Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

151 Kế toán vật liệu tại Công ty may Hồ Gươm

Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến động tăng, giảm của vật liệu trong
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
* Tham gia việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua,
tình hình thanh toán với ngời bán, ngời cung cấp và tình hình sử dụng vật liệu
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
II/ Phân loại và đánh giá vật liệu.
1/ Phân loại vật liệu:
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu bao gồm rất nhiều loại, thứ
khác nhau với nội dung kinh tế, công dụng trong quá trình sản xuất và tính
năng khác nhau. Để có thể quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi
tiết tới từng loại, thứ vật liệu phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp cần
thiết phải tiến hành phân loại chúng theo những tiêu thức phù hợp.
Trớc hết căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu kế toán quản trị trong
doanh nghiệp sản xuất, vật liệu chia làm ba loại sau :
a. Nguyên, vật liệu chính (bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài):
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu chính là đối tợng lao
động chủ yếu cấu thành nên thực thể của sản phẩm nh sắt thép trong các doanh
nghiệp chế tạo máy, cơ khí, xây dựng, bông trong các doanh nghiệp dệt, kéo
sợi, vải trong các xí nghiệp may mặc Đối với bán thành phẩm mua ngoài với
mục đích tiếp tục sản xuất sản phẩm cũng đợc coi là nguyên vật liệu chính.
b.Vật liệu phụ : Vật liệu phụ có tác dụng phụ trong quá trình sản
xuất sản phẩm nh làm tăng chất lợng nguyên vật liệu chính, tăng chất lợng sản
phẩm, hoặc phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ sản xuất, cho việc bảo quản
bao gói sản phẩm nh các loại thuốc nhuộm, tẩy, sơn, dầu nhờn,
c. Nhiên liệu: Trong doanh nghiệp sản xuất nhiên liệu bao gồm các loại
thể lỏng, khí, rắn dùng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các
phơng tiện vận tải, máy móc, thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất kinh
doanh nh củi, xăng, dầu, than, ga
Trang 5
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
d. Phụ tùng thay thế: Bao gồm các thiết bị, phụ tùng, chi tiết dùng để
thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị sản xuất, phơng tiện vận tải
e. Thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các thiết bị, phơng tiện đợc sử
dụng cho công việc xây dựng cơ bản (cả thiết bị cần lắp, không cần lắp, công
cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản).
f. Vật liệu khác: Là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế
tạo sản phẩm nh gỗ, sắt, thép vụn hoặc phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình
thanh lý tài sản cố định.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng loại
vật liệu, từng loại doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại đợc chia
thành từng nhóm, từng thứ, quy cách
Căn cứ vào mục đích, công dụng của vật liệu cũng nh nội quy, quy định
phản ánh chi phí vật liệu trên các tài khoản kế toán thì vật liệu của doanh
nghiệp đợc chia thành :
* Nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
* Nguyên vật liệu dùng cho các nhu cầu khác : phục vụ, quản lý ở các
phân xởng, tổ, đội sản xuất, cho quản lý doanh nghiệp, bán hàng
Căn cứ vào nguồn nhập, vật liệu đợc chia thành vật liệu nhập do mua
ngoài, tự gia công chế biến, nhận vốn góp.
2/ Đánh giá vật liệu :
Đánh giá vật liệu là xác địng giá trị của chúng theo những nguyên tắc
nhất định. Theo quy định hiện hành, kế toán nhập- xuất- tồn kho vật liệu phải
phản ánh theo giá trị thực tế, có nghĩa là khi nhập kho phải tính toán và phản
ánh theo giá thực tế, khi xuất kho cũng phải xác định giá thực tế xuất kho theo
đúng phơng pháp quy định. Tuy nhiên trong nhiều doanh nghiệp để giản đơn
và giảm bớt khối lợng ghi chép, tính toán hàng ngày có thể sử dụng giá hạch
toán để hạch toán tình hình nhập- xuất vật liệu. Song dù đánh giá theo giá hạch
toán, kế toán vẫn phải đảm bảo việc phản ánh tình hình nhập- xuất vật liệu trên
các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp theo giá thực tế.
Trang 6
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
2.1. Đánh giá vật liệu theo giá thực tế :
a/ Giá thực tế nhập kho :
Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu đợc nhập từ nhiều nguồn mà giá
thực tế của chúng trong từng trờng hợp đợc xác định nh sau :
- Đối với vật liệu mua ngoài thì giá vốn thực tế nhập kho là giá mua ghi
trên hoá đơn (bao gồm cả các khoản thuế nếu có) cộng thêm với các chi phí
mua thực tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản, phân loại, bảo hiểm ) trừ
đi các khoản chiết khấu, giảm giá (nếu có).
- Đối với vật liệu do doanh nghiệp tự gia công, chế biến, trị giá vốn thực tế
nhập kho là giá thực tế của vật liệu xuất gia công, chế biến cộng với chi phí gia
công, chế biến.
- Đối với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến : trị giá vốn thực tế nhập
kho là giá thực tế của vật liệu xuất ngoài thuê gia công, chế biến cộng với các
chi phí bảo hiểm, bốc dỡ đến nơi thuê chế biến và từ nơi đó về doanh nghiệp
cộng với số tiền phải trả cho ngời nhận gia công chế biến.
+ Trờng hợp đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng vật liệu : giá trị thực tế
của vật liệu nhận vốn góp liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá.
+ Nếu là phế liệu thì đợc đánh giá theo giá ớc tính.
b/ Giá thực tế xuất kho:
Vật liệu đợc thu mua nhập kho thờng xuyên từ nhiều nguồn khác nhau, do
vậy giá thực tế của từng đợt nhập kho là không giống nhau. Vì thế khi xuất
kho, kế toán phải tính toán, xác định đợc giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp
dụng và phải đảm bảo tính nhất quán trong cả niên độ kế toán. Để tính giá thực
tế của nguyên vật liệu xuất kho có thể áp dụng một trong các phơng pháp sau:



Tính theo giá thực tế tồn đầu kỳ:

Theo phơng pháp này thì giá thực tế vật liệu xuất kho đợc tính trên cơ sở
số lợng vật liệu tồn đầu kỳ.
Giá thực tế xuất kho= Số lợng xuất kho x Đơn giá thực tế tồn đầu kỳ



Tính theo giá thực tế bình quân gia quyền:

Theo phơng pháp này, giá thực tế vật liệu xuất kho cũng đợc căn cứ vào số
lợng xuất kho trong kỳ và đơn giá thực tế bình quân để tính nh sau:
Trang 7
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
Giá thực tế xuất kho= Số lợng xuất kho x Đơn giá thực tế bình quân
Trong đó:
Đó là cách tính theo giá thực tế bình quân của toàn bộ số tồn đầu kỳ và
toàn bộ số nhập trong kỳ. Theo phơng pháp này, đơn giá bình quân gia quyền
có thể đợc tính liên hoàn trong cả kỳ sau mỗi lần nhập- xuất kho, do vậy còn
gọi là bình quân gia quyền liên hoàn.
* Tính theo giá thực tế nhập tr ớc- xuất tr ớc :
Theo phơng pháp này trớc hết, ta phải xác định đợc đơn giá thực tế nhập
kho của từng lần nhập và giả thiết hàng nào nhập trớc thì xuất trớc. Sau đó căn
cứ vào số lợng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: tính
theo đơn giá thực tế nhập trớc đối với lợng xuất kho thuộc lần trớc, số còn lại
(tổng số xuất kho - số đã xuất đợt trớc) đợc tính theo đơn giá thực tế lần nhập
tiếp sau. Nh vậy giá thực tế của vật liệu tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của số
vật liệu nhập kho thuộc các lần sau cùng.
* Tính theo giá thực tế nhập sau- xuất tr ớc:
Theo phơng pháp này cũng phải xác định đợc đơn giá thực tế của từng
lần nhập và cũng giả thiết hàng nào nhập kho sau thì xuất trớc. Sau đó căn cứ
vào số lợng tồn kho tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn
giá thực tế của lần sau cùng đối với số lợng xuất kho thuộc lần nhập sau cùng,
số còn lại đợc tính theo đơn giá thực tế của các lần nhập trớc đó. Nh vậy giá
thực tế của vật liệu tồn kho cuối kỳ lại là giá thực tế vật liệu thuộc các lần tồn
đầu kỳ.
* Tính theo giá đích danh:
Theo phơng pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, theo dõi vật liệu
theo từng lô hàng. Khi xuất vật liệu thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lợng
xuất kho và đơn giá nhập kho (mua) thực tế của lô hàng đó để tính ra giá thc tế
xuất kho.
Trang 8
Giá thực tế tồn đầu kỳ + Giá thực tế nhập trong kỳ
Số lượng tồn đầu kỳ + Số lượng nhập trong kỳ
Đơn giá thực
tế bình quân
=
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
2.2. Đánh giá vật liệu theo giá hạch toán:
Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lợng, chủng loại vât liệu nhiều,
tình hình nhập- xuất diễn ra thờng xuyên, việc xác định giá thực tế của vật liệu
hàng ngày rất khó khăn và ngay cả trong trờng hợp có thể xác định đợc hàng
ngày đối với từng lần, đợt nhập nhng quá tốn kém, nhiều chi phí. Để nâng cao
hiệu quả cho công tác kế toán, có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình
hình nhập- xuất hàng ngày.
Giá hạch toán là loại giá ổn định đợc sử dụng thống nhất trong doanh
nghiệp trong thời gian dài, có thể là giá kế hoạch của vật liệu. Nh vậy hàng
ngày sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị vật liệu nhập- xuất. Cuối kỳ
phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu ghi vào các tài
khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán
theo giá thực tế đợc tiến hành nh sau:
Trớc hết xác định hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của vật liệu (H).
Sau đó tính giá thực tế xuất kho căn cứ vào giá hạch toán xuất kho và hệ
số giá:
Giá trị vật liệu xuất dùng = Giá hạch toán của VL xuất dùng x Hệ số giá
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp mà
trong các phơng pháp tính giá thực tế vật liệu xuất kho đơn giá thực tế hay hệ
số giá (trong trờng hợp sử dụng giá hạch toán) có thể tính riêng cho từng thứ,
nhóm, hoặc cả loại vật liệu.
Từng cách đánh giá và phơng pháp tính giá thực tế xuất kho đối với vật
liệu có nội dung, u nhợc điểm và những điều kiện áp dụng phù hợp nhất định,
do vậy doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh,
khả năng, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, yêu cầu quản lý cũng nh điều
kiện trang bị các phơng tiện kỹ thuật tính toán, xử lý thông tin mà nghiên cứu
để đăng ký phơng pháp áp dụng thích hợp cho doanh nghiệp.
Trang 9

Giá thực tế tồn ĐK + Giá thực tế nhập trong kỳ
Giá hạch toán tồn ĐK + Giá hạch toán nhập trong kỳ
H =
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
III/ Kế toán chi tiết vật liệu.
Vật liệu là một trong những đối tợng kế toán, các loại tài sản cần phải đợc
tổ chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ
theo từng kho mà phải chi tiết theo từng loại nhóm, thứ và phải đợc tiến hành
đồng thời ở cả kho và phòng kế toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập- xuất
kho. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống chứng từ, mở các sổ kế toán chi
tiết và lựa chọn, vận dụng phơng pháp kế toán chi tiết vật liệu cho phù hợp
nhằm tăng cờng công tác quản lý tài sản nói chung và công tác quản lý vật liệu
nói riêng.
1. Chứng từ kế toán sử dụng:
Theo chế độ chứng từ kế toán quy định ban hành theo quyết định
1141/TC/QĐ/ CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ trởng Bộ Tài chính, các chứng
từ kế toán về vật liệu bao gồm :
- Phiếu nhập kho (mẫu 01-VT)
- Phiếu xuất kho (mẫu 02-VT)
- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03-VT)
- Biên bản kiểm kê vật t, sản phẩm, hàng hoá (mẫu 08-VT)
- Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (mẫu 02-BH)
- Hoá đơn cớc phí vận chuyển (mẫu 03-BH)
Ngoài các chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của Nhà
nớc, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hớng dẫn nh
phiếu xuất vật t theo hạn mức (mẫu 04-VT), biên bản kiểm nghiệm vật t (mẫu
05-VT), phiếu báo vật t còn lại cuối kỳ (mẫu 07-VT) tuỳ thuộc vào đặc điểm,
tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động, thành
phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhau.
Đối với các chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc phải lập kịp thời, đầy
đủ theo đúng quy định về mẫu biểu, nội dung, phơng pháp lập. Ngời lập chứng
từ phải chịu trách nhiệm về tính hợp lý, hợp pháp của các chứng từ về các
nghiệp vụ kinh tế- tài chính phát sinh.
Mọi chứng từ kế toán về vật liệu phải đợc tổ chức luân chuyển theo trình
tự và thời gian hợp lý, do kế toán trởng quy định phục vụ cho việc phản ánh,
ghi chép và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận và các cá nhân có liên
quan.
Trang 10
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
2. Sổ kế toán chi tiết vật liệu:
Tuỳ thuộc vào phơng pháp kế toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp
mà sử dụng các sổ, thẻ kế toán chi tiết sau:
- Sổ ( thẻ) kho.
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu.
- Sổ đối chiếu luân chuyển.
- Sổ số d.
-
Sổ (thẻ) kho (mẫu số 06-VT) đợc sử dụng để theo dõi số lợng nhập- xuất-
tồn kho của từng vật liệu theo từng kho. Thẻ kho do phòng kế toán lập và ghi
các chỉ tiêu: Tên, nhãn hiệu, quy cách, đơn vị tính, mã số vật liệu sau đó giao
cho thủ kho để hạch toán nghiệp vụ ở kho, không phân biệt kế toán chi tiết vật
liệu theo phơng pháp nào.
Các sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, sổ đối chiếu luân chuyển, sổ số d
vật liệu đợc sử dụng để hạch toán tình hình nhập- xuất- tồn kho vật liệu về mặt
giá trị hoặc cả lợng và giá trị tuỳ thuộc vào phơng pháp kế toán chi tiết áp dụng
trong doanh nghiệp.
Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên, còn có thể mở thêm các bảng kê
nhập, bảng kê xuất, bảng kê luỹ kế tổng hợp nhập- xuất- tồn kho vật liệu phục
vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết đợc đơn giản, nhanh chóng, kịp thời.
3. Các ph ơng pháp kế toán chi tiết vật liệu:
Kế toán chi tiết vật liệu là việc ghi chép hàng ngày về tình hình biến động
về số lợng, giá trị và chất lợng của từng thứ vật liệu trong từng kho và trong
toàn doanh nghiệp. Hạch toán chi tiết vật liệu đợc tiến hành đồng thời ở kho và
ở phòng kế toán của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho số lợng đợc khớp đúng
giữa sổ sách và hiện vật và việc ghi chép của thủ kho và cảu phòng kế toán.
Hiện nay ở các doanh nghiệp thờng sử dụng một trong ba phơng pháp hạch
toán chi tiết vật liệu là:
3.1. Phơng pháp thẻ song song:
Phơng pháp này thực hiện theo nguyên tắc ở kho là ghi chép về mặt số l-
ợng còn ở phòng kế toán ghi cả về số lợng và giá trị.
Trang 11
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
a. Tại kho: việc ghi chép tình hình nhập- xuất- tồn kho hàng ngày do thủ
kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lợng. Khi nhận các chứng từ
nhâp- xuất vật liệu, thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ
rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, số thực xuất vào chứng từ và thẻ kho. Cuối
ngày, tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi (hoặc phòng kế
toán xuống kho nhận) các chứng từ nhập- xuất đã đợc phân loại theo từng thứ
vật liệu trong phòng kế toán.
b. Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu để
ghi chép tình hình nhập- xuất- tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Về cơ
bản, số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu có kết cấu giống nh thẻ kho nhng có thêm
các cột để ghi chép theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Cuối tháng kế toán cộng sổ
chi tiết vật liệu và kiểm tra đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối
chiếu kiểm tra với kế toán tổng hợp số liệu kế toán chi tiết từ các sổ chi tiết vào
bảng tổng hợp nhập- xuất- tồn kho vật liệu theo từng nhóm, loại vật liệu theo
phơng pháp thẻ song song theo sơ đồ dới đây :
Sơ đồ kế toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp thẻ song song

c. Ưu, nh ợc điểm và phạm vi áp dụng :
+ Ưu điểm: Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu.
+ Nhợc điểm: Việc ghi chép giữa kho và phòng kế toán còn trùng lặp về
chỉ tiêu số lợng. Ngoài ra việc kiểm tra đối chiếu chủ yếu tiến hành vào cuối
tháng do vậy hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán.
Trang 12
Thẻ kho
Chứng từ
xuất
Chứng từ
nhập
Sổ kế toán
chi tiết
Bảng kê tổng hợp
Nhập - Xuất - Tồn
(1) (1)
(2)(2)
(3)
(4)
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Đối chiếu kiểm tra
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
+ Phạm vi áp dụng: áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có ít
chủng loại vật liệu, khối lợng các nghiệp vụ (chứng từ) nhập- xuất ít, không th-
ờng xuyên và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ kế toán còn hạn chế.
3.2. Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển
a. ở kho: Việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng đợc thực hiện trên thẻ
kho giống nh phơng pháp thẻ kho.
b.Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép
tình hình nhập- xuất- tồn kho của từng thứ vật liệu ở từng kho cho cả năm, nh-
ng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu
luân chuyển, kế toán phải lập các bảng kê nhập, xuất trên cơ sở các chứng từ
nhập, xuất định kỳ thủ kho gửi lên. Sổ đối chiếu luân chuyển cũng đợc theo dõi
cả về chỉ tiêu số lợng và chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng tiến hành kiểm tra đối chiếu
số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và số liệu kế toán tổng hợp.
Nội dung và trình tự kế toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp sổ đối
chiếu luân chuyển có thể khái quát theo sơ đồ sau:
c. Ưu, nh ợc điểm và phạm vi áp dụng :
+Ưu điểm: Khối lợng ghi chép của kế toán đợc giảm bớt do chỉ ghi một
lần vào cuối tháng.
+ Nhợc điểm: Việc ghi sổ vẫn trùng lặp giữa kho và phòng kế toán về chỉ
tiêu hiện vật, việc kiểm tra giữa kho và phòng kế toán cũng chỉ tiến hành vào
cuối tháng và hạn chế tác dụng kiểm tra.
Trang 13
Thẻ kho
Chứng từ
xuất
Chứng từ
nhập
Sổ đối chiếu luân
chuyển
(1) (1)
(2)
(3) (3)
(4)
Bảng kê
nhập
Bảng kê
xuất
(2)
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
: Đối chiếu, kiểm tra
Luận Văn Tốt nghiệp Nguyễn Thị Thu Hiền-Lớp K382104
+ Phạm vi áp dụng: áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất
không nhiều nghiệp vụ nhập- xuất, không bố trí riêng nhân viên kế toán chi
tiết vật liệu, do vậy không có điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình nhập- xuất
hàng ngày.
3.3. Phơng pháp sổ số d:
a. Tại kho: Thủ kho cũng dùng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập- xuất-
tồn kho, nhng cuối tháng phải ghi sổ để tính trên thẻ kho sang sổ số d vào cột
số lợng.
b. Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ số d theo từng kho chung cho cả
năm để ghi chép tình hình nhập- xuất. Từ các bảng kê nhập, bảng kê xuất kế
toán lập bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất rồi từ các bảng luỹ kế lập bảng tổng hợp
nhập- xuất- tồn kho theo từng nhóm, loại vật liệu theo chỉ tiêu giá trị. Cuối
tháng, khi nhận sổ số d do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số tồn cuối
tháng, do thủ kho tính ghi ở sổ số d và đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho
để ghi vào cột số tiền trên sổ số d.
Việc kiểm tra đối chiếu đợc căn cứ vào cột số tiền tồn kho trên sổ số d và
bảng kê tổng hợp nhập- xuất- tồn (cột số tiền) và số liệu kế toán tổng hợp.
Nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu theo phơng pháp sổ số d đợc
khái quát theo sơ đồ sau (trang bên).
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét