinh tế xã hội.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong tính đa dạng của các hình thức sở hữu, sở hữu nhà nớc giữu vai trò
chủ đạo. Khái niệm sở hữu nhà nớc có nội dung và phạm vi rộng lơn, trong đó
có doanh nghiệp nhà nớc.Do vậy, không chỉ có doanh nghiệp nhà nớc giữ vai
trò chủ đạo, mà là kinh tế nhà nớc trong đó doanh nghiệp nhà nớc là một bộ
phận giữ vai trò chủ đạo.
Sở hữu nhà nớc có thể tồn tại dới các hình thức doanh nghiệp 100% vốn của
nhà nớc, hoặc dới hình thức doanh nghiệp mà vốn của nhà nớc chiếm đa số hay
nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hoặc có cổ phần trong các hình thức
doanh nghiệp khác với hàm lợng cha nhiều. Hiện nay, ở nớc ta, sở hữu nhà nớc
đang đợc củng cố và hoàn thiện dới nhiều hình thức đa dạng và phong phú nh :
khoán thuê, đấu thầu, hợp đồng, liên doanh về kinh tế và đang từng bớc hình
thành những công ty cổ phần.
2.Sở hữu tập thể
Sở hữu tập thể là sở hữu của những chủ thể kinh tế (cá nhân ngời lao động)
tự nguyện tham gia cùng hợp tác với nhau để tổ chức sản xuất kinh doanh.
Đảm bảo tính tự nguyện của ngời lao động là nguyên tắc cơ bản nhất trong
việc hình thành và hoàn thiện hình thức sở hữu tập thể. Ngời lao động chỉ thực
sự tự nguyện xây dựng và bảo vệ sở hữu tập thể khi có những hình thức tổ chức
quản lý sản xuất phân phối sản phẩm bảo đảm lợi ích kinh tế chính đáng của
họ.
Sở hữu tập thể biểu hiện ở sở hữu tập thể của các hợp tác xã trong nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng vận tải ở các nhóm, tổ đội trong các công ty
cổ phần. Sự chuyển đổi từ cơ chế hành chính bao cấp sang cơ chế thị truờng có
sự quản lý của nhà nớc đang thúc đẩy sự ra đời của nhiều hình thức hợp tác
kiểu mới.
Trong hình thức sở hữu tập thể sở hữu cá thể vẫn tồn tại và đợc bảo đảm tôn
trọng là cơ sở để mỗi hộ thành viên vẫn giữ đợc tính độc lập tự chủ, nhng lại
gắn bó và phát triển trong cộng đồng. Mặt khác nó là một trong nhũng cơ sở để
phân phối lợi ích cho mỗi thành viên. Sở hữu tập thể một phần bảo vệ lợi ích,
quyền lợi của những ngời lao động nghèo thờng bị yếu thế trong hoạt động của
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
kinh tế thị trờng vì nếu chỉ có một mình thì họ thờng chỉ có số vốn ít ỏi, lực
không đủ mạnh nên họ thờng bị yếu thế trong cạnh trạnh.
3. Sở hữu cá thể
Sở hữu t nhân của ngời sản xuất nhỏ là sở hữu về t liệu sản xuất của bản thân
ngời lao động. Chủ thể của sở hữu này là nông dân, cà thể, thợ thủ công, tiểu
thuơng Họ vừa là chủ sở hữu đồng thời là ngời lao động. Với quy mô và phạm
vi rộng hơn là t hữu của tiểu chủ, chủ trang trại có lao động.
Trong thời kỳ quá độ, sự tồn tại của sở hữu t nhân về t liệu sản xuất không
đối lập với chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, bởi vì nó là sở hữu của những
ngời lao động. Với t cách là sở hữu của ngời sản xuất trực tiếp thì t liệu sản
xuất và t liệu sing hoạt không phải là t bản.
Sở hữu t nhân là hình thức giao tiếp cần thiết ở một trình độ phát triển nhất
định của lực lợng sản xuất Hình thức giao tiếp đó không thể bị xoá bỏ và là
đIều kiện cần thiết cho sự sản xuất ra đời sống vật chất trực tiếp, chừng nào cha
tạo ra đợc những lực lợng sản xuất mà đối với chúng sở hữu t nhân trở thành
xiềng xích hoặc trở ngại. (C.Mac)
Sở hữu t nhân cá thể tận dụng và phát huy một cách tối đa tiềm lực sẵn có
trong nhân dân, trong từng hộ gia đình, giảI quyết những nhu cầu thiết yếu
trong cuộc sống của nhân dân.Đối với đất nớc ta, nến kinh tế còn lạc hậu, việc
khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ là đIều kiện cần thiết để giải
phóng lực lợng sản xuất, thông qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế.
Cần xác định quyền t hữu của ngời lao động đối với t liệu sản xuất của mình
là cơ sở của nền sản xuất nhỏ, mà nền sản xuất nhỏ là đIều kiện tất yếu để phát
triển nền sản xuất xã hội và cá tính tự do của bản thân ngời lao động. Có quyến
sở hữu và đợc tự do là những tiền đề quan trọng để biến ngời nông dân trong
nền nông nghiệp tự cấp tự túc thành ngời tiểu chủ trong nền sản xuất hàng hoá.
Quá trình náy là một tất yếu khách quan. Nó khơI dậy động lực của sự phát
triển, kích thích ngời lao động phát huy năng lực sáng tạo, tính tích cực và tinh
thần trách nhiệm trong hoạt động sản xuất.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
4. Sở hữu t nhân t bản
Sở hữu t nhân t bản là hình thức sở hữu của các nhà t bản vào các ngành,lĩnh
vực sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa vẫn tồn tại ở một mức độ nhất định trong
thời kỳ quá độ. Tuy nhiên, trong thời kày quá độ, phơng thức sản xuất t bản chủ
nghĩa không còn nguyên vẹn nữa. Bởi thế, kinh tế t bản t nhân ở nớc ta chỉ hoạt
động với t cách là một thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hoà nhiều
thành phần, đợc bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp . Xét về thực chất,
đây là quan hệ t hữu mang tính chất bóc lột. Tuy nhiên nó vẫn có cơ sở kinh tế
để tồn tại một cách khách quan. Vấn đề quan trọng là sử dụng hình thức sở hữu
này làm sao có lợi đối với nền kinh tế phát triển theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Nhà nớc cần có chính sách, biện pháp thích hợp để hạn chế mặt tiêu cực
của nó, để hớng nó đI theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội bằng những hình thức
: hợp tác, liên doanh, liên kết, chủ nghĩa t bản nhà nớc, công ty cổ phần
Hiện nay, so với yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế, nhất là trong lĩnh vực
sản xuất công, nông nghiệp và so với tiềm năng có thể huy động đợc còn thấp
cha tơng xứng. Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cha
đánh giá đúng mức vai trò của nó và còn có sự phân biệt đối xử giữa nó với các
thánh phần kinh tế khác cũng nh với chủ đầu t nớc ngoài. Qua thực tiễn đã cho
thấy hình thức sở hữu t nhân tồn tại với t cách là một động lực có tác dụng
không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế.
5. Sở hữu hỗn hợp
Sở hữu hỗn hợp là hình thức sở hữu có sự tham gia của nhiều loại chủ thể
khác nhau về tính chất.
Sở hữu hỗn hợp là hình thức phù hợp, linh hoạt và hiệu quả trong thờ kỳ quá
độ. Mỗi chủ thể kinh tế có thể tham gia một hoặc nhiều đơn vị tổ chức kinh tế,
khi thấy có lợi. Các thành phần kinh tế trong sở hữu hỗn hợp có mối liên hệ nội
tại và tác động qua lại lẫn nhau, nó là kế quả của công cuộc cảI tạo và xây dựng
kinh tế theo định hớng xa hội chủ nghĩa.
14
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Có thể nói, đây là một loại hình kinh tế trung gian, có tính chất đan xen giữa
các thành phần kinh tế t bản chủ nghĩa và thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa,
thờng có ba loại chủ thể kết hợp với nhau để tạo ra các hình thức sở hữu hỗn
hợp khác nhau. Đó là sự kết hợp, liên kết giữa các chủ thể nhà nớc, tập thể và t
nhân để tạo nên các dạng sở hữu sinh động nh : nhà nớc và nhân dân; nhà nớc
và tập thể; nhà nớc, tập thể và t nhân; tập thể và t nhân Thực chất, đây cũng là
các xí nghiệp ( hoặc công ty ) cổ phần, chỉ có sự khác biệt ở chỗ các chủ thể
không đồng nhất về tính chất. Đó là hình thức tổ chức kinh tế không thuộc hẳn
vào một thành phần kinh tế nào hình thức kinh tế hỗn hợp nhiều loại sở hữu
dới dạng công ty, xí nghiệp cổ phần hùn vốn liên doanh hai bên và nhiều bên ở
trong nớc với nớc ngoài.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hióa nhiều thành
phần, chúng ta càn phải sử dụng chủ nghĩa t bản nhà nớc, hay hình thức kinh tế
t bản nhà nớc làm phơng tiện cứu cánh để phát triển. Bởi chủ nghĩa t bản nhà
nớc là một hình thức phổ biến trong thời kỳ quá độ, và sự tồn tại của nó là thực
sự cần thiết. Đây là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó có cổ phần tham dự
của nhà nớc và t nhân với nhiều hình thức cụ thể, trên mọi lĩnh vực sản xuất, lu
thông, dịch vụ, tín dụng.
Hiện nay, ở nớc ta, kinh tế t bản nhà nớc bao gồm nhiều hình thức hợp tác
liên doanh kinh tế giữa t bản t nhân trong nớc và hợp tác kinh tế giữa nhà nớc
với t bản nớc ngoài. Nó có u thế mạnh hơn t bản t nhân ở chỗ, nó đã kết hợp đ-
ợc sức mạnh tổng hợp của hai thành phần kinh tế có tiềm lực lớn nhất trong
thời kỳ quá độ. Bởi vậy, hình thức sở hữu hỗn hợp ở nớc ta là cáI có khả năng
thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hoá sản xuất và tạo ra sản phẩm có chất l-
ợng cao, có sức mạnh cạnh tranh lớn trên thị trờng trong nớc và ngoài nớc.
Để cho chủ nghĩa t bản nhà nớc có những đóng góp thực sự cho việc
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớn xã hội chủ
nghĩa, chúng ta cần phải tạo điều kiện, môi trờng thuận lợi cho sự tồn tại và
phát triển của nó. Hiện nay, chúng ta đang chủ trơng cổ phần hoá dong nghiệp
nhà nớc, đó chính là một giải pháp nhằm phát triển kinh tế t bản nhà nớc, đa
dạng hoá các hình thức sở hữu. Tuy nhiên vấn đề này còn hết sức mới mẻ, cần
phảI nhận thức một cách đầy đủ và áp dụng từng bớc.
15
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét